TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

Archive for the ‘Chủ quyền VN’ Category

VHS: “Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa” và bản đồ 5 gạch !

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

bản đồ 5 gạch, VH San

 

Về cuốn sách

“Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa”

Toàn thể soft-copy: http://anhduong.net/DiaLyBienDong13June07.doc

Trong khi mong mỏi Nhà Nước vẽ một bản-đồ chính-thức về chủ-quyền Biển Đông trước khi quá muộn, có thể làm mất đi phần gia-tài thiêng-liêng Cha Ông để lại (cả triệu km2 biển); chúng tôi mạo-muội đề-nghị một tấm bản-đồ giản-dị dễ nhớ gồm 5 nét gạch:

- 2 gạch phía trên cho hải-phận Hoàng-Sa.

- 3 gạch phía dưới cho hải-phận Trường-Sa.

Bản-đồ 5 gạch này là một “thí-dụ” cho mẫu vẽ mà Việt-nam cần có để dễ-dàng nói lên chủ-quyền hiển-nhiên của quốc-gia chúng ta.

Cuốn sách “Địa-Lý Biển Đông với Hoàng-Sa & Trường-Sa”

(hard-copy ấn-phí $20.00, l/l vuhuusan@yahoo.com)

được mang in lần thứ 3,

nhắc lại những lời cảnh-báo trong ấn-bản đầu tiên từ 1994, rằng VN sẽ tiếp-tục mất thêm hải-phận nếu không tuân-thủ đúng Luật Biển LHQ.

Hạn-kỳ trình Hội-đồng Luật Biển về hải-phận là năm 2009.

Như vậy chỉ còn một năm…  !!!!

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, thềm lục địa, triệu km2, vũ Hữu san | Leave a Comment »

Khả Năng Ðòi Lại Hòang Sa và Trường Sa Trên Phương Diện Pháp Lý(*)

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

LS Ðào Tăng Dực

Trên phưong diện pháp lý:

Mặc dầu hệ thống luật pháp, nhất là nền luật pháp của Tây Phương, kể cả Công Pháp Quốc Tế, rất phức tạp. Tuy nhiên nếu nhìn kỹ thì cũng chỉ có 6 yếu tố quan trọng nhất liên hệ, khi giải quyết một sự tranh chấp giữa người và người hoặc quốc gia này và quốc gia kia:

  1. Con người làm trọng tài hoặc quan tòa (mediator, arbitrator or judge)
  2. Những cơ chế pháp lý (Legal institutions)
  3. Những nguyên tắc pháp lý (legal principles)
  4. Những sự kiện liên hệ.(relevant facts)
  5. Phong thái của mỗi bên (the conduct of each party)
  6. Sức mạnh (kể cả tài chánh lẫn vũ lực) của mổi bên (relative strength of the parties)

Trong cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc, khả năng đòi lại HoàngSa và Trường Sa phần lớn lệ thuộc vào các yếu tố trên.

1. Một người hoặc nhiều người làm trọng tài hoặc quan tòa:

Những con người này trước hết, theo luật pháp Tây Phương, đều được quan niệm là những con “người biết phải chăng” (reasonable persons) Quan điểm thế  nào là  “a reasonable person” là căn bản của luật pháp tây phương. Ðịnh nghĩa của quan điểm này như sau:

“Một người biết phải chăng là một người có thể hành xử khả năng chú tâm, hiểu biết, thông minh và phán xét mà xã hội đòi hỏi nơi một thành viên của mình để từ đó bảo vệ cho quyền lợi của chính mình cũng như của tha nhân trong xã hội.”( Trích WikiAnswers)

Muốn dung hòa quyền lợi của mình và của tha nhân, để giữ quân bình trong xã hội,  một reasonable person không bao giờ cứng nhắc và quá chấp nguyên tắc.

2. Những cơ chế có thể giúp giải quyết sự tranh chấp gồm có:

Theo nhiều bình luận gia quốc tế, sự tranh chấp giữa các quốc gia trong “South China Sea” có thể được giải quyết qua các phương thức sau đây:

a. Mời một nhóm người có uy tín quốc tế (Imminent persons group) để giúp các bên hòa giải.

b. Mời một đệ tam nhân được cả hai bên tôn trọng và đồng thuận đứng ra làm trọng tài hòa giải (Third Party mediation)

c. Ðưa ra Tòa Án Công Lý Quốc Tế để xử (The International Court of Justice)

d. Ðưa ra Tổ ChứcLòng Ðại Dương Quốc Tế để thương thảo và giải quyết (The International Seabed Organization)

Thực ra, các bình luận gia nêu trên chỉ nói một cách vô thưởng vô phạt. Thực tế thì phương thức pháp lý nào nêu trên (trừ Tòa Án Công Lý Quốc Tế) cũng bất lợi cho chúng ta cả. Lý do là vì HS &TS là của chúng ta. Bây giờ có kẻ cướp vào đoạt lấy rồi lại đưa ra thương thuyết ngang hàng với chúng ta, làm sao gọi là công bằng cho được?

Tuy nhiên ngay cả Tòa Án Công Lý Quốc Tế cũng chưa chắc đã thuận lợi cho chúng ta vì phong thái hanh xử vô cùng phi lý của đảng CSVN như sẽ chứng minh sau.

Trên bình diện chính trị thì vấn đề này phải được chính phủ VIỆT NAM nêu ra trong Hội Ðồng Bảo An LHQ và trong Ðại Hội Ðồng LHQ. Tuy nhiên, CSVN không muốn làm phiền lòng quan thầy TQ. Ðồng thời mặc dù VIỆT NAM là ủy viên tạm thời của Hội Ðồng Bảo An, nhưng TQ lại là Ủy Viên thường trực với quyền phủ quyết tuyệt đối. Thế của VIỆT NAM không thể nào bằng thế của TQ.

3. Những nguyên tắc pháp lý:

Các nguyên tắc pháp lý được cô đọng trong Công Ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (The United Nations Convention on Law of the Sea). Bao gồm các nguyên tắc sau đây:

Nội thủy (internal waters): vùng biển nằm bên trong lằng thủy triều xuống thấp nhất thuộc chủ quyền tuyệt đối của quốc gia ven biển.

Lãnh hải (Territorial waters): vùng biển chạy ra 12 hải lý. Các quốc gia ven biển có chủ quyền. Tuy nhiên tàu bè quốc tế được quyền đi qua (right of innocent passage)

Vùng kinh tế đặc quyền (Exclusive economic zone): ra 200 hải lý tính từ lằng thủy triều xuống thấp nhất. Các quốc gia ven biển có quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên như đánh cá, dầu hỏa, khoáng sản v.v…

Thềm lục địa (continental shelf): Ðược định nghĩa như vùng biển 200 hải lý tính từ lằng thủy triều xuống thấp nhất, hoặc sự nối tiếp tự nhiên của thềm lục địa (nằm dưới biển) kéo dài cho đến bìa bên ngoài của thềm lục địa, cái nào dài nhất (whichever is greater), tuy nhiên không thể đi xa hơn 350 hải lý hoặc 100 hải lý ngoài 2,500 thước isobath. Các quốc gia ven biển có đặc quyền khai thác khoán sản (minerals & non-living material) từ tầng dưới (sub-soil) của thềm lục địa (continental shelf).

4. Những sự kiện liên hệ (relevant facts):

Ðịa dư & địa lý:

*Biển Nam Hải (the South Sea) còn gọi là  biển Nam Trung Quốc (The South China Sea)

*HoàngSa cách Trung Quốc khoảng 270 hải lý, cách Việt Nam 155 hải lý.

*Trường Sa cách Trung Quốc  khoảng 750 hải lý, cách Việt Nam 220 hải lý.

Lịch sử:

Từ 1816 thời Gia Long, nước VIỆT NAM đã có hải đội HoàngSa và Trường Sa.

Khi người Pháp xâm chiếm VIỆT NAM 1884 cũng đã xác nhận chủ quyền của Pháp qua chủ quyền Việt Nam (bia chủ quyền dựng năm 1938)

5. Phong thái của mỗi bên (conduct of each party)

Sau đây là phong thái và hành xử của các phe nhóm VIỆT NAM và TQ liên hệ:

Văn thư ngày 14 tháng 9 năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Ðồng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt) gởi cho Thủ Tướng Chu Ân Lai thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa và Trường Sa.

Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa (Nam Việt) trong các năm 1956-66 đã xát quyết chủ quyền của Việt Nam. Ghi chú Hoàng Sa và Trường Sa được Pháp nhượng lại cho VNCH sau hiêp định Geneve 1954, không phải nhường cho Bắc Việt.

1945 Trung Hoa xâm chiếm một số đảo thuộc HoàngSa.

1958 CSVN công nhận chủ quyền Trung Quốc tại 2 quần đảo.

1974 Hải Quân Trung Quốc đánh chiến toàn bộ HoàngSa bằng vũ lực. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa anh dũng chiến đấu. CSVN lặng thinh chấp nhận sự chiếm đóng của TQ. Chính Phủ VNCH đã mạnh mẽ chính thức phản đối trước Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên lúc đó VNCH chỉ là quan sát viên, chưa phải là thành viên của LHQ nên không có hiệu quả. Ngày hôm nay, CSVN là ủy viên không thường trực của Hội Ðồng Bảo An LHQ. Ðến nay chưa thấy CSVN xử dụng tư cách này để bảo vệ HoàngSa và Trường Sa.

1992 TQ chiếm bãi dầu khí Vạn An của Trường Sa, CSVN im lặng.

2000 Trong hiệp Ước Vịnh Bắc Việt, CSVN nhượng  Trung Quốc khỏang 21,000 cây số vuông lãnh hải.

2/12/07 TQ thanh lập thanh phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để chính thức quản trị Hoàng Sa và Trường Sa như là lãnh thổ của TQ.

Tháng 12, 2007, thanh niên Việt Nam rầm rộ biểu tình trong nước. Ðồng bào hải ngoại phản đối mạnh mẽ. CSVN im lặng chấp nhận và ngăn chận thanh niên và đồng bào phản kháng vì sợ mất lòng TQ.

6. Sức mạnh của mỗi bên (relative strength of the parties):

Trung quốc đang trên đà phát triển và xây dựng bá quyền. Việt Nam là một nước nhỏ hơn và uy thế trên trường quốc tế thua xa Trung Quốc.

Một sự thật phũ phàn là ngay cả trên bình diện công pháp quốc tế, kẻ có sức mạnh có nhiều quyền quyết định và ảnh hưởng hơn kẻ yếu. Câu nói trong thơ ngụ ngôn của Lafontaine: “la raison du plus fort est toujours la meilleure” (Cái lý của kẻ mạnh luôn luôn thắng) rất đáng lưu ý.

Kết Luận-Khả năng lấy lại:

Mặc dầu những nguyên tắc pháp lý và những sự kiện liên hệ đem lại cho chúng ta nhiều lợi điểm, tuy nhiên chúng ta vô cùng bất lợi vì những điểm sau đây:

Những người phân xử dù là những con người biết phải chăng, họ cũng chỉ là những con người bằng xương bằng thịt. Họ phải dung hòa quyền lợi và thậm chí còn phải nương theo kẻ mạnh để phân xử. Thêm vào đó, mặc dù những từ ngữ như South China Sea không có nghĩa là “cả vùng biển đó là của Trung Quốc”. Cũng như Japan Sea không có nghĩa là của Nhật Bổn, hoặc English Channel không có nghĩa là của Anh Quốc. Tuy nhiên dùng danh từ như thế có ảnh hưởng tâm lý trên con người.

Sự bất hạnh của dân tộc ta là CSVN từ thủa xa xưa đã quá sùng bái CSTQ như là một bật thầy, đã vay nợ TQ quá nhiều và bây giờ đang nương tựa TQ để bám víu độc quyền chính trị. Trong quá khứ họ đã nhân nhượng, và những chỉ dẫn bây giờ cho thấy họ chấp nhận mất chủ quyền trên lãnh thổ tổ tiên miễn là giữ được độc quyền chính trị.

Phong thái như thế của CSVN sẽ đem lại nhiều bất lợi pháp lý cho dân tộc, khi hai bên tranh tụng.

Có thể nói rằng những phản ứng của CSVN, trên phương diện pháp lý, đã đặt tổ quốc Việt Nam vào vị trí nhục nhã tương tự với một phụ nữ bị cưỡng dâm, mà không bày tỏ sự kháng cự nào. Trong trường hợp của CSVN vào thời Phạm Văn Ðồng (1958) còn bày tỏ sự đồng thuận nữa. Qua các hiệp ước sau đó về lãnh thổ và lãnh hải, lại nhường thêm đất đai và vùng biển, cũng như hợp tác thêm trên các vùng biển TQ chiếm được của dân tộc Việt Nam. Có khác nào một phụ nữ đã bị hiếp dâm, không phản kháng rồi sau đó lại hợp tác sống chung với kẻ đã cưỡng bức mình. Một nạn nhân như thế làm sao có thể yêu cầu tòa án, gồm những người “biết phải chăng” như trên, can thiệp để trả lại công lý và danh dự cho mình được?

 Ðất nước và dân tộc Việt Nam tuyệt đối không có trách nhiệm trả lại món nợ lớn lao CSVN vay mượn từ CSTQ, nhất là bằng danh dự và sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc VIỆT NAM. Nếu có phải trả thì CSVN phải tự mình trả lấy.

Dĩ nhiên hàng ngũ lãnh đạo hiện nay trong đảng rất am tường một chân lý bất di bất dịch của lịch sử. Ðó là một tập đoàn cắt đất, cắt biển để đem dâng cho ngoại bang sẽ không còn chỗ đứng tương lai trong lòng dân tộc. Tuy nhiên các lãnh tụ này sẵn sàn hủy diệt tương lai của các thế hệ trẻ của chính đảng CSVN, miễn là trong thời gian ngắn hạn trước mắt, họ có thể bám víu quyền lực và đục khoét quyền lợi cho cá nhân mà thôi. Tương lai của đảng không phải là ưu tiên của họ.

Thêm vào đó TQ có đủ sức mạnh quân sự để uy hiếp và đủ sức mạnh tài chính để mua chuộc cả đồng minh lẫn đối thủ. Chính vì thế khả năng lấy lại của dân tộc VIỆT NAM rất cam go. TQ có dư tiền  mua nguyên cả Bộ Chính Trị hoặc Trung Ương Ðảng Bộ CSVN dễ dàng.

Việt Nam cần phải lập tức tách rời TQ, xích lại gần với Hoa Kỳ và các nước Tây Phương. Xây dựng lại quân đội (nhất là Hải Quân và Không Quân) trang bị bằng vũ khí hiện đại nhất của Hoa Kỳ Vì vũ khí của Hoa Kỳ phẩm chất cao hơn của Nga Sô hoặc Trung Quốc), xây dựng một chủ thuyết quân sự mới với mục tiêu rõ rệt là chống lại ngoại thù phương Bắc. Vì có biên giới chung với kẻ thù nguy hiểm như thế, chúng ta phải suy nghĩ đến sự kiện V IỆT NAM sở hữu hàng không mẫu hạm và võ khí nguyên tử. Chỉ có một nước VIỆT NAM hùng mạnh về kinh tế, uy lực về quân sự và có nhiều đồng minh tây phương như thế, TQ mới không còn ý định xâm lấn bờ cõi VIỆT NAM.

Sydney 20 Dec 20 07

LS Ðào Tăng Dực

(*) Bài thuyết trình cuả LS Đào Tăng Dực trong buổi Hội luận Paltalk ngày 22 tháng 12 năm 2007 tại diễn đàn “MatTruongSaHoangSaPhaiLamGi”

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Luật pháp, Lãnh thổ, hải phận, biên giới | 1 Comment »

BẢN TIN SINH HOẠT PALTALK CHỦ ĐỀ: MẤT TRƯỜNG SA CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ?

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Việt Nhân


Không thể khoanh tay ngồi nhìn từng tấc đất, tấc biển của cha ông để lại lần lượt rơi vào tay kẻ thù phương Bắc và củng tạo dịp cho đồng bào trong và ngoài nước thảo luận, đóng góp ý kiến để tìm phương cách bảo vệ hữu hiệu bờ cõi do tiền nhân để lại, một số thanh niên ở hải ngoại đã tổ chức một cuộc hội thảo qua hệ thống Paltalk vào lúc 9:00 tối (giờ California, USA) ngày 22 tháng 12 năm 2007 ở phòng hội luận:

 

Mất Trường Sa Hoàng Sa Phải Làm Gì.

 

Thành phần diễn giả gồm một số nhân sĩ có uy tín ở hải ngoại như: 

  1. Ông Trương Nhân Tuấn (Pháp), tác giả tác phẩm biên khảo “Biên Giới Việt Trung” với đề tài “Hoàng Sa, Trường Sa Là Của Việt Nam .”
  2. Ông Trần Quốc Bảo (Hoa Kỳ), Chủ Tịch Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam (tức cựu Hải Quân Thiếu Tá Trần Trọng Ngà, Chủ Tịch Ủy Ban Nghiên Cứu Trận Hải Chiến Hoàng Sa) với đề tài “Tội Bán Nước Không Thể Chối Cãi Của CSVN Trong Việc Trung Quốc Lấn Chiếm Hoàng Sa-Trường Sa.”
  3. LS Đào Tăng Dực (Úc), Luật Sư Tối Cao Pháp Viện Úc Đại Lợi với đề tài “Khả Năng Đòi Lại Quần Đảo Hoàng Sa.”
  4. TS Âu Dương Thệ (Đức), Tiến Sĩ Chính Trị Học, Chủ Tịch Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam với đề tài “Chúng Ta Phải Làm Gì? “ 

Mở đầu chương trình, Ông 3Lang2003 (bí danh của người mở phòng hội luận) đã hướng dẫn mọi người thực hiện nghi lễ Chào Quốc Kỳ VNCH và Mặc Niệm. Đặc biệt lần này chúng tôi ghi nhận lời mở đầu như sau:
 

Sau đây là phút mặc niệm để tưởng nhớ những anh hùng, liệt sĩ đã có công dựng

nước và giữ nước,các chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh vì lý tưởng tự do, đặc biệt là 59 chiến sĩ Hải Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã anh dủng hy sinh trong trận hải chiến chống Trung Cộng chiếm Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974, và 70 người lính VN đã bị Trung Cộng sát hại tại Trường Sa năm 1988.”
 

Kế đến, Ông giới thiệu Giáo SưNgô Quốc Sĩ , Điều Hợp Viên của chương trình hội luận.

Phần hội luận được mở đầu với đề tài “Hoàng Sa, Trường Sa Là Của Việt Nam ” do Ông Trương Nhân Tuấn trình bày.
 

Bằng những lý luận vững chắc và có tính thuyết phục, Ông Trương Nhân Tuấn đã chứng minh từ thế kỷ thứ 17 dân tộc Việt Nam đã khám phá Hoàng Sa và Trường Sa. Việt Nam đã chiếm-hữu và hành xử chủ quyền của mình một cách liên tục tại các nơi này. Bằng những dẫn chứng xác thực từ cổ sử, Ông cho biết từ những ngày đầu trị vì, nhà Nguyễn đã thành lập công ty Hoàng Sa có nhiệm vụ đến các đảo thu nhặt hàng hóa và giao nộp hàng hóa này cho triều đình.

Nhằn phản bác lý lẽ cho rằng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Cộng, Ông cho biết chưa có bộ chính sử nào xác nhận Trung Hoa đã từng hành xử chủ quyền trên các quần đảo này. Phía Trung Cộng, nhằm ngụy biện các việc  “khám phá”, “khai-khẩn” và “thâu huê-lợi”của dân tộc Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa , đã dựa vào những tác phẩm kể lại những cuộc hành trình của người Hoa đi đến Tây Sa và Nam Sa và những hoạt động sản xuất mà họ đã thực hiện từ hơn ngàn năm. Ngoài ra, phía Trung Cộng còn ngụy tạo bằng chứng để chứng minh hai quần đảo này của họ.

 

Qua đề tài “Tội Bán Nước Không Thể Chối Cãi Của CSVN Trong Việc Trung Quốc Lấn Chiếm Hoàng Sa-Trường Sa“, Ông Trần Quốc Bảo cho biết mục đích chính của cộng sản Việt Nam là dâng biển để trả ơn cộng sản Trung Quốc khi được Trung Cộng giúp tiếp thu miền Bắc và chuẩn bị cho cuộc chiến xâm chiếm miền Nam.

Dựa vào những dẫn chứng như lời tuyên bố của Ung Văn Khiêm, Thứ Trưởng Bộ Ngoại Giao cộng sản Bắc Việt ngày 15 tháng 6 năm 1956, công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ngày 18 tháng 9 năm 1958 về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng sa và Trường Sa, bài bình luận trên báo Sài Gòn Giải Phóng tháng 5 năm 1976 v.v., Ông Trần Quốc Bảo mạnh mẽ tuyên bố “Tội Bán Nước của đảng CSVN không thể chối cãi.

Ông kết luận  “khi nào còn đảng CSVN cai trị thì Việt Nam còn hiểm họa mất thêm đất, mất thêm biển”
 

Mở đầu phần thảo luận, Ông nhấn mạnh buổi hội thảo được đặt trên căn bản lập trường của người Việt yêu nước. Ông hoan nghênh sự đóng góp ý kiến của tất cả tham dự viên, đặc biệt là những người từ trong nước.

Trả lời một câu hỏi làm cách nào để tạo sự đoàn kết,  Ông cho biết trong thời điểm hiện tại, đoàn kết là biết nhắm đến một mục tiêu chung để cùng làm việc. Đừng nghĩ đoàn kết có nghĩa là phải có một minh vương để mọi người đi theo. Theo sự ghi nhận của ông, thời gian gần đây không khí sinh hoạt ở hải ngoại đã có sự ngồi lại của một số người Việt, đoàn thể yêu nước chân chính, chấp nhận sự khác biệt nhưng sẵn sàng làm việc chung vì mục tiêu chung.

Một câu hỏi khác có liên quan đến tính chất pháp lý của công hàm 1958, Ông cho biết Đảng CSVN đã tìm đủ mọi cách để phủ nhận công hàm 1958. Riêng đối với toàn dân Việt Nam thì công hàm này không có giá trị vì đây chỉ là sự thỏa thuận giữa một tập đoàn cộng sản Việt Nam và Trung Cộng.

 

Phần thuyết trình về quốc tế công pháp qua đề tài “Khả Năng Đòi Lại Quần Đảo Hoàng Sa“, Luật Sư Đào Tăng Dực đã trình bày cùng cử tọa các yếu tố cần thiết khi giải quyết sự tranh chấp giữa người và người hoặc quốc gia này với quốc gia kia. Theo LS Đào Tăng Dực thì có tất cả 6 yếu tố quan trọng như sau:

·        Con người làm trọng tài hoặc quan tòa (mediator, arbitrator or judge)

·        Những cơ chế pháp lý (legal institution)

·        Những nguyên tắc pháp lý (legal principles)

·        Những sự kiện liên hệ (relevant facts)

·        Phong thái của mỗi bên (conduct of each party)

·        Sức mạnh (kể cả tài chánh lẫn vủ lực) của mỗi bên ( relative strength of the parties)

Bằng một giọng nhẹ nhàng, khúc chiết và chuyên nghiệp, Luật Sư Đào Tăng Dực đã đưa cử tọa qua từng điểm trong tiến trình giải quyết sự kiện Hoàng Sa-Trường Sa bằng pháp lý. Tuy nhiên, Ông cho biết mặc dầu những nguyên tắc pháp lý và những sự kiện liên hệ đem lại cho chúng ta nhiều lợi điểm, nhưng chúng ta vô cùng bất lợi vì những điểm sau đây:

·        Những người phân xử phải dung hòa quyền lợi và thậm chí nương theo kẻ mạnh để phân xử.

·        CSVN đã quá sùng bái CS Trung Quốc, vay nhiều nợ trong chiến tranh và bây giờ đang nương tựa vào CSTQ để bám víu độc quyền chính trị. CSVN thà mất đất hơn là mất độc quyền chính trị.

Ông ví von trường hợp của CSVN giống như một phụ nữ bị cưỡng dâm mà không bày tỏ sự kháng cự nào. Trái lại, sau đó lại hợp tác sống chung với kẻ cưỡng bức mình. Một nạn nhân như thế thì làm sao có thể yêu cầu tòa án can thiệp để trả lại công lý và danh dự cho mình được.

Ông củng tuyên bố “Đất nước và dân tộc Việt Nam tuyệt đối không có trách nhiệm trả lại món nợ lớn lao CSVN vay mượn từ CSTQ, nhất là  bằng danh dự và sự vẹn toàn lãnh thổ của tổ quốc VIỆT NAM. Nếu có phải trả thì CSVN phải tự trả lấy.

Theo Ông, Việt Nam cần phải lập tức tách rời TQ, xích lại gần Hoa Kỳ và các nước Tây Phương, xây dựng lại quân đội, đặc biệt là Hải Quân và Không Quân và quan trọng hơn hết là xây dựng một chủ thuyết quân sự mới với mục tiêu rõ rệt là chống lại ngoại thù phương Bắc.

Ông kết luận chỉ có một Việt Nam hùng mạnh về kinh tế, quân sự và đồng minh Tây phương thì như thế TQ mới không còn ý định xâm lấn bờ cõi Việt Nam.

 

Kết thúc phần thuyết trình là đề tài “Chúng Ta Phải Làm Gì? ” do Tiến Sĩ Âu Dương Thệ phụ trách. Mở đầu phần thuyết trình, Tiến Sĩ lượt qua những cuộc biểu tình trong nước do thanh niên sinh viên khởi xướng ở Hà Nội và Sài Gòn. Mỉa mai thay, người cầm đầu chế độ toàn trị ở Việt Nam, Ông Nông Đức Mạnh, theo ”yêu cầu” của quan thầy Trung Cộng lại ra lệnh đàn áp nghiêm cấm người dân không được biểu tình.

Theo TS Thệ thì “Ở đây rõ ràng là, kẻ xâm lấn (Trung Cộng) đã ra lệnh cho kẻ thừa hành (CSVN) là phải bằng mọi cách bắt dân mình câm miệng!

Ông mạnh mẽ tố cáo nhóm cầm đầu chế độ toàn trị đã không thể bảo toàn lãnh thổ và củng không bảo vệ được mạng sống của người dân, dù Hiến Pháp của nhà cầm quyền CSVN đã ghi rõ ràng : Điều 13 Hiến Pháp 1992 “Tổ quốc Việt Nam là thiêng liêng, bất khả xâm phạm ” và điều 112, nhiệm vụ của chính phủ là “Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Theo nhận xét của Ông, vì độc quyền lãnh đạo nên chế độ CSVN ngày càng bị cô lập đối với đại đa số nhân dân và vì thế họ càng ngày càng lệ thuộc vào Bắc Kinh để giữ vững ngôi vị độc tài toàn trị.

Ông tuyên bố “Muốn giải nguy đất nước thì phải giải tỏa những gì đang làm cản trở lòng yêu nước và ý chí đấu tranh của nhân dân trong và ngoài nước. ” Một trong những chướng ngại vật đó là điều 4 Hiến Pháp 1992 đã chủ trương độc quyền yêu nước vào tay của một nhóm nhỏ. Sự tồn tại của điều 4 là một hành động ngang ngược đối với toàn thể dân tộc Việt Nam. Vì thế, bỏ điều 4 sẽ tạo ra một sinh khí mới, một thời đại mới vinh quang cho dân tộc. Bỏ điều 4 sẽ làm cho mọi tài năng và ý chí được hội tụ và kết hợp với nhau trong sứ mạnh bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nước.

Trước hiểm họa xâm lấn của TQ và thái độ nhu nhược của CSVN, TS Thệ đề nghị toàn dân trong và ngoài nước cần quyết tâm tranh đấu và tập trung vào các đòi hỏi cấp thiết như:

·        Chấm dứt bưng bít thông tin trong nước.

·        Truyền thông báo chi được tự do săn tin, viết tin và phổ biến tin tức.

·        Nhà cầm quyền CSVN phải thông tin đầy đủ và rộng rãi trước dư luận thế giới về những sách xâm lấn của Trung Cộng đối với Việt Nam.

·        Xử dụng tư cách là Hội Viên trong HĐBA/LHQ , tố cáo quyết định của bắc Kinh thành lập thành phố Tam Sa, trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

·        Phải để cho dân chúng được công khai biểu lộ tinh thần yêu nước trước hành động xâm lấn của TC.

·        Để cho mọi thành phần dân tộc, bất kể khuynh hướng chính trị được tự do và bình đẳng tham gia vào việc bảo vệ lãnh thổ và xây dựng đất nước.

·        Phải hủy bỏ tức khắc và vô điều kiện Điều 4 của HP 1992.

 

Mở đầu phần quan khách phát biểu cảm tưởng, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ từ Tân Tây Lan đã kêu gọi toàn dân đoàn kết để chống hai hiểm họa: Quốc tặc CSVN và CSTQ. Kế đến, Ông Trần Ngọc Thành, Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Động Việt Nam ngỏ lời khen ngợi và cảm phục lòng dủng cảm qua hành động thể hiện lòng yêu nước của các thanh niên sinh viên VN trong nước. Ông củng đề nghị các thanh niên sinh viên nên chuyển thông tin thiết thực đến giới công nhân để họ cùng góp tay ngăn chận hiểm họa mất nước.

Một tham dự viên khác từ Việt Nam, nhà văn Du Lam đề nghị nên vận động tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp dân chúng, đừng nên phân biệt trong lúc nhà cầm quyền CSVN nhu nhược trước TC. Ông củng cho biết thêm năm 2009 Liên Hiệp Quốc sẽ chấm dứt vấn đề biển Đông. Vì vậy, theo Ông, chúng ta cần thống nhất lòng người trước và sau đó cần lên tiếng trước quốc tế, bằng một văn bản, về vấn đề Hoàng Sa-Trường Sa.

Càng về khuya, chương trình hội thảo càng thêm phần sôi nổi với sự đóng góp ý kiến của các tham dự viên trẻ tuổi nhưng có nhiều ưu tư với đất nước như Hon Nhien, Cokho, Vanlang76. Anhhaiduc v.v. Những câu trả lời của các thuyết trình viên đã làm sáng tỏ nhiều gút mắc và làm nổi bật hơn bao giờ hết hành động bán nước của CSVN.

Chương trình được chấm dứt khoảng 12 giờ khuya cùng ngày./.

http://www.projecthopeforasia.org/saigononline3.htm

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, quan điểm | Leave a Comment »

XÂU XÉ BIỂN ÐÔNG

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Cuối năm 2007, Quốc vụ viện Trung quốc tuyên bố, lấy đảo Hoàng  Sa và Trường Sa, thành lập chung vào huyện Tam Sa, thuộc vào đảo Hải Nam. Người Việt trong cũng như ngoài nước đều bức xúc, khi nghe tin này. Người viết tham khảo những sách báo về Hoàng Sa và Trường Sa (đã tham khảo nhiều sách báo cho bài viết này, mong mỏi những sách báo được tham khảo  cảm thông), để tìm hiểu chi tiết về biển Đông. Sau đây, một vài định nghĩa về luật biển, để bổ túc cho bài viết này hiểu dễ dàng hơn:

- Lãnh hải (Territorial Waters): Vùng biển ven bờ biển, thuộc chủ quyền của các quốc gia miền duyên hải, được Quốc tế quy định không quá 12 hải lý chiều rộng.

- Vùng đặc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zone): là một khu vực đặc biệt, chỉ dành riêng cho quốc gia được hưởng quyền lợi kinh tế nơi ấy, mà người khác không được. Vùng đặc quyền kinh tế, được Quốc tế quy định 200 hải lý.

- Đường cơ sở (Baselines): Đường quy định dọc theo bờ biển các nước, từ đó tính chiều rộng lãnh hải, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế.

- Hải lý (Nautical Mile): Đơn vị đo chiều dài trên mặt biển, 1 Hải lý bằng 1,852km.

I – Vị Trí của Hoàng  và Sa Trường Sa

      Vùng hải đảo Hoàng Sa có có nhiều đảo, trong đó có 2 nhóm đảo quan trọng.

1- Nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent) các đảo quan trọng của nhóm này là:

a – Hoàng Sa (Pattel) có diện tích 0.56 km2 nơi đây có hải đăng và khi xưa có 1 Trung đội của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa đóng ở đó.

b – Đảo Cam Tuyền (Robert) diện tích 0.32km2  là đảo san hô, có cây cối thấp.

c – Đảo Duy Mộng ( Drummond) diện tích 0.41km2 . Trước năm 1963 có Thủy quân Lục chiến của QLVNCH trú đóng ở đây…..

 2- Nhóm đảo Tuyên Đức (Amphitrite), các đảo quan trọng của nhóm này là:

a – Đảo Phú Lâm (Woody Island) có diện tích 1.32km2

b – Và nhiều đảo khác, nhỏ hơn như: Đảo Cây, Đảo Nam, Đảo Bắc….

Các đảo Hoàng Sa ở vào vĩ tuyến 17005’ – 15045’ Bắc, ở phía đông của tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

      Đảo Trường Sa có khoảng trên 500 đảo, nằm rải rác từ Việt Nam đến Phi Luật Tân, trong đó có 9 đảo tương đối lớn. Đảo lớn nhất là Trường Sa (Spartley) có diện tích 0.175km2, ở đảo này có nhiều chim trú ngụ, có nhiều cây, có những cây dừa có trái. Trong số trên 500 đảo ấy, có vô số cồn, đá, bãi và bãi ngầm. Đảo Trường Sa ở vào vĩ tuyến 17000’ – 15000’ Bắc, dọc theo bờ biển từ tỉnh Khánh Hoà đến Cà Mau.

 II – Công ước Quốc tế về Luật Biển (Law of Sea Convention)

       Để minh định rõ ràng cho những nước ở vùng duyên hải. Vào năm 1982, có 119 quốc gia hội họp, trong đó có Trung quốc và Việt Nam, đã đồng ý ký kết về Luật Biển. Luật Biển quy định, các quốc gia duyên hải, vùng đặc quyền kinh tế, chỉ được hưởng quy chế  200 hải lý.

      Sau khi Đại diện của Trung quốc, ký xong Công ước Quốc tế về luật biển, chính quyền Trung quốc, xem xét kỹ càng lại về đảo Hoàng Sa và Trường Sa, thì thấy rằng: Đảo Hoàng Sa cách bờ biển của Trung quốc 270 hải lý, cách bờ biển Việt Nam 155 hải lý. Đảo Trường Sa cách bờ biển của Trung quốc 750 hải lý, cách bờ biển Việt Nam 190 hải lý.

     Chính quyền Trung quốc mới bật ngửa. Nhưng bản chất tham lam đất đai, biển cả, xâm chiếm các nước láng giềng, đã có từ trong máu ông cha của họ di truyền cho cháu chắt. Trung quốc đã nhiều lần xâm lăng Việt Nam (Nhà Hán bị Trưng Vương đánh đuổi, nhà Tống bị Lý Thường Kiệt trừng trị, nhà Minh bị Lê Lợi bình định….). Nước Cao Ly (Korea) bị nhà Đường đem quân xâm lăng (Tiết Nhơn Quí chinh đông), hay bây giờ là Tây Tạng (Tibet) bị khó khăn bởi Trung cộng.

     Chính quyền Trung quốc, vội vã bám víu vào lá thư của ông Phạm Văn Đồng là Thủ tướng của miền Bắc Việt Nam, ký gởi cho Thủ tướng Chu Ân Lai, của nước Cộng sản anh em thâm hiểm là Trung quốc, vào ngày 14 tháng 9 năm 1958, ông Đồng đã vô liêm sĩ và thiếu tỉnh táo xác nhận: Đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đảo của Trung quốc. Nhưng chính quyền Trung quốc còn ngại ngần, nghĩ rằng: Vào năm 1958 đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Miền Nam Việt Nam), nên ông Đồng kể cả ông Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước lúc bấy giờ có ký, cũng không đủ yếu tố pháp lý. Cộng sản Hà Nội còn dâng cho Trung quốc: Khoảng 700km2 lãnh thổ ngày 30 – 12- 1999. Khoảng 10.000km2 lãnh hải ngày 25 -12 – 2000, đều thiếu yếu tố pháp lý. Vì mọi sự cắt nhượng đất đai hay lãnh hải của quốc gia, phải được sự đồng ý của nhân dân hoặc lưỡng viện Quốc hội là cơ quan Lập pháp và đại diện cho dân. Chính quyền Trung quốc bị hoang mang, nên lật đật tập hợp khỏang 400 người: Học giả, sử gia, nhà văn, nhà báo…

     Để dàn dựng viết lại biển lịch sử (Historic waters). Họ kéo tổ tiên của họ từ đời Hán Vũ Đế, bịa chuyện xa xưa đã đưa 100 ngàn Hải quân Trung quốc đi tuần thám, đã khám phá ra đảo Hải Nam, rồi nào là đời nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh, nhà Thanh đã thăm dò, du ngoạn biển Đông. Rồi ngày 14 – 3 – 1988 Hải quân Trung quốc đánh chiếm Trường Sa, 74 chiến sĩ của Quân đội Nhân dân bị tử thương. Ngày 8 -1 – 2005 Hải quânTrung quốc, bắn vào tàu đánh cá ngư dân Thanh Hóa giết chết 9 người, bắt sống 8 người. Ngày 10 – 8 – 2007 Trung quốc mở  tour du lịch ở hai đảo Hoàng Sa và Trường Sa….tùm lum tà la, nhập nhằng để cưỡng đoạt Hoàng Sa và Trường Sa. Và đã áp đảo, chính quyền Cộng sản Hà Nội ký kết vùng đánh cá ( Fishery zone) chung, để đục nước béo cò.

    Biển lịch sử Tàu có cái gọi là Lưỡi rồng Trung quốc, tới sát bờ biển Việt Nam, cách Quảng Ngãi 40 hải lý. Cách Natuna của Nam Dương 30 hải lý. Cách Palauvan của Phi Luật Tân 25 hải lý. Với sự tráo trở này, nó chiếm trọn 3 túi dầu khí: Tứ Chính (Vanguard) của Việt Nam, Natuna của Nam Dương và Red Bank của Phi Luật Tân

 III – Hoàng Sa và Trường Sa trong quá khứ

 - Lê Quý Đôn viết trong “Phủ biên tạp lục” vào năm 1776, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Đại Việt từ thời nhà Lê, người Việt đã đến định cư tại Phủ Tư Nghĩa thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

 - Người Pháp ông Chaigneau (1769 – 1825) viết cuốn “Memoire sur la Cochinchina” và Đức giám mục Taberd viết cuốn “Univers Histoire et de la Cochinchina” đã ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

 - Năm 1816 vua Gia Long cho cắm cờ, xác nhận chủ quyền trên đảo Hoàng Sa.

 - Năm 1920 vua Minh Mệnh cho quân ra Hoàng Sa vẽ bản đồ và nghiên cứu hải trình. 

 - Năm 1956 Hải quân Việt Nam Cộng hòa, bắt đầu thay thế quân đội Pháp, tuần du trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tiểu đoàn 1 TQLC của Việt Nam đóng trên đảo Hoàng Sa

 - Ngày 29 – 1 – 1959, Tổng thống VNCH là Ngô Đình Diệm, cho ban hành sắc lệnh số 34/NV sát nhập Hoàng sa vào tỉnh Quảng Nam.

 - Ngày 21 – 10 – 1969, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, ban hành sắc lệnh số 709/BNV, sát nhập Trường Sa vào tỉnh Phước Tuy.

 - Ngày 19 – 1 – 1974, Hải quân Trung quốc đánh chiếm Hoàng Sa, quân đội Việt Nam Cộng Hoà đã chống cự quyết liệt, 58 quân nhân Việt Nam hy sinh. Trung quốc chiếm đảo Hoàng Sa. Cộng sản Hà Nội im lặng.

 - Sự kết hợp thiên nhiên: Từ dãy Trường Sơn đến bờ biển Việt Nam, có núi đồi thoai thoải, thấp dần chạy ra biển khơi, tạo ra những hòn đảo như: Cù Lao Chàm ở Quảng Nam, đảo Lý Sơn ở Quảng Ngãi… Điều này phù hợp với sự nghiên cứu của Tiến sĩ khoa học A. Krempf là Giám đốc Viện Hải học Đông Dương, vào năm 1925 ông quan sát, đo đạt trong 2 năm rồi ông phúc trình “Về mặt địa chất, những đảo Hoàng Sa là của Việt Nam” (Géologiquement les Paracels font partie du Vietnam).

 - Về độ sâu: Hoàng Sa sâu 900m và Trường Sa sâu 200 – 400m là độ sâu của thềm lục địa Việt Nam. Ngược lại Hoàng Sa và Trường Sa đến bờ biển Trung quốc có 2 rãnh biển sâu 2300m và 4600m.

IV -  Ngẫm nghĩ về lịch sử và hiện tại:

- Đời Triệu Ai Vương (113 TCN), Sứ của nhà Hán là An Quốc Thiếu Quý, tình nhân cũ của Cù Thị (mẹ Ai Vương) dụ đem Nam Việt dâng cho nhà Hán. Tể tướng Lữ Gia và quần thần biết được, giết Thiếu Quý, Ai Vương và Cù Thị, rồi tôn Kiến Đức là con của Minh Vương lên làm vua, lấy đế hiệu Triệu Dương Vương.

- Năm 938, Kiều Công Tiễn giết chết Dương Diên Nghệ. rồi thần phục Nam Hán, vua Nam Hán là Lưu Cung và cùng con là  Hoằng Thao, đem quân ào ạt qua xâm lăng nước ta. Dương Cát Lợi báo hung tin cho Ngô Quyền. Ngô Quyền nói:

                           “Thù trong ngỗ nghịch không tha

                       Giặc ngoài đánh đuổi, nước nhà mới yên”

Ngô Quyền đem quân đến Đại La. giết chết Kiều Công Tiễn, rồi lo đánh đuổi giặc. Ngày nay có những tên Thiếu Quý trong chính quyền Cộng sản Hà Nội không?! Ngày nay có ai là Lữ Gia, là Ngô Quyền, để đủ sức trừ “thù trong giặc ngoài” không? Có lẽ đủ điều kiện ấy là: Quân đội Nhân dân với toàn dân Việt nam.

-  Nhà Trần chống Quân Nguyên:

  1- Công chúa Trần An Tư: Vào đầu năm Ất dậu (1285). Quân Nguyên vây hãm Thăng Long, để hoà hoãn có thời giang chỉnh đốn quân lực. Nhà Trần phải đem Công chúa An Tư trao cho Thoát Hoan, Trung hiếu hầu Trần Dương lo việc thương thuyết cầu hoà. Công chúa còn trẻ, duyên dáng, hy sinh cá nhân để giang sơn tồn tại. Đến tháng tư quân nhà Trần bắt đầu phản công, quân Nguyên hoàn toàn thất bại.

                        “Dùng dằng giã biệt dạ phân vân

                        Hòa hoãn việc quân, há lữa lần

                        Nhẫn nhục má hồng, trao tướng giặc

                        Đớn đau mệnh bạc, biệt người thân”

 2.- Tướng Trần Bình Trọng đem quân ngăn giặc ở Thiên Trường, để Hưng Đạo Vương phò vua đến Hải Dương, ông và các chiến sĩ của ông, chiến đấu dũng cảm, đã làm tròn nhiệm vụ giao phó, nhưng quân số ít oi. Kẻ thì hy sinh tại chiến trường, người thì bị bắt, ông Trần Bình Trọng vẫn khẳng khái không đầu hàng.

                      “Ngăn giặc, để vua đến Hải Dương

                      Hiên ngang, bị bắt giữa sa trường

                      Khinh khi lời dụ, cho vàng bạc

                      Giận giữ tiếng khuyên, nhận tước vương”

 3.- Trần Quang Khải là con của Trần Thái Tông, chức Chiêu Minh Vương, quan văn là Thái sư, quan võ là Thượng tướng, vậy mà khi nước nhà bị nguy biến, vẫn nai nịt ra chiến trường và dẫn quân xông xáo nơi trận mạc, tuân hành quân lệnh của Tiết chế Trần Quốc Tuấn.

                 “Nước nhà điêu đứng, dẫu thân vương

                 Nai nịt hẳn hoi, đến chiến trường

                 Lẫm liệt xả thân, lo non nước

                 Lẫy lừng giải phóng, giữ Chương Dương”

      4.- Trần Khánh Dư là vương gia của nhà Trần, chức Nhân Huệ Vương, ông có công kháng Nguyên xâm lược lần thứ nhất, vậy mà khi có tội vẫn bị phạt phải đi đốt than kiếm sống như thường dân. Hưng Đạo Vương biết ông là vị tướng tài, nên xin vua cho ông phục chức để cùng đánh Nguyên.

                        “Khánh Dư hoàng tộc của nhà Trần

                        Thưởng phạt thẳng thừng, chẳng đặc ân

                        Bị  tội  đốt  than, dù  quốc  thích

                        Lập công ra trận, dẫu hoàng thân”

       5.-  Phạm Ngũ Lão lúc còn hàn vi thường ngồi đan sọt, ở ven đường, để bán sinh sống. Chuyện kể: một hôm có một vị quan lớn đi ngang qua, quân lính dọn đường gọi ông tránh, nhưng ông mải mê suy nghĩ nơi chiến trường, làm sao quân ta đánh tan quân Nguyên hung hãn, nên quên đi ngoại cảnh, ông bị lính đâm thủng đùi mà không hay. Sau khi ông được làm tướng nhà Trần, ông đã thể hiện cái tâm ái quốc ấy, ông cùng Trần Quang Khải đánh đuổi quân Nguyên tan tác ở bến Chương Dương, rồi phá giặc ở Vạn Kiếp.

                        “Đan  sọt,  nước  non  tâm  vấn  vương          

                        Ðánh Nguyên tan tác, bến Chương Dương”

          6.- Trần Quốc Toản là tôn thất của nhà Trần, con Hưng Đạo Vương. Năm 1282 triều Trần biết nhà Nguyên sửa soạn đem đại quân, xâm lược nước ta lần thứ hai, vua Trần mở hội nghị Bình Than để bàn bạc sách lược chống giặc. Trần Quốc Toản lúc ấy 16 tuổi đến xin vào họp, nhưng không được, vì tuổi còn quá trẻ; ông thẹn và giận, quả cam đang cầm trong tay bóp nát không hay.

       Ông về nhà may cờ thêu 6 chữ “Phá cường địch, báo Hoàng ân”, rồi tập họp gia đinh, thân thuộc và lính giữ nhà, trang bị gươm giáo dẫn ra trận. Ông ra trận luôn luôn xông xáo đi đầu, dũng cảm can trường, nên quân Nguyên bị ông đánh đuổi tơi tả nhiều lần. Ông cùng Trần Nhật Duật, Nguyễn Khoái đánh bại Toa Đô ở bến Hàm Tử, rồi cùng Trần Quang Khải, Phạm Ngũ Lão đánh đuổi Thoát Hoan ở bến Chương Dương, quân Nguyên bị đại bại. Ông làm vẻ vang cho thiếu niên Việt Nam. Dân gian ca tụng:

                       “ Anh hùng Quốc Toản thiếu niên

                    Giúp vua đánh đuổi giặc Nguyên kinh hồn”

 7.- Ngày 21 tháng chạp, Giáp thân (1284), ở Hồ Quảng, Thái tử Thoát Hoan thống lãnh 50 vạn quân Nguyên, chia làm 2 đạo: Lý Hằng, Ô Mã Nhi đốc suất bộ binh. Toa Đô đem thủy quân, đến hướng Chiêm Thành để đổ bộ đánh vào Thanh Hóa. Khẩn cấp, cũng tháng chạp năm 1284, vua Trần triệu các bô lão và quần thần tới điện Diên Hồng hỏi han ý kiến, các bô lão và nhiều tướng sĩ đồng thanh quyết chiến. Mở tiếp hội nghị Vạn Kiếp, bàn bạc chiến lược chống giặc và kiểm điểm binh sĩ, tất cả được 20 vạn, kể cả quân ở các lộ: Bàng Hà, Na Sầm, chưa tuyển mộ quân ở Thanh, Nghệ, có lẽ nhà Trần nghĩ quân cốt tinh nhuệ, không cần đông đảo.

      Giặc tấn công tới tấp, Thái thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông phải rời khỏi Thăng Long. Tháng 2 năm 1285 thế giặc mạnh, các đại thần: Trần Kiện, Lê Tắc, Trần Tú Viên, Trần Văn Lộng nhục nhã đầu hàng giặc. Tháng 5 năm 1285 quân ta phản công mạnh mẽ, bắn chết Toa Đô, tướng Tàu là Lý Quán, dấu Thóat Hoan vào một ống đồng kéo chạy về Tàu.

                     “Diên Hồng hội họp, không nhân nhượng

                     Xâm lược hãi hùng, hết nhiễu nhương”

 8.- Trần Quốc Tuấn văn võ song toàn, ông là con của An Sinh vương Trần Liễu. Vua Trần phong ông chức Tiết Chế (như Nguyên soái), tước Hưng Đạo Vương. Trần Thủ Độ bắt vợ của Trần Liễu đem gả cho Trần Thái Tông, nên Trần Liễu dặn con là Trần Quốc Tuấn sau này phải giết vua để trả thù nhà, nhưng Vương đặt quyền lợi quốc gia, trên quyền lợi gia đình.

                    “Gia cừu, nhường nhịn, lo non nước

                    Quốc loạn đắn đo, giữ thổ cương”

    Năm 1284, quân Nguyên sắp sửa xâm lăng nước ta lần thứ 2, thế giặc mạnh quá vua than: “Trẫm muốn hàng để tránh đao binh cho muôn dân bá tánh”. Vương thưa: “nếu bệ hạ muốn hàng, xin chém đầu thần trước đã”. Nhờ vậy mọi người đều hăng hái đánh giặc. Năm 1288 quân Mông Cổ xâm lược nước ta lần thứ 3, trên bờ Vương cho phục binh, lăn đá gỗ chặn đường, dùng tên bắn giặc chết, thây nằm ngổn ngang. Dưới sông Bạch Đằng, Vương cho đóng cọc, khi thủy triều lên đem quân khiêu chiến, thủy triều xuống phản công tới tấp, giặc chết vô số. Vương truyền “Hịch tướng sĩ ” lời lẽ hào hùng, thống thiết, khi nghe xong, ai cũng nức lòng đánh giặc.

                     “Trên bộ bắn tên, Nguyên mạc lộ

                     Dưới sông đóng cọc, giặc cùng đường

                     Bạch Đằng hiển hách, tan hồn giặc

                     Vạn Kiếp ngạt ngào, tỏa khói hương”

      Nước Đại Việt chiến thắng quân Nguyên, là vì từ vua đến dân đều tận tâm, tận sức.

Dân như Phạm Ngũ Lão khi còn cơ cực, trong lúc đang làm lụng vẫn đắn đo nơi chiến trường; vua thì mở hội nghị bàn bạc với dân nên hòa hay chiến, Tướng như Trần Bình Trọng, Nguyễn Khoái… và binh sĩ lúc bấy giờ, thì can trường chống chọi xâm lăng, sẵn sàng tử chiến. Thái sư Trần Quang Khải, vẫn nai nịt ra trận, Công chúa An Tư đem thân ngọc ngà trao cho Tướng giặc, để hoà hoãn cho quân ta chỉnh đốn quân ngũ, còn có thể cung cấp tin tức của địch cho ta. Thiếu niên 16 tuổi như Trần Quốc Toản thì tự nguyện xông xáo chiến trường. Luật pháp nghiêm minh, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư khi có tội vẫn bị phạt như thường dân. Trần Quốc Tuấn dẹp bỏ thù nhà, dốc lòng lo lắng quê hương. Một đất nước mà tất cả quân dân một lòng, vua tôi hoà thuận, luật pháp nghiêm minh, lại được một nhân tài lỗi lạc là Đức Trần Hưng Đạo điều quân khiển tướng, thì quân Nguyên mạnh mẽ đến mấy, hung hãn đến đâu, cũng bị đánh đuổi tả tơi, thì làm sao Việt Nam không chiến thắng vẻ vang.

      Thanh thiếu niên Việt Nam bây giờ, nung nấu tấm gương oanh liệt của Trần Quốc Toản, những tấm lòng nhiệt huyết của Sinh viên, biểu tình tại Sài Gòn và Hà Nội ngày 9- 12 – 2007 và ngày 16 – 12- 2007. Là ngọn lửa hào hùng, lại bị Công an đàn áp. Vì sao?!

      Quân đội được gọi “Khó khăn nào cũng vượt  qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thì im hơi lặng tiếng. Chính quyền thì lo bắt bớ những người đấu tranh dân chủ, lo bòn rút của cải nhân dân, tẩu tán tài sản quốc gia, củng cố địa vị, thì làm sao giữ gìn toàn vẹn giang sơn.    

 - Năm 1527, Mạc Đăng Dung bắt Vua Lê,viết chiếu nhương ngôi. Đầu năm 1541, biết nhà Minh lăm le xâm lăng nước ta, lấy kế phạt tội họ Mạc soán ngôi nhà Lê, Mạc Đăng Dung tự trói mình trước phủ của quân Minh ở trấn Nam Quan, nhục nhã nạp dâng vàng bạc và 6 động: Tế Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liêu Cát, An Lương và La Phu cho nhà Minh. Ông lo lắng và thẹn thùng trước sự dâng hiến đất đai nhục nhã này, nên buồn bực bị bệnh mất vào năm ấy.

                         “Hí hửng lên ngai, người bội bạc

                         Nhuốc nhơ dâng đất, kẻ toi đòi”

      Mạc Đăng Dung dâng đất cho ngoại bang bị nhân dân nguyền rủa, khinh khi, nhưng ông ta còn biết thẹn thùng, sau khi dâng đất cho nhà Minh, về nhà, ngẫm nghĩ thấy xấu hổ, nên lâm bệnh mà chết. Ngược lại ông Phạm Văn Đồng, ông Hồ Chí Minh và các ông Trung ương đảng Cộng sản Việt Nam hiện  nay, cũng dâng đất cho ngoại bang, nhưng không biết xấu hổ, vẫn hí hửng phè phỡn sống. Vì sao?!!!

V – Khẩn khỏan đề nghị:

1.- Chính phủ Việt Nam, cũng như các Tổ chức đấu tranh, trình bày cho Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc về việc Trung quốc lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa, gây ra xung đột, có thể bị Trung quốc phủ quyết, nhưng đấy là một bằng chứng.

2.- Việt Nam hợp tác chặt chẽ hơn với các nước: Hoa Kỳ ( Mỹ lo ngại sự bành trướng cuả Trung cộng), Nhật Bản (Nhật bản và Trung quốc có nhiều sự bất hoà), Ấn Độ (Ấn Độ và Trung quốc rắc rối về biên giới giữa hai nước và gần đây công ty dầu khí Ắn Độ ONGC Videsh cũng không hài lòng với Trung quốc). Khi liên hiệp với các cường quốc này rồi, thì Việt Nam bớt lo lắng thân phận nhược tiểu của mình.

3 – Việt Nam liên minh với các nước đang bị Trung quốc lấn chiếm Trường Sa là

Malasia, Philipines, Indonesia… lập ra cơ chế để giải quyết ranh giới biển Đông  nơi Trường Sa được công bình và hợp lý, cho mỗi quốc gia liên hệ.

4.- Yêu cầu Cộng sản Hà Nội, công bố các văn kiện về việc dâng đất và biển cho Trung quốc, kể cả những hiệp định đã biết và chưa biết.

5.- Đồng bào  trong và ngoài nước Việt Nam, không mua hàng hóa sản xuất từ Trung quốc, để chứng tỏ đồng bào Việt Nam phản đối Trung quốc khắp nơi.

6.- Đồng bào trong và ngoài nước liên tục biểu tình, đòi trả lại đất đai và các hải đảo, biển khơi của Việt Nam mà Trung quốc đã cưỡng chiếm.

7.- Hiện nay có khoảng 6.000 Sinh viên Việt Nam đang du học tại Mỹ, chúng ta là người Việt hải ngoại, hãy xem những Sinh viên ấy là ruột rà, đáng được thân thiện, mặc dù cha mẹ của họ là các cán bộ Cộng sản Việt Nam đáng trách. Nhưng các em đâu có lỗi lầm gì, vì sao chúng ta không gần gũi, phân trần cái tai hại, lỗi thời của chế độ Cộng sản và nắm tay anh em Sinh viên ấy, cùng chống kẻ thù Phương Bắc, đã, đang và sẽ xâm lấn hay xâm lượt non nước Việt Nam.

 Bất bình mà viết, cuối năm 2007

 Nguyễn Lộc Yên

http://thongtin.brinkster.net/diendan/xauxebiendong.htm

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới | Leave a Comment »

Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

— 

Chủ quyền trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa

Thử phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc*

 

Từ Đặng Minh Thu[1]

 

      Nhắc đến Biển Đông, không ai không nghĩ đến hai cái tên rất đẹp Hoàng Sa và Trường Sa. Tiếc thay hai cái tên đó lại gắn liền với những gì đi ngược với thiện, mỹ, hoà, vì hai quần đảo xa xôi này đã và đang là đối tượng của một cuộc tranh chấp sôi nổi giữa các quốc gia và lãnh thổ trong vùng. Cuộc tranh chấp đã kéo dài gần một thế kỷ nhưng đến nay vẫn chưa giải quyết được, và ngày càng trầm trọng hơn, đang là mối đe doạ cho hoà bình ở vùng Đông Nam Á.

     Khi thì bùng nổ, khi thì lắng dịu, cuộc tranh chấp này mang mọi hình thức đấu tranh, từ đấu tranh chính trị, ngoại giao đến đấu tranh vũ lực. Các quốc gia tranh chấp cũng thay đổi tuỳ theo thời cuộc. Lúc đầu chỉ có Pháp và Trung Hoa, tiếp sau đó, Nhật Bản và Philippin cũng nhảy vào đòi quyền lợi. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản bại trận rút lui khỏi cuộc tranh chấp, Pháp rời Đông Dương, Trung Hoa thay đổi chính quyền, thì các quốc gia và vùng lãnh thổ tranh chấp gồm Việt Nam Cộng hoà, Trung Quốc, Đài Loan và Philippin. Sau khi Việt Nam thống nhất thì cuộc tranh chấp tiếp diễn giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và ba quốc gia và vùng lãnh thổ kia. Ngày nay, từ khi “Luật Biển mới” ra đời, tầm quan trọng của 2 quần đảo tăng thêm, thì số quốc gia tranh chấp cũng tăng theo. Malaixia và Brunây cũng đòi quyền lợi trên quần đảo Trường Sa. Với Công ước Luật Biển mới, quốc gia nào nắm những quần đảo này không những được hưởng lãnh hải quanh đảo mà cả vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa quanh quần đảo. Tuy nhiên, vấn đề phân chia lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa các quốc gia chưa thực hiện được khi chưa biết hai quần đảo này thuộc về ai. Vì vậy, vấn đề xác định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng quan trọng.

     Bài viết này sẽ phân tích một số lý lẽ chính mà Việt Nam và Trung Quốc đưa ra để khẳng định chủ quyền của mình, vì đây là hai quốc gia chính trong cuộc tranh chấp.

 

I.    DIỄN BIẾN CUỘC TRANH CHẤP

     Diễn biến cuộc tranh chấp sẽ được trình bày vắn tắt theo thứ tự thời gian, qua ba giai đoạn: trước thời Pháp thuộc, trong thời Pháp thuộc, và sau thời Pháp thuộc.

1. Trước thời Pháp thuộc

·   Những người đánh cá Trung Hoa và Việt Nam sống trên các đảo tuỳ theo mùa nhưng từ bao giờ thì không thể xác định được.

·   Đầu thế kỷ XVII: Chúa Nguyễn tổ chức khai thác trên các đảo. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải có nhiệm vụ ra đóng ở hai quần đảo, mỗi năm 8 tháng để khai thác các nguồn lợi: đánh cá, thâu lượm những tài nguyên của đảo, và những hoá vật do lấy được từ những tàu đắm.

·   Năm 1753: Có 10 người lính của Đội Bắc Hải đến quần đảo Trường Sa: 8 người xuống đảo, còn 2 người thì ở lại canh thuyền. Thình lình cơn bão tới và thuyền bị trôi dạt đến cảng Thanh Lan của Trung Quốc. Chính quyền Trung Hoa cho điều tra, và khi biết các sự kiện, đã cho đưa 2 người lính Việt Nam về.[2]

·   Năm 1816: Vua Gia Long chính thức chiếm hữu đảo, ra lệnh cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình.

·   Năm 1835: Vua Minh Mạng cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo, và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi Pháp nhảy vào Đông Dương.

2. Thời Pháp thuộc

·   Năm 1884: Hiệp ước Huế áp đặt chế độ thuộc địa.

·   9-6-1885: Hiệp ước Pháp – Thanh Thiên Tân là một hiệp ước hữu nghị, chấm dứt xung đột giữa Pháp và Trung Hoa.

·   26-6-1887: Hiệp ước Pháp – Thanh ấn định biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa.

·   1895 – 1896: Vụ La Bellona và Imeji Maru.

Có hai chiếc tàu La Bellona và Imeji Maru bị đắm gần Hoàng Sa, một chiếc bị đắm năm 1895, và chiếc kia bị đắm năm 1896. Những người đánh cá ở Hải Nam bèn thu lượm đồng từ hai chiếc tàu bị đắm. Các công ty bảo hiểm của hai chiếc tàu này phản đối chính quyền Trung Hoa. Chính quyền Trung Hoa trả lời là Trung Hoa không chịu trách nhiệm, vì Hoàng Sa không phải là lãnh thổ của Trung Hoa, và cũng không phải của An Nam.[3]

·   Năm 1899: Toàn quyền Paul Doumer đề nghị chính phủ Pháp xây ngọn hải đăng nhưng không thành vì tài chính bị thiếu.

·   Năm 1909: Tổng đốc Lưỡng Quảng ra lệnh thám thính quần đảo Hoàng Sa.

·   Năm 1920: Mitsui Busan Kaisha xin phép Pháp khai thác quần đảo Hoàng Sa. Pháp từ chối.

·   Bắt đầu năm 1920: Pháp kiểm soát quan thuế và tuần tiễu trên đảo.

·   30-3-1921: Tổng đốc Lưỡng Quảng sáp nhập Hoàng Sa với Hải Nam. Pháp không phản đối.

·   Bắt đầu từ năm 1925: Tiến hành những thí nghiệm khoa học trên đảo do Dr. Krempt, Giám đốc Viện Hải dương học Nha Trang tổ chức.

·   8-3-1921: Toàn quyền Đông Dương tuyên bố hai quần đảo: Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Pháp.

·   Năm 1927: Tàu De Lanessan viếng thăm quần đảo Trường Sa.

·   Năm 1930: Ba tàu Pháp: La Malicieuse, L’Alerte và L’Astrobale chiếm quần đảo Trường Sa và cắm cờ Pháp trên quần đảo này.

·   Năm 1931: Trung Hoa ra lệnh khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa, ban quyền khai thác cho Công ty Anglo-Chinese Development. Pháp phản đối.

·   Năm 1932: Pháp chính thức tuyên bố An Nam có chủ quyền lịch sử trên quần đảo Hoàng Sa. Pháp sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Thừa Thiên.

·   Năm 1933: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập với tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng đề nghị với Trung Hoa đưa vấn đề ra Toà án Quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.

·   Năm 1938: Pháp cho đặt bia đá, xây hải đăng, đài khí tượng và đưa đội biên phòng người Việt ra để bảo vệ đảo Pattle (đảo Hoàng Sa) của quần đảo Hoàng Sa.

·   Năm 1946: Nhật bại trận phải rút lui. Pháp trở lại Pattle (An Vĩnh) nhưng vì chiến cuộc ở Việt Nam nên phải rút.

·   Năm 1947: Quân của Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Woody (đảo Phú Lâm) của quần đảo Hoàng Sa. Pháp phản đối và gửi quân Pháp – Việt trở lại đảo. Hai bên đàm phán tại Paris. Pháp đề nghị đưa ra Trọng tài quốc tế nhưng Trung Hoa từ chối.

·   Năm 1950: Quân của Tưởng Giới Thạch rút khỏi đảo Woody.

·   Năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco, Nhật tuyên bố từ bỏ tất cả các đảo, Đại diện chính phủ Bảo Đại là Thủ tướng Trần Văn Hữu khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên  hai quần đảo mà không có nước nào lên tiếng phản đối.

3. Sau thời Pháp thuộc

·   Năm 1956: Quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương. Đội canh của Pháp trên đảo Pattle được thay thế bởi đội canh của Việt Nam.

Trung Quốc cho quân chiếm phía Đông của quần đảo Hoàng Sa, tức nhóm Amphitrite (Nhóm Đông). Trong khi phía Tây, nhóm Crescent (Lưỡi Liềm), vẫn do quân Việt Nam đóng trên đảo Pattle nắm giữ.

·   1-6-1956: Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo.

·   22-8-1956: Một đơn vị hải quân của Việt Nam Cộng hoà cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá.

·   Năm 1961: Việt Nam Cộng hoà sáp nhập quần đảo Hoàng Sa với tỉnh Quảng Nam.

·   Năm 1973: Quần đảo Trường Sa được sáp nhập vào tỉnh Phước Tuy.

·   Năm 1974: Trung Quốc oanh tạc quần đảo Hoàng Sa và chiếm các đảo do quân Việt Nam Cộng hoà đóng.

·   Năm 1975: Quân đội Nhân dân Việt Nam thay thế quân đội của Việt Nam Cộng hoà tại quần đảo Trường Sa.

·   Năm 1977: Việt Nam tuyên bố lãnh hải, kể cả lãnh hải của các đảo.

·   Trong thời gian này, nhiều quốc gia khác cũng đã chiếm một số đảo của quần đảo Trường Sa.

·   Năm 1988: Lần đầu tiên Trung Quốc gửi quân tới quần đảo Trường Sa. Quân của Trung Quốc đụng độ với Hải quân Việt Nam. Trên 70 người lính Việt Nam bị mất tích. Trung Quốc đã chặn không cho tàu mang cờ Chữ Thập Đỏ ra cứu quân Việt Nam.

·   Năm 1989: Trung Quốc chiếm thêm một đảo.

·   Năm 1990: Trung Quốc đề nghị khai thác chung quần đảo Trường Sa.

·    Năm 1992: Trung Quốc chiếm thêm một số đảo nữa.

·   Năm 1994: Đụng độ giữa Việt Nam và một chiếc tàu Trung Quốc nghiên cứu cho Công ty Crestone.

        Hiện nay Trung Quốc kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Còn quần đảo Trường Sa thì do sáu quốc gia và lãnh thổ chiếm giữ là: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philippin, Malaixia và Brunây.

 

II.  PHÂN TÍCH LẬP LUẬN CỦA VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Lý lẽ mà cả Việt Nam và Trung Quốc đưa ra là chủ quyền lịch sử, cả hai quốc gia đều khẳng định mình có chủ quyền từ lâu đời được củng cố và chứng minh bằng lịch sử. Ngoài ra, Trung Hoa ngày xưa, cũng như Đài Loan ngày nay, và nhiều tác giả thường viện dẫn Hiệp uớc Pháp – Thanh 1887 để khẳng định hai quần đảo thuộc về Trung Quốc. Vì Trung Quốc và Đài Loan đã đồng ý nói chung một tiếng nói trong vụ tranh chấp này, do đó, đây cũng có thể là một lý lẽ của Trung Quốc. Thời kỳ gần đây, từ khi tranh chấp với Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trung Quốc đã viện dẫn thêm một lý lẽ, là những lời tuyên bố trước đây của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Phần này sẽ phân tích ba lý lẽ nói trên.

1. Chủ quyền lịch sử

Cả Việt Nam và Trung Quốc đều nại rằng mình đã khám phá, chiếm hữu và hành xử chủ quyền lâu đời. Chúng ta thử phân tích lý lẽ chủ quyền lịch sử của mỗi bên có đạt đủ tiêu chuẩn của luật quốc tế hay không. Trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu luật quốc tế chi phối sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ như thế nào.

1.1.  Sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ theo luật quốc tế.

      Một sự chiếm hữu lãnh thổ, muốn hợp pháp, phải hội đủ ba điều kiện:

      Một là, điều kiện liên quan đến đối tượng của sự chiếm hữu: lãnh thổ được chiếm hữu phải là đất vô chủ (res nullius), hoặc là đã bị chủ từ bỏ (res derelicta).

      Hai là, tác giả của sự chiếm hữu phải là một quốc gia. Chiếm hữu phải được thực hiện bởi chính quyền của quốc gia muốn chiếm hữu hoặc bởi đại diện của chính quyền chiếm hữu nhân danh quốc gia mình. Tư nhân không có quyền chiếm hữu.

       Ba là, phương pháp chiếm hữu:

       Phương pháp chiếm hữu đã trải qua nhiều thay đổi theo thời gian. Trước năm 1884, quyền chiếm hữu do Đức Giáo Hoàng ban cho. Từ thế kỷ VIII đến XV, Đức Giáo Hoàng chia đất giữa hai quốc gia là Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Đến thế kỷ XVI, khi nhiều quốc gia khác cũng bắt đầu tham gia vào công cuộc đi tìm đất mới, thì phương cách chia đất bởi Đức Giáo Hoàng bị chỉ trích, và người ta đặt ra một phương thức mới cho sự chiếm hữu lãnh thổ, đó là quyền khám phá. Quốc gia nào khám phá ra mảnh đất đó trước thì được chủ quyền trên đất đó. Khám phá đây có nghĩa là chỉ nhìn thấy đất thôi, không cần đặt chân lên đất đó, cũng đủ để tạo chủ quyền. Sau này, điều kiện đó được xem như không đủ, nên người ta đưa thêm một điều kiện nữa, là sự chiếm hữu tượng trưng. Quốc gia chiếm hữu phải lưu lại trên lãnh thổ một vật gì tượng trưng cho ý chí muốn chiếm hữu của mình: cờ, bia đá, đóng cọc, hoặc bất cứ một vật gì tượng trưng cho chủ quyền của quốc gia chiếm hữu. Đến thế kỷ XVIII, người ta thấy chiếm hữu tượng trưng cũng không đủ để chứng tỏ chủ quyền của một quốc gia. Vì vậy, đến năm 1885, Định ước Berlin nhằm giải quyết vấn đề chia đất ở châu Phi, ấn định một tiêu chuẩn mới sát thực hơn cho sự chiếm hữu lãnh thổ. Đó là sự chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ được chiếm hữu. Ngoài ra, Định ước Berlin cũng ấn định rằng quốc gia chiếm hữu phải thông báo sự chiếm hữu của mình cho các quốc gia khác biết. Nguyên tắc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền sau này đã trở thành tập quán quốc tế và được làm cơ sở cho sự chiếm hữu lãnh thổ vô chủ trong luật quốc tế hiện đại. Tuy nhiên, yếu tố thông báo không phải là một tập quán quốc tế, nó chỉ áp dụng riêng cho trường hợp chiếm hữu đặt trong phạm vi của Định ước Berlin mà thôi.

       Ngày nay theo luật quốc tế, sự chiếm hữu lãnh thổ phải bao gồm cả hai yếu tố vật chất và tinh thần. Yếu tố vật chất được thể hiện qua việc chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền trên lãnh thổ đó. Điều này có nghĩa là quốc gia chiếm hữu phải có sự hiện diện thường trực trên lãnh thổ được chiếm hữu, và phải có những hoạt động hoặc những hành vi có tính quốc gia đối với lãnh thổ đó. Sự hành xử chủ quyền phải có tính liên tục. Còn yếu tố tinh thần có nghĩa là quốc gia phải có ý định thực sự chiếm hữu mảnh đất đó. Phải hội đủ hai yếu tố vật chất và tinh thần trên thì sự chiếm hữu mới có hiệu lực. Và sự từ bỏ lãnh thổ cũng phải hội đủ cả hai yếu tố: vật chất, tức là không hành xử chủ quyền trong một thời gian dài, và tinh thần, tức là có ý muốn từ bỏ mảnh đất đó. Phải hội đủ cả hai yếu tố: từ bỏ vật chất và từ bỏ tinh thần thì lãnh thổ đó mới được xem như bị từ bỏ, và trở lại quy chế vô chủ.[4]

       Ngoài phương pháp chiếm hữu thực sự và hành xử chủ quyền (occupationeffectivité), một quốc gia cũng có thể thụ đắc chủ quyền qua những phương pháp khác như chuyển nhượng (cession), thời hiệu (prescription), củng cố chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử (consolidation par titre historique),… Phương pháp “củng cố chủ quyền bằng danh nghĩa lịch sử” được áp dụng nếu quốc gia đã sử dụng lâu đời một lãnh thổ khác mà không có phản đối của một quốc gia nào khác.[5]

       Những tiêu chuẩn trên đã được áp dụng thường xuyên bởi án lệ quốc tế, trong những bản án về tranh chấp đảo Palmas, đảo Groenland, đảo Minquier và Ecrehous…

 

1.2.  Chủ quyền lịch sử của Việt Nam

      Phải nói rằng, vì hoàn cảnh chiến tranh, nên tài liệu lịch sử của Việt Nam đã bị tàn phá hoặc thất lạc rất nhiều. Việt Nam đã đưa ra những tài liệu lịch sử và địa lý đủ để chứng minh rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo này từ lâu, đã chiếm hữu tượng trưng cũng như thực sự và hành xử chủ quyền trên hai quần đảo qua nhiều đời vua và trải qua ít nhất là ba thế kỷ.

1.2.1. Khám phá ít nhất là từ thế kỷ XV, và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVII

      Dân đánh cá Việt Nam đã sống trên những đảo này và khai thác đảo từ lâu đời. Tài liệu sớm nhất mà Việt Nam còn có được là quyển “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII. Danh từ “Tuyển tập” cho ta thấy tài liệu này được thu nhập từ nhiều tài liệu trước nữa. Trong quyển này, Đỗ Bá đã tả những quần đảo này rất chính xác, và xác nhận rằng Chúa Nguyễn đã lập Đội Hoàng Sa để khai thác quần đảo từ thế kỷ XVII. Đoạn trích do sử gia kiêm nhà Hán học Võ Long Tê dịch như sau:

     “Tại làng Kim Hộ, ở hai bên bờ sông có hai ngọn núi, mỗi ngọn có mỏ vàng do nhà nước cai quản. Ngoài khơi, một quần đảo với những cồn cát dài, gọi là “Bãi Cát Vàng”, dài khoảng 400 lý, và rộng 20 lý nhô lên từ dưới đáy biển, đối diện với bờ biển từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vinh. Vào mùa gió nồm Tây Nam, những thương thuyền từ nhiều quốc gia đi gần bờ biển thường bị đắm dạt vào những đảo này; đến mùa gió Đông Bắc, những thuyền đi ngoài khơi cũng bị đắm như thế. Tất cả những người bị đắm trôi dạt vào đảo, đều bị chết đói. Nhiều hàng hoá tích luỹ trên đảo.

     Mỗi năm, vào tháng cuối của mùa đông, Chúa Nguyễn đều cho một hạm đội gồm 18 thuyền đi ra đảo để thu thập những hoá vật, đem về được một số lớn vàng, bạc, tiền tệ, súng đạn. Từ cửa Đại Chiêm, ra tới đảo mất một ngày rưỡi, nếu đi từ Sa Kỳ thì chỉ mất nửa ngày.”[6]

     Theo sử gia Võ Long Tê, mặc dù quyển sách của Đỗ Bá được viết vào thế kỷ XVII (vào năm 1686), đoạn thứ nhất của hai đoạn trên được trích từ phần thứ ba của quyển Hồng Đức Bản Đồ – Hồng Đức là tên hiệu của vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497).[7] Như vậy, Việt Nam đã khám phá hoặc biết tới những đảo này ít ra cũng từ thế kỷ XV. Danh từ Bãi Cát Vàng chứng tỏ rằng những đảo này đã được những người Việt Nam ít học nhưng hiểu biết nhiều về biển khám phá và khai thác, từ lâu trước khi chính quyền Chúa Nguyễn tổ chức khai thác đảo. Dân Việt Nam đã sinh sống ở đó từ nhiều thế kỷ, và chính quyền nhà Nguyễn từ thế kỷ XVII đã biết tổ chức khai thác đảo có hệ thống. Những yếu tố này, nhất là sự khai thác của nhà nước từ thế kỷ XVII qua rất nhiều năm, đã tạo nên từ thời đó một chủ quyền lịch sử cho Việt Nam trên những đảo này.

1.2.2. Hành xử chủ quyền trong thế kỷ XVIII: Quyển Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn

      Lê Quý Đôn là quan dưới thời nhà Lê, phụ trách vùng Thuận Hoá, Quảng Nam. Ông đã viết Phủ biên tạp lục vào năm 1776, tại Quảng Nam, nên đã sử dụng được rất nhiều tài liệu của chính quyền các Chúa Nguyễn để lại.[8] Đoạn sau đây nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

      “… Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là cù lao Ré, rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng đậu ra biển bốn canh thì đến; phía ngoài nữa, lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hoá vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi ba ngày đêm thì mới đến, là chỗ gần Bắc Hải”.[9]

      Một đoạn rất dài khác cũng trong Phủ biên tạp lục nhưng cần phải trích dẫn vì nó cung cấp nhiều chi tiết quan trọng liên quan đến cách Chúa Nguyễn tổ chức khai thác hai quần đảo một cách hệ thống:

     … Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh, ở gần biển, ngoài biển về phía Đông Bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng, dài ước hơn 30 dặm, bằng phẳng rộng lớn, nước trong suốt đáy. Trên đảo có vô số yến sào; các thứ chim có hàng ngàn, hàng vạn, thấy người thì đậu vòng quanh không tránh. Trên bãi vật lạ rất nhiều. Ốc vân thì có ốc tai voi to như chiếc chiếu, bụng có hạt to bằng đầu ngón tay, sắc đục, không như ngọc trai, cái vỏ có thể đẽo làm tấm bài được, lại có thể nung vôi xây nhà; có ốc xà cừ, để khảm đồ dùng; lại có ốc hương. Các thứ ốc đều có thể muối và nấu ăn được. Đồi mồi thì rất lớn. Có con hải ba, tục gọi là Trắng bông, giống đồi mồi nhưng nhỏ hơn, vỏ mỏng có thể khảm đồ dùng, trứng bằng đầu ngón tay cái, muối ăn được. Có hải sâm tục gọi là con đột đột, bơi lội ở bến bãi, lấy về dùng vôi sát quan, bỏ ruột phơi khô, lúc ăn thì ngâm nước cua đồng, cạo sạch đi, nấu với tôm và thịt lợn càng tốt.

      Các thuyền ngoại phiên bị bão thường đậu ở đảo này. Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn sáu tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đấy tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hoá vật của tầu, như là gươm ngựa, hoa bạc, tiền bạc, vòng sứ, đồ chiên, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm, hột ốc vân rất nhiều. Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về. Lượm được nhiều ít không nhất định, cũng có khi về người không. Tôi đã xem sổ của cai đội cũ là Thuyên Đức Hầu biên rằng: Năm Nhâm Ngọ lượm được 30 hốt bạc; năm Giáp Thân được 5.100 cân thiếc; năm Ất Dậu được 126 hốt bạc; từ năm Kỷ Sửu đến năm Quý Tỵ năm năm ấy mỗi năm chỉ được mấy tấm đồi mồi, hải ba. Cũng có năm được thiếc khôi, bát sứ và hai khẩu súng đồng mà thôi. 

      Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Thứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm vật của tầu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản. Chẳng qua là lấy các thứ hải vật, còn vàng bạc của quý ít khi lấy được”.[10]

     Đoạn này cho thấy việc khai thác hai quần đảo của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải kéo dài từ thế kỷ XVII sang đến cuối thế kỷ XVIII. Hoạt động của hai đội này được tổ chức có hệ thống, đều đều mỗi năm ra đảo công tác 8 tháng. Các thuỷ thủ do nhà nước tuyển dụng, hưởng bổng lộc của nhà nước, giấy phép và lệnh ra công tác do nhà nước cấp.

     Các bộ sử như Lịch triều hiến chương loại chí, Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam nhất thống chí, Hoàng Việt địa dư chí, đều có đoạn ghi các Chúa Nguyễn tổ chức khai thác hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và cả các đảo khác nữa: Đội Thanh Châu phụ trách các đảo ngoài khơi Quy Nhơn lấy tổ chim yến, Đội Hải Môn hoạt động ở các đảo Phú Quý, Đội Hoàng Sa chuyên ra quần đảo Hoàng Sa, sau đó lại tổ chức Đội Bắc Hải thuộc đội Hoàng Sa nhưng phụ trách các đảo xa ở phía Nam trong đó có quần đảo Trường Sa, đảo Côn Lôn và các đảo nằm trong vùng vịnh Thái Lan thuộc chủ quyền của Việt Nam.[11]

     Đặc biệt là bộ Lịch triều hiến chương loại chí: Dư địa chí của Phan Huy Chú (1782 – 1840). Phan Huy Chú và các tác phẩm của ông được Gaspardone nghiên cứu. Bộ sử này viết vào đầu thế kỷ XIX và gồm 49 quyển nằm ở École Fransaise d’Extrême Orient.[12]

1.2.3.     Chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền trong thế kỷ XIX

      Chủ quyền được tiếp tục hành xử qua thế kỷ XIX, dưới thời nhà Nguyễn (là thời đại kế vị chính quyền các Chúa Nguyễn).

      Vị vua đầu tiên của nhà Nguyễn, Vua Gia Long, đã củng cố thêm quyền lịch sử của Việt Nam bằng cách chính thức chiếm hữu hai quần đảo. Năm 1816, Vua đã ra lệnh cho Đội Hoàng Sa và hải quân của triều đình ra thăm dò, đo thuỷ lộ, và cắm cờ trên quần đảo Hoàng Sa để biểu tượng cho chủ quyền của Việt Nam. Đoạn sau đây của bộ Việt Nam thực lục chính biên chứng minh điều này:

      “Năm Bính Tý, năm thứ 15 đời Vua Gia Long (1816)

      Ra lệnh cho lực lượng hải quân và đội Hoàng Sa đổ bộ lên quần đảo Hoàng Sa để thanh tra và khám xét thuỷ trình.”

      Sự chiếm hữu hai quần đảo theo lệnh của Vua Gia Long cũng được chứng nhận bởi các tài liệu của phương Tây.

      Bài của M.A. Dubois de Jancigny viết như sau:

      “… Từ hơn 34 năm, Quần đảo Paracel, mang tên là Cát Vàng hay Hoàng Sa, là một giải đảo quanh co của nhiều đảo chìm và nổi, quả là rất đáng sợ cho các nhà hàng hải, đã do những người Nam Kỳ chiếm giữ. Chúng tôi không biết rằng họ có xây dựng cơ sở của mình hay không, nhưng chắc chắn rằng vua Gia Long đã quyết định giữ nơi này cho triều đại mình, vì rằng chính ông đã thấy được rằng tự mình phải đến đấy chiếm lấy và năm 1816 nhà vua đã trịnh trọng cắm ở đây lá cờ của Nam Kỳ”.[13]

       Một bài khác của Jean Baptiste Chaigneau cũng ghi nhận điều trên:

       “Nam Kỳ, mà nhà vua hiện nay là hoàng đế bao gồm bản thân xứ Nam Kỳ, xứ Bắc Kỳ, một phần của Vương quốc Campuchia, một số đảo có người ở không xa bờ biển và quần đảo Paracel gồm những bá đá ngầm, đá nổi không có người ở. Chỉ đến năm 1816 hoàng đế hiện nay mới chiếm lĩnh những đảo ấy.”[14]

       Năm 1833, vua Minh Mệnh cho đặt bia đá trên quần đảo Hoàng Sa và xây chùa. Vua cũng ra lệnh trồng cây và cột trên đảo. Bộ Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 104, viết như sau:

      “Tháng tám mùa thu năm Quý Tỵ, Minh Mệnh thứ 14 (1833)… Vua bảo Bộ Công rằng: Trong hải phận Quảng Ngãi, có một dải Hoàng Sa, xa trông trời nước một mầu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường (mắc cạn) bị hại. Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.[15]

      Năm sau, Vua Minh Mệnh ra lệnh cho Đội Hoàng Sa ra đảo lấy kích thước để vẽ bản đồ. Quyển Đại Nam thực lục chính biên (1834), quyển thứ 122 ghi nhận điều này:

      “Năm Giáp Ngọ, thứ 15, đời Minh Mệnh:

       … Vua truyền lệnh cho Đội trưởng Trương Phúc Sĩ và khoảng trên 20 thuỷ thủ ra quần đảo Hoàng Sa để vẽ bản đồ…”.[16]

     Đến năm 1835 thì lệnh xây miếu, dựng bia đá được hoàn tất và được ghi nhận trong quyển Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 154:

      “Tháng sáu mùa hạ năm Ất Mùi, Minh Mệnh thứ 16 (1835)… Dựng đền thờ thần (ở đảo) Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Hoàng Sa ở hải phận Quảng Ngãi, có một chỗ nổi cồn cát trắng, cây cối xanh um, giữa cồn cát có giếng, phía Tây Nam có miếu cổ, có tấm bài khắc 4 chữ: “Vạn Lý Ba Bình” (1). Còn Bạch Sa chu vi 1.070 trượng, tên cũ là Phật Tự Sơn, bờ đông, tây, nam đều đá san hô thoai thoải uốn quanh mặt nước. Phía bắc, giáp với một cồn toàn đá san hô, sừng sững nổi lên, chu vi 340 trượng, cao 1 trượng 3 thước, ngang với cồn cát, gọi là Bàn Than Thạch. Năm ngoái vua toan dựng miếu lập bia ở chỗ ấy, nhưng vì sóng gió không làm được. Đến đây mới sai cai đội thuỷ quân Phạm Văn Nguyên đem lính và Giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, chuyên chở vật liệu đến dựng miếu (cách toà miếu cổ 7 trượng). Bên tả miếu dựng bia đá; phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong, rồi về”.[17]

      Đoạn sau đây của cùng bộ sách, cho thấy vua nhà Nguyễn không những quan tâm đến việc khai thác đảo mà còn nhận thức được vị trí chiến lược của hai quần đảo, xem chúng như là lãnh thổ biên phòng của Việt Nam và tổ chức cả một chương trình dài hạn để củng cố biên cương đó – theo Đại Nam thực lục chính biên, quyển thứ 165:

      “Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mệnh thứ 17 (1836), mùa xuân, tháng giêng, ngày mồng 1…

      Bộ Công tâu: Cương giới mặt biển nước ta có xứ Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thể nó xa rộng, mới chỉ được một nơi, cũng chưa rõ ràng. Hàng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, xin phái thuỷ quân và vệ Giám thành đáp một chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa, không cứ là đảo nào, hòn nào, bãi cát nào; khi thuyền đi đến, cũng xét xem xứ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi, và nước biển xung quanh nông hay sâu, có bãi ngầm, đá ngầm hay không, hình thế hiểm trở, bình dị thế nào, phải tường tất đo đạc, vẽ thành bản đồ. Lại xét ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến xứ ấy, căn cứ vào đường đi, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông vào bờ biển, đối thẳng vào là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chênh chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm. Nhất nhất nói rõ, đem về dâng trình”.

      “Vua y lời tâu, phái suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đem binh thuyền đi, chuẩn cho mang theo 10 cái bài gỗ, đến nơi đó dựng làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ “Minh Mệnh thứ 17, năm Bính Thân, thuỷ quân Chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh đi Hoàng Sa trông nom đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.[18]

       Sau đó, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được vẽ trên bản đồ của triều đình Vua Minh Mệnh. Những đoạn trên đây cho thấy chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã tiếp tục được hành xử bởi các vua nhà Nguyễn. Đội Hoàng Sa và Bắc Hải được trao thêm nhiều nhiệm vụ: tuần tiễu, đi lấy kích thước đảo để vẽ bản đồ, thăm dò địa hải, vẽ thuỷ trình,… Những Đội này cũng có nhiệm vụ thu thuế những người tạm sống trên đảo[19].

      Hai đội Hoàng Sa và Bắc Hải hoạt động cho đến khi Pháp xâm lược Việt Nam. Ít nhất từ thế kỷ XVII (và có thể từ thế kỷ XV hoặc trước nữa), từ thời Chúa Nguyễn, trải qua các triều đại vua nhà Nguyễn, trong 3 thế kỷ,  hai đội này đã có nhiều hoạt động khai thác, quản trị và biên phòng đối với hai quần đảo. Đây là những hoạt động của nhà nước, do nhà nước tổ chức. Những hoạt động này kéo dài suốt 300 năm không có một lời phản đối của Trung Hoa thời đó. Nhà Nguyễn cũng ý thức được trách nhiệm quốc tế của mình từ thời đó và cho trồng cây trên đảo để các thuyền bè khỏi bị đắm và mắc cạn. Rõ ràng đây là những sự hành xử chủ quyền của một quốc gia trên lãnh thổ của mình.

      Như vậy, chủ quyền của Việt Nam được thụ đắc qua hai phương pháp phối hợp nhau: (1) quyền lịch sử bắt nguồn từ sự sử dụng và chiếm hữu lâu đời một lãnh thổ vô chủ dưới thời các Chúa Nguyễn, thế kỷ XVII và XVIII (consolidation par titre historique), và (2) chủ quyền bắt nguồn từ sự chính thức chiếm hữu và hành xử chủ quyền một cách liên tục dưới thời các vua nhà Nguyễn, thế kỷ XIX (prise de possession, occupation et effectivité). Thực ra việc thụ đắc bằng phương pháp (1) cũng đã đủ để tạo chủ quyền cho Việt Nam, và như vậy, Việt Nam đã có chủ quyền lịch sử từ thế kỷ XVII. Quyền này lại được củng cố thêm khi các vua nhà Nguyễn chính thức chiếm hữu đảo. Đội Hoàng Sa và Bắc Hải không hiện diện thường xuyên trên đảo vì điều kiện sinh sống ở các đảo không cho phép. Tuy nhiên, lệ án quốc tế đã mềm dẻo đối với những nơi này luật không bắt buộc phải có một sự hiện diện thường xuyên của quốc gia chiếm hữu. Trong vụ án Clipperton, Pháp chỉ cho tàu chiến thanh tra đảo, mà không đặt một cơ quan công quyền nào hiện diện thường xuyên tại đảo. Trọng tài Quốc tế đã cho rằng như vậy cũng đủ để hành xử chủ quyền, vì điều kiện ở đảo không cho phép sống thường xuyên trên đó.[20] Trong trường hợp Việt Nam, mặc dù không ở lại đảo thường xuyên, hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải cũng sống ở đó 8 tháng mỗi năm đến khi gió nồm bắt đầu thổi, tức là mùa bão biển tới, họ mới trở về đất liền 4 tháng, và đến tháng giêng lại trở ra các đảo đóng ỏ đó 8 tháng và hàng năm đều như vậy. Với hoàn cảnh thời đó, thuyền của các quốc gia khác, kể cả thuyển của Trung Hoa đều sợ không dám đến đảo, trong khi Việt Nam cho quân đến đóng ở các đảo 8 tháng mỗi năm. Như vậy, đã vượt tiêu chuẩn ấn định bởi vụ án Clipperton, và quá đủ để xem như Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo từ thời các Chúa Nguyễn (thế kỷ XVII).

 

1.2.4. Trung Quốc nói rằng những đảo trong bản đồ của Việt Nam (Đại Nam nhất thống toàn đồ), không phải là Xisha (đảo Cồn cát Tây) và Nansha (đảo Cồn cát Nam) của Trung Quốc vì bản đồ cho thấy những đảo gần bờ biển quá.[21]

      Phải nói rằng kỹ thuật đo lường, kỹ thuật vẽ bản đồ, ý niệm về khoảng cách và thời gian ngày xưa không phải như ngày nay. Chính những tác giả Trung Quốc đã khẳng định điều đó.[22]  Vấn đề xác định những đảo tranh chấp không phải là mới mẻ, vì nó đã được đặt ra trong nhiều bản án.[23] Vấn đề này cũng được đặt ra đối với lập luận của Trung Quốc ở mục 1.3. của bài này. Dù sao, trong trường hợp Việt Nam, chỉ cần nhìn bản đồ cũng thấy rằng không có sự nhầm lẫn giữa Hoàng Sa, Trường Sa và các đảo ở ven biển, khi bản đồ được vẽ, vì những đảo ven bở biển như đảo Ré cũng đều được vẽ trên bản đồ, những đảo này đã được vẽ sát dọc theo bờ biển. Mà trên thực tế, giữa những đảo ven bờ biển và Hoàng Sa, Trường Sa, không có đảo hoặc quần đảo nào khác. Từ đó, chúng ta có thể kết luận rằng những quần đảo mà bản đồ Việt Nam ghi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa chính là Hoàng Sa và Trường Sa. Phương pháp suy diễn này đã được áp dụng trong bản án Palmas. Người vẽ bản đồ chỉ không có ý niệm xác thực về khoảng cách không gian và tỷ lệ phải áp dụng khi chuyển nó lên mặt giấy để vẽ bản đồ, nên vẽ khoảng cách ngắn hơn thực tế.

      Ngay cả khoảng cách giữa hai quần đảo Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa cũng bị rút ngắn lại, khiến cho thoạt nhìn, người ta có thể tưởng rằng đây chỉ là một quần đảo. Tuy nhiên, nhiều điều rút từ những ghi chép trong sách sử Việt Nam, và từ những bản đồ thời đó, đã chứng minh đó không phải chỉ là một quần đảo Hoàng Sa:

(1) Trên bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ có ghi tên hai đảo rõ rệt vẽ bằng chữ nho: Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa.

(2) Các sách sử địa của Việt Nam có nói đến 130 đảo. Con số này không phù hợp với số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa, hoặc quần đảo Trường Sa tính riêng. Nhưng nếu cộng số đảo của hai quần đảo lại thì con số vừa đúng là 130.[24]

Bản đồ 4
Hoàng Sa

Bản đồ 6
Atlas of the world

Bản đồ 7

 

(3) Nếu so sánh bản Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1), bản đồ phóng đại của quần đảo này trích từ Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 2), bản đồ The Times Atlas of the World (ghi tắt là Atlas, Bản đồ 3 và 6), bản đồ phóng to hiện thời của dãy Hoàng Sa (Bản đồ 4), và bản đồ của dãy Trường Sa (Bản đồ 7), thì sẽ thấy như sau:

·   Hình dạng của dãy quần đảo trên Bản đồ 1 không phù hợp với hình dạng của quần đảo Hoàng Sa nói riêng. Hình dạng của quần đảo của Hoàng Sa là theo hình vòng tròn, nó gồm hai cụm đảo chính là cụm Crescent hình dạng đúng như cái tên của nó, tức là các đảo nằm cụm vào nhau theo hình lưỡi liềm. Phía sau cụm Crescent (Lưỡi Liềm) là cụm Amphitrite (An Vĩnh), xếp theo hình vòng cung. Ngoài ra có vài đảo rải rác quanh đó, nằm theo hình vòng tròn vây quanh hai cụm đảo chính, chứ không phải hình dài (xem Bản đồ 3 và 4). Trong khi đó, nếu nhìn vào Bản đồ 2, ta sẽ thấy một quần đảo theo hình chuỗi trải dài xuống và bị thóp lại ở giữa, hoàn toàn không phải là hình cụm như quần đảo Hoàng Sa. Phần trên của chuỗi này, được xếp theo cụm giống như Hoàng Sa (xem đoạn từ A tới B trên bản đồ, do tác giả kẻ cho dễ thấy). Nhưng nửa dưới của chuỗi đảo mang một hình dạng xuôi dài xuống (đoạn kẻ từ B tới C), không giống một phần nào của quần đảo Hoàng Sa như ta thấy trên Bản đồ 3 hoặc Bản đồ 4. Phần này chắc chắn không phải là Hoàng Sa. Theo Bản đồ 6 thì giữa quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa không có một quần đảo nào khác cả, mà quần đảo hình chuỗi dài xuống thì lại càng không có. Như vậy phần dưới của chuỗi đảo được vẽ trên Bản đồ 2 không thể là quần đảo nào khác hơn là Trường Sa.

Mỗi phần lại có một tên riêng viết bằng chữ nho: “Hoàng Sa” và “Vạn Lý Trường Sa”. Điều này chứng minh Đại Nam nhất thống toàn đồ phân biệt rõ ràng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

·   Bản Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1) cho thấy chuỗi đảo kéo dài suốt từ Quảng Nam đến tận Cam Ranh, đảo thấp nhất trên bản đồ nằm ngoài khơi Cam Ranh và Khánh Hoà. Trong khi đó quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ Atlas nằm ngoài khơi tỉnh Quảng Nam, đảo thấp nhất của nó theo hướng tây nam là đảo Triton (đảo Tri Tôn) nằm song song với tỉnh Quảng Nam. Trên Bản đồ 2, đảo thấp nhất phía tây của cụm đảo A-B nằm ngang với cửa Đại Cát (trong sách của Đỗ Bá gọi là Đại Chiêm), mà Đại Cát vị trí ngang với Quảng Nam. Như vậy, đảo nói trên là đảo Triton (gạch chữ X trên Bản đồ 2, do tác giả ghi). Và như thế thì làm sao cắt nghĩa được đoạn dưới của chuỗi đảo trên Đại Nam nhất thống toàn đồ, là đoạn bắt đầu từ Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi trên bản đồ Atlas) đến vịnh Cam Ranh? Đảo Hoàng Sa không kéo dài xuống tới Khánh Hoà hoặc vịnh Cam Ranh. Nếu nhìn vảo bản đồ Atlas, ta sẽ thấy song song với tỉnh Phan Rang, gần vịnh Cam Ranh (xem Bản đồ 6), là đảo Thitu (đảo Thị Tứ) của dãy Trường Sa: Northeast Cay (đảo Song Tử Đông), Southeast Cay (đảo Song Tử Tây), South Reef (đá Nam), và West York Island (đảo Dừa), đều nằm ngoài khơi, ngang với khoảng cách từ Khánh Hoà tới Cam Ranh (xem Bản đồ 7).

·   Nhìn vào bản đồ của Đại Nam nhất thống toàn đồ (Bản đồ 1), có thể có 4 giả thuyết:

a)  Đội Hoàng Sa và Bắc Hải không biết đến Trường Sa và các tác giả chỉ vẽ Hoàng Sa mà thôi.

b)  Đội Hoàng Sa và Bắc Hải đã hoạt động ở cả quần đảo Hoàng Sa và toàn thể quần đảo Trường Sa, và tác giả của bản đồ muốn vẽ cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng vì kỹ thuật kém, nên toàn khối Trường Sa gần với Hoàng Sa hơn ngoài thực tế.

c)  Đội Hoàng Sa và Bắc Hải chỉ hoạt động và thám thính các đảo phía bắc của dãy Trường Sa, tức Northeast Cay, Southeast Cay, South Reef và Thitu; và người vẽ bản đồ, vì kỹ thuật kém nên vẽ các đảo đó gần với quần đảo Hoàng Sa.

d)  Đội Hoàng Sa và Bắc Hải đã hoạt động ở những đảo nói trên của quần đảo Trường Sa và cả dãy đảo phía dưới các đảo này tức Xubi Reef (đá Subi), Loaita Island (đảo Loai Ta), Itu Aba Island (đảo Ba Bình), Great Discovery Reef (đá Lớn), Spratly Island (đảo Trường Sa), … nhưng vì kỹ thuật kém, nên vẽ dãy đảo này gần với quần đảo Hoàng Sa.

     Dựa vào những dữ kiện vừa nêu, thì giả thuyết thứ nhất (a) đáng loại bỏ trước tiên, vì số đảo, hình dạng của quần đảo Hoàng Sa, địa điểm của nó so với những tỉnh trong đất liền, tất cả những chi tiết này như được vẽ trên Bản đồ 1 và 2 không ăn khớp với thực tế trên Bản đồ 3 và 4. Chúng ta cũng không nghĩ rằng tác giả bản Đại Nam nhất thống toàn đồ có thể vì kỹ thuật kém nên kéo dài Hoàng Sa xuống tận Cam Ranh. Vì Đại Nam thư lục chính biên, quyển 165, có nói rõ một trong những mục đích của những chuyến công tác của Đội Hoàng Sa và Bắc Hải là gạch lộ trình để ra mỗi đảo, và ấn định rõ vị trí của mỗi đảo so với mỗi tỉnh ngang với nó trong đất liền. “Phải ấn định rõ cửa khẩu nào đưa ra mỗi đảo. Mỗi lộ trình phải được ước lượng bằng “dặm”.[25] Như vậy, tác giả của bản đồ này không thể nào nhầm lẫn mà ấn định đảo cuối của dãy Hoàng Sa nằm ngang với Cam Ranh. Giả thuyết thứ ba (c) không giải thích được hình dạng của chuỗi đảo trên bản đồ 1. Giả thuyết thứ hai (b) và thứ tư (d) có lẽ sát sự thực vì nó giải thích được hình dạng của chuỗi đảo trên Bản đồ 1, vị trí của đảo ngang với vùng Khánh Hoà, Cam Ranh. Hình chuỗi nằm xuôi dài xuống của các đảo ở đoạn CD, khiến chúng ta nghiêng về giả thuyết thứ tư (d) hơn. Tuy nhiên, giả thuyết thứ ba (c) cũng có thể áp dụng được nếu cho rằng Đội Hoàng Sa và Bắc Hải đã biết toàn thể hoặc đa số các đảo trên dãy Trường Sa, nhưng khi đưa lên bản đồ chỉ vẽ được một số đảo ở phía Tây mà thôi. Như vậy, sẽ ăn khớp với số đảo là 130 đã được ghi trong những sách sử nói trên. Vả lại, Đại Nam thực lục chính biên cũng có nói trong tờ trình của Bộ Công, là quần đảo rất rộng nên chỉ vẽ được một số đảo giới hạn. Tờ trình cũng công nhận là bản đồ vẽ không được chính xác.

     “Quần đảo Hoàng Sa, biên giới biển của nước ta, là một địa điểm chiến lược rất quan trọng… Những đoàn công tác đã được phái đi để lấy kích thước vẽ bản đồ, nhưng vì quần đảo quá rộng, nên chỉ mới vẽ được một đảo trên bản đồ, mà cũng không được chính xác và chi tiết như mong muốn…”. Vì vậy, tờ trình của Bộ Công đã đề nghị Vua cho công tác ra các đảo mỗi năm: “Ta nên gửi đoàn công tác ra mỗi năm để thám sát toàn diện quần đảo…”.[26]

     Bản đồ vẽ quần đảo Trường Sa gần với quần đảo Hoàng Sa hơn trong thực tế chỉ vì kỹ thuật thời đó còn kém, không biết tỷ lệ đưa lên giấy. Bản đồ của Trung Hoa và của phương Tây thời đó cũng mang khuyết điểm này. Hơn nữa, vị trí của hai quần đảo nằm trên cùng một kinh tuyến 111°;[27] quần đảo Trường Sa nằm hơi nhích sang phía đông nam, nên trên thực tế cũng không xa nhau lắm, và vì thời đó người ta không có được ý niệm chính xác về kích thước và tỷ lệ phải tuân theo khi vẽ bản đồ, thì có khuynh hướng vẽ hai quần đảo gần nhau hơn thực tế, cũng dễ hiểu. Dù sao, giả thuyết thứ hai (b), thứ ba (c) hoặc thứ tư (d) cũng đều chứng minh được Việt Nam ít ra cũng có hành xử chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

     Những bản đồ của phương Tây thời xưa cũng không phân biệt được quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nên đã vẽ cả hai thành một khối gọi là Hoàng Sa. Thí dụ, bản đồ của anh em Van Langren, 1595, bản đồ Les établissement et point de penetration européen en Extrême Orient au 18è siècle (Bản đồ 8 và 9).

Bản đồ 8

Bản đồ 9

Bản đồ 10
Đại Việt đời Hồng Đức
(Bản vẽ lại cho dễ đọc các địa danh)

Bản đồ 11
Đại Việt Quốc Tổng Lãm Đồ (Lê Trung Hưng)


 

 

     Trước thời Minh Mạng, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cũng được xem như một quần đảo, nên gọi hai quần đảo là Hoàng Sa, có khi gọi là Vạn Lý Trường Sa. Nhưng sau khi các đoàn công tác được Vua Minh Mạng ra lệnh lấy kích thước và thám sát cả hai quần đảo, thì bản đồ được vẽ sau đó (tức bản Đại Nam nhất thống toàn đồ), mới ghi rõ ràng hai tên khác nhau cho hai quần đảo. Nếu trên Bản đồ 2, chúng ta lấy bút khoanh cụm đảo ở đoạn A-B lại, và cũng khoanh chuỗi đảo ở đoạn B-C lại, thì ta sẽ thấy hai quần đảo riêng rẽ, với hai cái tên riêng rẽ (xem Bản đồ 5).

      Do đó, ta có thể kết luận rằng Việt Nam đã hành xử chủ quyền trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì vậy mới có sự hiện diện của Đội Bắc Hải được cử đi khai thác và quản lý những đảo Trường Sa, Côn Lôn, vùng Hà Tiên,… (thể theo quyển Phủ Biên tạp lục, quyển 2). Người ta có thể thắc mắc tại sao Đội Bắc Hải đảm trách Trường Sa, Côn Lôn, Hà Tiên, là những vùng phía Nam, mà lại gọi là Bắc Hải. Sử gia Võ Long Tê có giải thích rằng Bắc Hải theo nghĩa chữ nho cũng có thể là “xa xôi”. Như vậy “Bắc Hải” có thể hiểu là vùng biển xa xăm.[28] Nghĩa thứ hai mà ta có thể giải thích là Đội Bắc Hải kiêm trách cả vùng biển miền Bắc lẫn những đảo ở phía Nam. Vì quyển Phủ Biên tạp lục có ghi rằng Đội Bắc Hải hoạt động ở “… vùng Biển Bắc, những đảo Côn Lôn, Cù Lao, vùng Hà Tiên và Cồn Tự…”.[29] Nếu theo giả thuyết trên thì ta phải hiểu là hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải bổ túc cho nhau chứ không có sự phân chia vùng hoạt động giữa hai Đội. Theo như ghi chép trong Phủ Biên tạp lục thì sự phân chia giữa hai Đội là ở sản vật được khai thác: Đội Bắc Hải gần như chỉ thu thập các hải sản, còn Đội Hoàng Sa thu thập cả các hoá vật, vàng, bạc,… do tàu đắm để lại.

      Thêm một nhận xét nữa là: Trường Sa nằm ở gần đảo Côn Lôn nên không lẽ thời đó, Đội Bắc Hải hoặc dân đánh cá Việt Nam từ trước nữa đã khám phá và khai thác đảo Côn Lôn mà lại không hề biết đến đảo Trường Sa. Nhất là tàu thuyền của Việt Nam thời đó là một lực lượng hùng mạnh khiến nhiều nhà thám hiểm phương Tây phải xác nhận điều đó. Thí dụ, ông Gentil de la Barbinais đã viết trong quyển Nouveau voyage autour du monde (xuất bản vào năm 1738) như sau: “Quoique jusqu’ici les Cochinchinois, aient attaqué ou se soient défendus par terre, les emplois de I’armée navale sont plus recherchés, comme étant les plus honorifiques. Le Roi de Cochinchine entretient 150 galères. À la dernière revue des galères, qui se fit en 1678, il y avait 131 galères…”[30] (Có thể dịch là: “Mặc dù dân Việt Nam đến bây giờ vẫn tấn công hoặc phòng thủ trên đất liền, việc sử dụng lực lượng hải quân của họ tinh vi hơn, và có thể nói là xuất sắc nhất. Vua Việt Nam có 150 chiến thuyền. Nhân cuộc biểu trương chiến thuyền gần nhất, được tổ chức vào năm 1678, có tới 131 chiến thuyền…”).

 

1.3.  Chủ quyền lịch sử viện dẫn bởi Trung Quốc

      Trung Quốc cũng viện dẫn quyền khám phá và sự hành xử chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

1.3.1.  Quyền khám phá

      Trung Quốc đã khẳng định rằng mình đã khám phá ra hai quần đảo tranh chấp từ đời nhà Hán, năm 206 trước Công nguyên. Tuy nhiên, có tác giả Trung Hoa lại xác định là những tài liệu sớm nhất ghi chép sinh hoạt của người Trung Hoa trên những đảo này, thuộc đời nhà Tống (thế kỷ XIII).[31]

      Trung Quốc đã viện dẫn nhiều đoạn trích từ sách sử địa của mình. Nhưng thực tế cho thấy các đoạn do Trung Quốc đưa ra, chỉ tả hai quần đảo như những gì nằm trong lộ trình đi ngang Biển Đông mà thôi. Ngoài ra, các đoạn được viện dẫn trước thế kỷ XIII cũng không nói đến đảo nào, mà chỉ nói đến biển Nam Hải. Những đoạn sách viết từ thế kỷ XIII mới bắt đầu nêu tên đảo, nhưng không có đoạn nào nói tới Xisha và Nansha. Nhiều điểm từ những đoạn được nêu ra, còn cho thấy rõ ràng Wanlishitang (Vạn Lý Thạch Sành) mà Trung Quốc nói là Nansha thực tế không phải là Nansha mà là đảo khác.

 

a) Sách sử trước thế kỷ XIII

·   Quyển Dị vật chí thời Hán (Yi Wu Zhi), viết như sau:[32]

     “Có những đảo nhỏ, cồn cát, đá ngầm, và băng cát tại Nam Hải, nơi đó nước cạn và đầy đá nam châm…”. Những câu tả này rất mơ hồ, chỉ viết “có những đảo nhỏ”, mà không nói rõ đảo nào.

·   Quyển Zuo Zhuan viết từ thời Xuân Thu, ghi như sau:[33]

“Triều đại vẻ vang của nhà Chu trấn an dân man di để viễn chinh vùng Nam Hải (đảo) để làm sở hữu của Trung Hoa…”

     Chữ “đảo” là do tác giả Jian-Ming Shen thêm vào trong dấu ngoặc để ám chỉ rằng “Nam Hải” có nghĩa là “những đảo ở vùng Nam Hải”. Bản văn bằng tiếng Trung Hoa chỉ ghi “Nam Hải” chứ không phải “NamHaidao”.

 

b) Sách sử từ thế kỷ XIII

·   Quyển Chư Phiên Chí (thế kỷ XIII) có ghi rằng: “Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường, và ngoài nữa là đại dương vô tận…”[34]

·   Quyển Hải Lục (On the Sea), tác giả Hoàng Chung, xuất bản đời Minh, ghi rằng: “Vạn Lý Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường…”.[35]

·   Ngay cả những tài liệu sử thế kỷ XIX của Trung Hoa, đồng thời với sự chiếm hữu và hành xử chủ quyền của các vua nhà Nguyễn tại Việt Nam, cũng chỉ tả những đảo này như những gì tình cờ thấy, nằm trên lộ trình xuyên Biển Đông của các thuyền Trung Hoa. Hơn thế nữa, có tài liệu còn mặc nhiên công nhận sự liên hệ của các quần đảo đối với Việt Nam, nếu không muốn nói rằng nó công nhận những quần đảo này là biên phòng của An Nam. Thí dụ quyển Hải Lục của Vương Bỉnh Nam (1820-1842) viết:

  “Lộ trình phía ngoài được nối liền với lộ trình phía trong bởi Vạn Lý Trường Sa nằm giữa biển. Chiều dài của quần đảo khoảng vài chục ngàn dặm. Nó là bức màn phòng thủ phía ngoài của An Nam”.[36]

      Từ đó, ta có những nhận xét sau đây về những chứng cớ lịch sử về quyền khám phá của Trung Quốc:

      Không có một quyển sách sử nào nói đến hai cái tên Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa), và không có một quyển sách nào nói đến chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo này.[37] Những sách sử địa của Trung Quốc nhắc đến rất nhiều tên, nào là Qianli Chang sha, Wanlishitang, Quianlishitang, Jiuruluozhou, Qizhouyang, Zizhousan. Và bây giờ Trung Quốc nói rằng tất cả những tên đó đều ám chỉ Xisha và Nansha. Vì vậy, muốn xét đến những chứng cớ lịch sử này, thiết tưởng cần phải có những chuyên viên để nghiên cứu tại chỗ và khẳng định các tên này có đúng là Xisha và Nansha mà Trung Quốc nói tới hay không.

 

1.3.2 Hành xử chủ quyền

      Những dữ kiện mà Trung Quốc và các tác giả Trung Hoa đưa ra để chứng minh mình hành xử chủ quyền trên hai quần đảo gồm có: những cuộc thanh tra, những cuộc viễn chinh, và những di vật đào bới được từ các đảo.

     Thanh tra và viễn chinh

     Phần lớn những bài viết về thanh tra và viễn chinh là sự khẳng định nhưng không có đoạn sử nào được viện dẫn để chứng minh điều này.

     *Trước nhà Nguyên

     Đoạn sau đây được trích, không phải từ sách sử nào cả, mà từ kết luận của một viên chức chính quyền Trung Quốc, giáo sư Wang Hengjie thuộc Trung tâm chuyên về các sắc tộc thiểu số, vào năm 1991, dựa trên những di tích được đào bới trên đảo Xisha để kết luận rằng nhà Chu đã có những cuộc viễn chinh trên quần đảo này:

  “Chính quyền nhà Chu thuộc thời Xuân Thu không những chinh phục những “dân man rợ” ở phía Nam, mà cũng tổ chức những cuộc viễn chinh trên những đảo của biển Nam Hải để chiếm làm đất Trung Hoa…”.[38]

     Đây chỉ là một kết luận của một viên chức nhà nước vào năm 1991, chứ không phải từ sách sử khách quan. Nếu đã có những cuộc viễn chinh, và những hoạt động khác thì tại sao lại không được ghi trong sách sử của Trung Hoa – tương đương với những ghi chú trong sách sử của Việt Nam? Trung Hoa vẫn tự hào là xứ văn minh và các dân tộc khác là “man di” mà tại sao không biết ghi những hoạt động của nhà nước vào sách sử của mình, nếu những hoạt động đó có thực?

     Tác giả Shen viết rằng trong quyển Hậu Hán thư có ghi: Chen Mao được bổ nhiệm làm quan Thái thú ở tỉnh Giao Chỉ (Jiaozchi) đã có những cuộc tuần tiễu và “thám thính trên (các đảo của) biển Nam Hải”. Và ông ta đã ghi trong dấu ngoặc chữ viết bằng tiếng Trung là “xing bu Zhanghai.[39]

     Đoạn này cho thấy không có chỗ nào nói đến Xisha và Nansha cả. Hơn nữa, chữ “đảo” là do tác giả thêm vào trong dấu ngoặc, chứ bản viết tiếng Trung mà ông ta chêm trong ngoặc kép (xing bu Zhanghai) không có chữ “đảo”, mà chỉ là thám thính Zhanghai, tức là Nam Hải, mà thôi.

     Tác giả Shen cũng viết rằng quyển Nam châu dị vật chí (Nanzhou Yiwu Zhi) kể những thuỷ thủ nhà Hán đi viễn chinh từ bán đảo Malaixia trở về Trung Hoa. Rồi ông trích câu trong Nam châu dị vật chí: “đi thuyền về phía Đông Bắc, người ta gặp rất nhiều đảo nhỏ, đá ngầm, bãi cát ngầm, trở nên rõ rệt tại biển Nam Hải, nơi đây nước cạn và có nhiều đá nam châm”.[40] Như vậy, trong Nam Châu dị vật chí không có chỗ nào nói đến viễn chinh trên đảo Xisha và Nansha, hoặc tuần hành quanh đảo này, mà chỉ nói chung chung là họ đi thuyền qua Biển Đông mà thôi, hoặc viễn chinh tại các vùng như Malaxia, Bornéo.

     Chỗ khác, tác giả Shen viết là chính quyền địa phương dưới triều đại nhà Tấn đã hành xử chủ quyền trên đảo Xisha và Nansha bằng cách gửi tàu đi tuần tiễu trên vùng biển quanh đó. Để chứng minh điều này, tác giả viện dẫn quyển Quảng Đông tổng chí (General Record of Quangdong) do Hao Yu-lin viết, có ghi là quan phụ trách những vấn đề biển Nam Hải thời đó, có đi tuần tiễu và thám thính tại biển Nam Hải (xing bu ru hai).[41] Ở đây cũng như trên, tác giả Shen không trích thẳng đoạn nào trong quyển Quảng Đông tổng chí ghi lại sự kiện trên, nên chúng ta không biết chính thức đoạn đó viết như thế nào.

     Chỉ 4 chữ tiếng Trung được ghi trong dấu ngoặc là “xing bu ru hai”. Nếu đây là nguyên văn trong sách sử, thì nó chỉ nói đến thám thính trên biển Nam Hải (nếu thật tình là biển Nam Hải, vì chúng ta không biết đây có phải là biển Nam Hải không hay là biển khác).

     Dù sự kiện đi tuần tiễu thám thính có thật đi chăng nữa thì nó chỉ tổng quát tại biển mà Trung Quốc nói là biển Nam Hải, chứ không nói là tuần tiễu quanh hai đảo Xisha và Nansha. Mà nếu sự thật là biển Nam Hải, thì nó rộng mênh mông làm sao mà biết được họ có tuần tiễu quanh hai quần đảo Xisha và Nansha hay không. Và nếu có, có phải là tuần tiễu để thanh tra đảo với tư cách là chủ của đảo hay chỉ là tuần tiễu vùng biển nói chung? Nguyên văn quyển sách mà tác giả Shen nói có thực sự viết đó là những cuộc tuần tiễu hay chỉ là đi thuyền ngang qua đó mà thôi?

     Chỗ khác, tác giả Shen khẳng định là hai đảo được đặt dưới quyền quản trị của huyện Qiongzhou (là Hải Nam bây giờ), nhưng không viện dẫn chứng cớ lịch sử nào cả, mà footnote chỉ ghi là tài liệu của một cơ quan chính quyền của Trung Quốc năm 1992.[42] Vả lại, nếu Trung Hoa thời đó có sáp nhập hai quần đảo và đảo Hải Nam đi nữa, thì sự sáp nhập không cũng không đủ để tạo nên chủ quyền theo tiêu chuẩn của luật quốc tế.

    Trung Quốc cũng cho rằng những di vật tìm thấy trên các đảo chứng minh rằng dân Trung Hoa đã sống ở đó. Những di tích lịch sử đào được trên đảo Xisha như bình, đồ gốm, và các di vật khác từ những năm 420 cho đến thời nhà Thanh, cho thấy từ thế kỷ thứ V, dân Trung Hoa đã sinh sống làm ăn trên các đảo vùng biển Nam Hải.[43] Từ đó Trung Quốc lập luận rằng vì dân Trung Quốc sinh sống ở đó, nên Trung Quốc có chủ quyền.

     Tuy nhiên, luật quốc tế không chấp nhận chủ quyền trên một lãnh thổ được thụ đắc vì có dân sống trên đảo. Trên đảo có rất nhiều loại dân sinh sống tuỳ theo mùa, kể cả dân Việt Nam chứ không phải chỉ có dân Trung Hoa và tư nhân không có quyền chiếm hữu lãnh thổ.

 

     * Từ thời nhà Nguyên đến nay

     Trung Quốc viện dẫn rằng Trung Quốc gửi một nhà chiêm tinh học đến đảo để tham quan và lấy kích thước đảo.[44]

-    Những cuộc viễn chinh được viện dẫn cho thời kỳ này thực ra là viễn chinh đến những vùng khác như vùng Java chứ không phải tại Xisha hoặc Nansha.

-    Đoạn được viện dẫn để chứng minh cho những cuộc tuần tiễu và viễn chinh trên đảo Xisha và Nansha, trích từ quyển Nguyên Sử (Yuan Shi) như sau:

    “… thuyền đi qua Qizhou Yang và Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao Chỉ) và Zhangcheng (Quy Nhơn),… họ đổ bộ lên những đảo như Hundun Dayang, đảo Ganlan, Jialimada, và Julan, họ đóng ở đó và chặt cây để làm những thuyền nhỏ…”

          Tác giả giải thích Qizhou Yang và Wanlishitang là Xisha và Nansha, còn Jialimada là Bornéo hiện nay[45]. Tuy nhiên, điểm này mâu thuẫn với đoạn trích trong quyển Hải Lục:

          “Vạn Lý Trường Sa nằm ở Đông Nam của Vạn Lý Thạch Đường”.[46]

     Dựa vào câu trích dẫn trên trong quyển Hải Lục, nếu chấp nhận hai cái tên này ám chỉ Nansha và Xisha, thì Vạn Lý Trường Sa phải là Nansha, còn Vạn Lý Thạch Đường phải là Xisha. Thế nhưng, quyển Nguyên Sử nói trên thì lại được diễn giải Vạn Lý Thạch Đường (Wanlishitang) tức là Nansha, và Qizhou Yang tức là Xisha. Rút cuộc người đọc không biết đâu là Nansha, đâu là Xisha nữa. Nếu ráp hai câu trích dẫn trên với câu trong quyển Chu Phan Chí đã được nêu ở đoạn trên: “Phía Đông Hải Nam là Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường”, thì Vạn Lý Thạch Đường có thể là Macclesfield Bank. Tác giả Marwyn Samuels cũng khẳng định như vậy (xem sách của Marwyn Samuels, tr. 18 và 19, Reference Note 31).

     Một điểm khác có thể chứng minh Wanlishitang thực ra là Macclesfield Bank là câu trích trên của quyển Nguyên Sử: “… thuyền đi qua Qizhou Yang và Wanlishitang, ngang Jiaozhi (Giao Chỉ) và Zhangcheng (Quy Nhơn),…”. Nếu theo thứ tự trước sau trong lộ trình thì Wanlishitang không thể là Nansha, mà là Macclesfield Bank vì thuyền không thể đi ngang Nansha trước khi đi ngang qua Giao Chỉ được. Hơn nữa, đoạn này cho thấy thuyền chỉ đi qua Quizhou Yang và Wanlishitang, chứ không có chỗ nào nói là tuần tiễu trên hai đảo Xisha và Nansha (nếu chấp nhận Qizhou Yang và Wanlishitang là Xisha và Nansha).[47]

     Một đoạn khác được viện dẫn từ quyển Đảo Di Chí Lược (Abridged Records of Islands and Barbarians) của Wang DaYuan mà tác giả giới thiệu là một nhà hàng hải nổi tiếng thời Nguyên:

  “Gốc của Shitang bắt nguồn từ Chaozhou. Nó ngoằn ngoèo như một con rắn dài nằm trên biển, vắt ngang biển tới gần nhiều nước; nó được gọi theo lối bình dân là: Wanlishitang. Theo sự ước đoán của tôi, nó dưới 10.000 lý… Ta có thể nhận định được những nhánh của nó. Một nhánh vươn tới vùng Java, một nhánh Boni và Gulidimen, và một nhánh vươn tới phía tây của biển về phía Kunlun… Muốn an toàn thì nên tránh nó, vì đến gần rất nguy hiểm.”[48]

     Cả đoạn này cũng thế, không thấy nói là quân của Trung Hoa đi tuần tiễu quanh đảo hoặc đi viễn chinh đổ bộ lên đảo. Ngược lại, quần đảo được tả như là một con quái vật, có phần ghê gớm và đáng sợ, đáng tránh xa là đằng khác. Nếu tả một lãnh thổ mà mình xem như sở hữu của mình thì không bao giờ văn lại xa lạ như vậy cả.

     Trung Quốc cũng lập luận rằng dưới thời Minh, thế kỷ XV, nhà thám hiểm Cheng Ho (Trịnh Hoà) đã đi xuyên Biển Đông 7 lần, và khi trở về đã đưa Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ.[49]

     Tuy nhiên, những chuyến đi này hoàn toàn không hề có sự chiếm hữu hai quần đảo nói trên.[50] Những chuyến đi này không phải là viễn chinh để chiếm hữu đất mà nhằm thám hiểm biển để biết địa hải, tìm mối giao thương, và phô trương lực lượng với các quốc gia trong vùng, chư hầu của Trung Hoa.[51]

     Tác giả Samuels kết luận rằng ngay trong thời ấy các đảo vẫn không được Trung Hoa chú ý tới.[52]

     Để kết luận cho đoạn “chủ quyền lịch sử của Trung Quốc”, chúng ta có thể nói rằng những đoạn viết trước thế kỷ XIII chỉ chứng minh được việc các thuyền của Trung Hoa có đi lại trên biển Nam Hải. Những tại liệu này không nói đến một tên đảo nào trong hai quần đảo cả. Những tài liệu đầu tiên nêu tên đảo là những tài liệu cuối đời nhà Nguyên và dưới đời nhà Tống (thế kỷ XIII). Tuy nhiên những tài liệu này nêu tên Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường – không biết có phải là Xisha và Nansha hay không, nhất là Vạn Lý Thạch Đường – được tả nằm ở phía đông đảo Hải Nam, thì chắc chắn không phải là Nansha, mà có thể là Macclesfield Bank. Dù sao, những tài liệu này cũng chỉ chứng minh các thuyền của Trung Hoa có đi ngang và tình cờ thấy các đảo này trên lộ trình xuyên Biển Đông. Không có chữ nào cho thấy rằng Trung Hoa đã cho tàu đi tuần tiễu quanh các đảo đó với tư cách là chủ của đảo, để bảo vệ đảo, như là biên giới của mình. Cũng không có câu nào chứng minh rằng Trung Hoa đã tổ chức những cuộc viễn chinh trên hai quần đảo Xisha và Nansha, mà chỉ nói đến đi trấn an Giao Chỉ, viễn chinh ở Malaixia, Bornéo, Java.

     Theo luật quốc tế cổ điển thì chỉ nhìn thấy đảo không cần đổ bộ lên là được chủ quyền trên quyền khám phá. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này áp dụng cho các quốc gia phương Tây ngày xưa ra đi để khám phá, để tìm đất mới. Còn Trung Quốc chỉ đi ngang, tình cờ thấy, sau đó không hề chiếm hữu, không hề xem đảo như là của mình, để rồi mấy thế kỷ sau, khi quốc gia khác chiếm, mới cho rằng mình đã khám phá. Trường hợp như vậy cũng phải đặt câu hỏi là chỉ tình cờ trông thấy, không hề có ý định chiếm đất thì có thực sự là quyền khám phá theo nghĩa pháp lý hay không? Có thể nại quyền khám phá hay không khi thiếu yếu tố tinh thần là ý chí muốn tìm thấy đất mới và xem nó thuộc quyền sở hữu của mỉnh? Trường hợp Trung Hoa là “biết” chứ không phải khám phá.[53]

     Đặt giả thuyết là Trung Hoa có quyền khám phá, thì quyền khám phá này mới là quyền ban đầu, quyền phôi thai (inchoate title), bởi vì sau đó Trung Hoa không hề chiếm hữu đảo, dù là chiếm hữu tượng trưng, không hề đổ bộ lên đảo, và không hề hành xử chủ quyền. Nói chung là không hề xem đảo như là của mình. Toà án quốc tế đã phán quyết nhiều lần rằng quyền khám phá phải được hoàn tất bởi sự chiếm hữu, trong một thời gian tương đối, thì mới có hiệu lực.[54]

     Giáo sư Marwyn Samuels đã phân tích thái độ của Trung Hoa thời đó. Ông cho rằng chính sách của Trung Hoa cuối thời nhà Minh và thời nhà Thanh, không quan tâm đến vùng biển ngoài khơi mà chỉ chú tâm đến việc trấn giữ biên cương nội địa, vùng SinKiang (Tân Cương), Mông Cổ và biên giới phía bắc, nên lực lượng hải quân rất kém.[55] Dưới thời nhà Nguyên, là thời lực lượng hải quân hùng mạnh (thế kỷ XIV), Trung Hoa cũng vẫn không quan tâm đến những đảo ngoài khơi biển Đông, và không có ý định chiếm hữu chúng.[56] Ngược lại, các thuyền bè còn sợ chúng và tránh không dám đến gần vì sợ đá ngầm và nước cạn đã từng làm đắm bao nhiêu tàu của các nước khác. Các thuỷ thủ Trung Hoa thời đó đã có câu tục ngữ truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác: “Trên đường đi ra thì sợ Thất Châu (tức là Thất Châu Dương mà Trung Quốc bây giờ cho là Xisha), trên đường đi về thì hãi Côn Lôn.”[57]

     Với tâm lý thời đó như vậy làm sao Trung Hoa có thể xem đảo như sở hữu chủ nhằm viễn chinh và tuần tiễu quanh đảo nhằm bảo vệ đảo được? Điều này được kiểm chứng bởi những thái độ im lặng không phản đối sự hành xử chủ quyền của Việt Nam, mặc dù Trung Hoa biết đến những hoạt động của Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải. Nó cũng được kiểm chứng bởi vụ đắm tàu La Bellona và Imeji Maru (xem mục I của bài này). Tất cả những dữ kiện trên cho thấy Trung Hoa không những không hành xử chủ quyền, không xem những quần đảo như của Trung Hoa, mà lại còn minh thị và mặc thị công nhận chủ quyền của Việt Nam.

 

2.  Hiệp ước 1887

     Trung Hoa ngày xưa đã viện dẫn Hiệp ước Pháp – Thanh ký năm 1887 để khẳng định rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về mình. Sau này, phát ngôn viên của Trung Quốc và các tác giả Trung Quốc đều nhiều lần dùng Hiệp ước này để khẳng định Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc.

     Thực sự, Hiệp ước này không phải là hiệp ước phân chia những đảo ở ngoài xa khơi (high sea) giữa toàn bộ nước Việt Nam và Trung Hoa mà chỉ ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Ngày nay, trong những cuộc đàm phán, Trung Quốc không nhắc đến Hiệp ước này nữa. Nhưng cho đến hiện tại, không ít các tác giả mà phần lớn là những tác giả Trung Hoa sống ở nước ngoài viết về vấn đề này, vẫn viện dẫn Hiệp ước 1887 như một trong những lý lẽ chính để chứng minh là hai quần đảo thuộc về Trung Quốc. Và một số các tác giả phương Tây, có lẽ vì ảnh hưởng dây chuyền, dùng những bài viết trên, nên cũng kết luận là Hiệp ước này trao cho Trung Hoa chủ quyền trên các đảo tranh chấp.[58] Vì vậy, thiết tưởng cũng nên làm sáng tỏ sự lầm lẫn này, vì ảnh hưởng dây chuyền của nó trong dư luận thế giới.

     Một số tác giả trên đã trích đoạn sau đây của Hiệp ước để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc.

     “Từ Quảng Đông, những điểm tranh chấp nằm từ phía đông đến phía tây bắc của Móng Cái, ngoài biên giới đã được hai phái bộ xác định, có thể coi là thuộc về Trung Quốc. Những hòn đảo nằm ở phía đông dọc đường kinh tuyến đông 105°43’ của Paris, có nghĩa là trục bắc-nam đi qua điểm phía đông của đảo Tch’a Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và làm thành đường biên giới, cũng thuộc về Trung Quốc. Các đảo Go-tho và các đảo khác nằm phía tây của đường kinh tuyến thuộc về An Nam.”

      Các tác giả trên lý luận rằng vì Hoàng Sa và Trường Sa nằm ở phía đông kinh tuyến Paris 105°43’ nên thuộc về Trung Quốc.[59]

      Có tác giả cho rằng phải giải thích Hiệp ước theo sát nghĩa lời văn trong Hiệp ước.[60] Thực ra, nếu giải thích sát nghĩa, thì phải hiểu Hiệp ước 1887 là một hiệp ước phân chia biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa mà thôi, chứ không phải chia các đảo ở ngoài xa khơi (high sea, haute mer), không thuộc vùng biển của miền Bắc Việt Nam. Chỉ cần nhìn tên của Hiệp ước cũng đủ để thấy điều đó. Tên Hiệp ước là “Convention relative à la delimitation de la frontière entre la Chine et le Tonkin.”[61]

      Hơn nữa, Công ước Vienne về điều ước quốc tế có ấn định rằng một hiệp ước phải được giải thích sát nghĩa những từ được dùng trong hiệp ước, nhưng nếu phương pháp này đưa đến một sự “vô lý hay ngu xuẩn”, thì có thể dùng những tài liệu hoặc hiệp ước khác, có liên quan đến hiệp ước này, hoặc tìm hiểu mục đích của hiệp ước để giải thích những điểm không rõ rệt.[62]

      Dựa vào những điều khoản trên của Công ước Vienne, chúng ta có thể xét Hiệp ước 1887 theo ba phương pháp: 1) xét sát nghĩa lời văn của Hiệp ước, 2) xét toàn thể bản Hiệp ước, và 3) tìm hiểu mục đích của Hiệp ước.

 

2.1.  Xét sát nghĩa lời văn bản Hiệp ước

      Việc này thật ra rất đơn giản trong trường hợp Hiệp ước 1887, như đã nói trên, chỉ cần nhìn tên của Hiệp ước trên bản chính bằng tiếng Pháp, cũng đủ thấy Hiệp ước này chỉ liên quan đến biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Tiếng Pháp “Tonkin” là miền Bắc Việt Nam. Trong thời thuộc địa, Pháp đã chia Việt Nam ra làm ba kỳ: miền Bắc gọi là Tonkin, miền Trung gọi là An Nam hoặc vẫn giữ tên của cả nước Việt Nam, và miền Nam gọi là Cochinchine. Các tác giả nêu trên tưởng rằng Tonkin là toàn thể nước Việt Nam.

      Chữ “frontière” dùng trong Điều 2 của Hiệp ước cho thấy rõ ràng là kinh tuyến Paris 105°43’ là biên giới biển, nhưng chỉ là biên giới biển thuộc miền Bắc Việt Nam (Tonkin), chứ không phải là đường phân chia các đảo ngoài khơi xa, ngang với miền Trung Việt Nam và miền Nam Việt Nam. Hiệp ước đã ấn định rõ chiều hướng của biên giới đó là hướng bắc nam, và nó kéo ngang góc đông của đảo Trà Cổ. Và vì đây là biên giới giữa Tonkin và Trung Hoa nên phải hiểu biên giới này chấm dứt ở điểm nào ngang với ranh giới mà trước kia Pháp đã ấn định giữa Tonkin và Annam (tức là ranh giới giữa miền Bắc Việt Nam và miền Trung Việt Nam).

      Việc ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa cũng dễ hiểu nếu nhìn vào cách Pháp chia và quản trị nước Việt Nam thời đó. Nhằm thực hiện chính sách “chia để trị”, Pháp đã chia Việt Nam thành ba kỳ với ba chế độ cai trị khác nhau. Miền Bắc theo chế độ bảo hộ, miền Trung – vì hệ thống vua và triều đình Huế vẫn còn (dù chỉ là tượng trưng) – nên theo chế độ tự trị, và miền Nam thì theo chế độ thuộc địa. Ba miền được xem gần như ba xứ riêng biệt. Vì vậy, vấn đề ấn định biên giới chỉ là giữa Tonkin (miền Bắc) và Trung Hoa mà thôi, chứ không phải miền Trung hoặc miền Nam, là chuyện dễ hiểu đối với chính sách thuộc địa của Pháp thời đó. Nói tóm lại, dùng phương pháp giải thích sát nghĩa cho thấy hai chữ “Tonkin” và “frontière” chỉ rõ đây là biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Nó bao gồm biên giới đất và biên giới biển tức là vùng Vịnh Bắc Bộ.[63]

 

2.2.  Xét toàn bộ bản Hiệp ước

      Toàn bộ bản Hiệp ước không có chỗ nào nói đến Hoàng Sa và Trường Sa. Toàn văn bản Hiệp ước nói đến việc kẻ biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa, và ấn định những điểm mà Uỷ ban kẻ biên giới của hai bên Pháp-Thanh không đồng ý với nhau được, đó là hai đoạn biên giới Vân Nam và Quảng Đông.

      Các tác giả nói trên chỉ viện dẫn đoạn liên quan tới đoạn biên giới Quảng Đông. Tuy nhiên, trước đó, Hiệp ước có nói: “Những điểm mà Uỷ ban hai bên không đồng ý với nhau được, và những điều chỉnh được dự trù ở Điều 3 của Hiệp ước 9-6-1885 được ấn định như sau: ở Quảng Đông, những điểm tranh chấp…”.

     Sau đoạn nói đến biên giới Quảng Đông, tới đoạn ấn định biên giới Vân Nam: “Trên vùng biên giới Vân Nam, đường biên giới được ấn định như sau:…”[64]

     Nếu theo sự giải thích của Trung Hoa, là tất cả những đảo nào nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’ thuộc về Trung Hoa, thì không những Hoàng Sa, Trường Sa, mà tất cả các đảo ven bờ biển Việt Nam nằm ở phía đông của kinh tuyến Paris 105°43’ đều thuộc về Trung Quốc. Sự giải thích đưa đến một kết luận “vô lý hoặc ngu xuẩn” (absurd or unreasonable) theo đúng như danh từ mà Công ước Vienne dùng. Do đó, chúng ta có thể tìm hiểu mục đích của Hiệp ước 1887 bằng cách xét các tài liệu và các hiệp ước liên quan đến Hiệp ước 1887.

 

2.3.  Mục đích của Hiệp ước 1887

      Nếu đọc bản báo cáo của ông Dureau de Vaulcomte gửi cho Bộ Ngoại giao Pháp giải thích Hiệp ước 1887, chúng ta càng thấy rõ hơn mục đích của Hiệp ước là kẻ hai đoạn tranh chấp của biên giới miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa.[65] Hiệp ước 1887 được ký thể theo Điều 3 của Hiệp ước 1885 là một hiệp ước hữu nghị nhằm chấm dứt sự xung đột giữa hai bên Pháp – Thanh. Sau khi Pháp đưa quân đến Việt Nam thì ba Tổng đốc: Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam cho quân vượt biên giới giữa Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Vì vậy, để chấm dứt tình trạng này và vãn hồi lại biên giới cũ, Pháp đã thoả thuận với Trung Hoa ở Điều 3 của Hiệp ước 1885, là hai bên sẽ lập một Uỷ ban kẻ biên giới gồm chuyên viên của cả hai bên để kẻ lại biên giới. Hiệp ước 1885 cũng ấn định là nếu có điểm bất đồng giữa chuyên viên của hai bên về bất cứ điểm nào liên quan đến việc kẻ biên giới thì Uỷ ban này sẽ chuyển vấn đề sang cho chính quyền hai bên xét xử.[66] Biên giới được kẻ chia ra làm ba đoạn: đoạn biên giới Quảng Tây, đoạn biên giới Quảng Đông, và đoạn biên giới Vân Nam. Việc ấn định đoạn Quảng Tây không gặp rắc rối gì, nhưng hai bên không thoả thuận được trong việc kẻ hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam. Từ đó mới có Hiệp ước 1887 do hai chính quyền ký để giải quyết hai đoạn biên giới trên.

     Tại Quảng Đông, sự bất đồng liên quan đến vùng Paklung (Bạch Long) và những đảo quanh đó. Vì có quân thổ phỉ từ Trung Hoa sang tập trung ở vùng này, nên Pháp đã đưa quân đến chiếm đóng. Trung Hoa phản đối, đòi vùng này là vùng của Trung Hoa. Do đó, mới xảy ra sự tranh chấp.[67]

     Như vậy, sự tranh chấp không liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa. Lúc đó, Trung Hoa chưa để ý đến hai quần đảo này, và Pháp cũng chưa biết rằng Việt Nam đã có chủ quyền trên hai quần đảo đó. Vì thế lúc đó chưa hề có tranh chấp trên hai quần đảo này. Cho nên, Pháp và Trung Hoa khi ký kết Hiệp ước 1887 không hề nghĩ đến hai quần đảo này. Tóm lại, mục đích của Hiệp ước 1887 là kẻ hai đoạn biên giới Quảng Đông và Vân Nam; và đường biên giới kẻ theo Điều 2 của Hiệp ước 1887 chỉ giới hạn ở biên giới miền Bắc Việt Nam và Vịnh Bắc Bộ mà thôi.

     Trung Quốc một mặt nói rằng Hiệp ước 1887 áp dụng cho Hoàng Sa và Trường Sa, là những đảo nằm ngoài khơi xa, nhưng mặt khác, khi bàn về biên giới vùng Bắc Bộ thì Trung Quốc lại khẳng định rằng Hiệp ước này chỉ phân chia “những đảo ở vùng Bắc Bộ”, chứ không phải là biên giới biển. Ngày 12 tháng 5 năm 1973, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hàn Niệm Long (Han Nian Long) đã tuyên bố điều nói trên. Như vậy, Trung Quốc tự mâu thuẫn.[68]

 

3.  Những lời tuyên bố của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

      Trung Quốc nói rằng Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa vì những dữ kiện sau đây:

·   Ngày 15 tháng 6 năm 1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nói rằng “theo những tài liệu của Việt Nam, trên phương diện lịch sử, Xisha và Nansha thuộc lãnh thổ của Trung Quốc.”

·   Ngày 14 thágn 9 năm 1958, trong bối cảnh của thời kỳ chiến tranh lạnh, khi Mỹ bắt đầu can thiệp vào Việt Nam, tuyên chiến với Trung Quốc, và hạm đội Mỹ đi lại tuần tiễu trên eo biển Đài Loan, Trung Quốc bèn tuyên bố lãnh hải của mình là 12 dặm. Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi bức công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai nguyên văn như sau:

      “Thưa đồng chí Tổng lý

      Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

      Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể.

      Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.[69]

·    Ngày 9 tháng 5 năm 1965, nhân lúc Mỹ leo thang chiến tranh tại Việt Nam và ấn định những vùng chiến thuật, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tuyên bố Xisha thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

      Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng không tuyên bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả. Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau:

      “Dans ce contexte, les declarations ou prise de position éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont sans consequences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement competent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…”[70]

      (Có thể dịch là: “Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”).

      Một lý lẽ thứ hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

      Nếu đặt giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.[71]

      Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.”[72] Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.

     Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.[73] Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:

1.  Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).[74]

2.  Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”.

3.  Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.[75]

4.  Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…[76]

      Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.[77]

      Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch/Hà Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.

      Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.[78]

      Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2/ và 3/ đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt.[79] Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.

      Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.

      Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Toà án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances). Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.

      Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.[80]

      Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.[81]

      Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý.

      Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp. Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.

      Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel. Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời.[82] Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc gia đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.

     Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử.[83] Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng. Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương.

 

III. KẾT LUẬN

     Những phân tích trên cho thấy lý lẽ của Việt Nam mạnh hơn của Trung Quốc, vì Việt Nam đã sử dụng hai quần đảo liên tục trong ba thế kỷ, sử dụng một cách hoà bình không có sự phản đối của bất cứ một quốc gia nào, kể cả Trung Quốc. Không những thế, sách sử của Trung Quốc lại còn công nhận rằng những quần đảo đó là vòng đai phòng thủ của Việt Nam, và qua thái độ của họ trong thời gian đó thì Trung Quốc cũng đã mặc thị công nhận chủ quyền của Việt Nam trên những quần đảo này. Nếu cho rằng Chúa Nguyễn đã khai thác các đảo từ đầu thế kỷ XVII, sau gần 100 năm, chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã hoàn tất. Chủ quyền lịch sử đó lại được củng cố thêm qua sự chiếm hữu của vua Gia Long và Minh Mạng. Đồng thời, chủ quyền vẫn được hành xử liên tục qua sự khai thác và quản trị của hai Đội Hoàng Sa và Bắc Hải, là những bộ phận của nhà nước.

     Phía Trung Quốc cũng đã đưa ra những tài liệu để chứng minh rằng mình đã khám phá và hành xử chủ quyền trước tiên. Tuy nhiên, những tài liệu này chỉ cho thấy những thuyền bè của Trung Quốc thời đó đã lui tới Biển Đông, và trong lộ trình, họ tình cờ thấy những đảo mang nhiều tên khác nhau, nhưng không có đảo nào tên là Xisha hay Nansha. Nếu đặt giả thuyết là Trung Quốc đã khám phá ra những đảo này, thì Trung Quốc đã không hành xử chủ quyền trên đó. Sự hiện diện của những người đánh cá không đủ để gọi rằng đó là hành xử chủ quyền của nhà nước. Do đó, chủ quyền lịch sử mà Trung Quốc khẳng định mình có, rất yếu. Phần lớn các tác giả luật gia chuyên về luật quốc tế, trừ những tác giả Trung Hoa, đều công nhận điều này.[84] So sánh chủ quyền lịch sử viện dẫn bởi hai bên, chúng ta có thể kết luận rằng giữa Việt Nam và Trung Quốc thì Việt Nam mới là quốc gia có chủ quyền lịch sử trên hai quần đảo. Phân tích còn cho thấy chủ quyền lịch sử của Việt Nam đã được hoàn tất từ thế kỷ XVII, dưới thời Chúa Nguyễn.

     Hiệp ước Pháp-Thanh 1887 không trao chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc vì Hiệp ước này chỉ là hiệp ước ấn định biên giới giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa. Do đó, nó chỉ ấn định phần biên giới ở Vân Nam, Quảng Đông và Vịnh Bắc Bộ.

     Những lời tuyên bố trước đây của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về hai quần đảo này không có hiệu lực vì trước năm 1975 hai quần đảo này không thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam Cộng hoà. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là quốc gia tranh chấp, nên những lời tuyên bố này chỉ là những lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không liên can. Hơn nữa, lúc đó nếu không chấp nhận rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia thứ ba, thì “estoppel” cũng không áp dụng trong những trường hợp này, vì Trung Quốc đã không bị thiệt hại gì, và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hưởng lợi gì qua những lời tuyên bố đó. Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ là một lời hứa bị tác động bởi hoàn cảnh chiến tranh. Cuối cùng, nếu xem ba lời tuyên bố này như là của Việt Nam nói chung, thì nó thiếu tính liên tục và trường kỳ để có thể làm mất đi chủ quyền của Việt Nam, với tư cách là một chủ thể duy nhất, đã hành xử và khẳng định quyết liệt từ hơn ba thế kỷ nay.

      Trên thực tế thì hiện nay, Trung Quốc đã kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Trung Quốc đã cho xây cất nhiều công trình nhằm củng cố sự chiếm hữu bất hợp pháp. Một sự chiếm hữu bất hợp pháp, với thời gian, nếu không có sự phản đối từ quốc gia kia, và nếu có sự thừa nhận của các quốc gia thứ ba, sẽ tạo nên chủ quyền cho quốc gia chiếm hữu. Vì thời gian với sự công nhận sẽ “tẩy xoá tội lỗi”.[85]

      Trong hoàn cảnh hiện tại, muốn bảo đảm cho sự chiếm hữu của Trung Quốc không thể tạo ra chủ quyền được, thì Việt Nam phải thường xuyên lên tiếng phản đối và khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa (và cả Trường Sa nữa). Việt Nam cũng nên công khai đề nghị Trung Quốc đưa vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa ra trước Toà án Quốc tế. Nếu Trung Quốc thật tình tin tưởng rằng mình có căn bản pháp lý vững chắc để khẳng định chủ quyền trên hai quần đảo này, thì Trung Quốc không có lý do gì để từ chối một giải pháp pháp lý.

      Còn Trường Sa thì hiện nay đang bị 6 quốc gia và vùng lãnh thổ chiếm giữ là: Philippin, Việt Nam, Đài Loan, Trung Quốc, Malaxia và Brunây. Quốc gia nào cũng đòi chủ quyền của mình trên hết cả quần đảo hoặc một số đảo. Đến nay, vấn đề vẫn chưa giải quyết được mà còn trầm trọng thêm.

      Năm 1988, Trung Quốc lần đầu tiên ra đánh chiếm một số đảo ở Trường Sa, tàu của Việt Nam bị đánh đắm, nhưng Trung Quốc chặn không cho tàu của Hội Chữ thập đỏ đến cứu. Đây là một sự vi phạm những điều luật cơ bản nhất của chiến tranh. Như vậy, có thể suy đoán Trung Quốc sẽ không ngần ngại gì mà không tiếp tục sử dụng vũ lực. Từ đó đến nay, lâu lâu, Trung Quốc lại chiếm thêm vài đảo ở quần đảo Trường Sa. Trung Quốc một mặt vẫn hô hào tôn trọng luật quốc tế, và đề nghị thương thuyết song phương, nhưng lời nói của Trung Quốc không đi đôi với việc làm.[86] Vì vậy, không thể dựa vào những lời nói của Trung Quốc để kết luận rằng Trung Quốc sẽ ngừng không dùng vũ lực. Viễn tưởng Trung Quốc dùng biện pháp vũ lực để thôn tính hết các đảo tại quần đảo Trường Sa càng dễ xảy ra hơn, khi mà Mỹ và Nga đã rút khỏi Biển Đông, để lại một khoảng trống chính trị và quân sự tại vùng này, khiến cho Trung Quốc hiện nay là một quốc gia bá chủ ở Biển Đông.[87] Điều này rất đáng lo ngại. Trung Quốc nắm hết cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là nắm hết Biển Đông, mà Biển Đông là con đường giao thông quan trọng của các thuyền bè Nga, Mỹ, Nhật Bản và các quốc gia khác trên thế giới.[88]

      Một giải pháp thương thuyết song phương giữa Trung Quốc và các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp khó thực hiện được một cách công bằng, vì sức mạnh để thương thuyết giữa hai bên không bằng nhau, nó chênh lệch và mạnh dĩ nhiên là Trung Quốc. Cũng vì vậy mà Trung Quốc cho đến nay chỉ chấp nhận thương thuyết song phương. Trung Quốc muốn thương thuyết song phương để buộc quốc gia đối phương phải thương thuyết theo chiều mà Trung Quốc muốn. Nếu không Trung Quốc sẽ sử dụng vũ lực.[89] Đây chỉ là một chiến thuật để Trung Quốc tranh thủ thời gian để củng cố thêm thế của mình đối với hai quần đảo. Thời gian càng kéo dài thì càng có lợi cho Trung Quốc.

      Giải pháp khai thác chung mà Trung Quốc đề nghị không thể thực hiện được khi mà vấn đề chủ quyền chưa được giải quyết. Như vậy, thời gian càng kéo dài thì lại càng củng cố được những sự chiếm hữu bất hợp pháp, và quốc gia nào có chủ quyền pháp lý vững vàng sẽ bị thiệt thòi.

      Giải pháp đưa ra Toà án Quốc tế hoặc Trọng tài Quốc tế có lẽ công bằng nhất, nhưng Trung Hoa ngày xưa đã hơn một lần phủ nhận giải pháp này, khi Pháp đề nghị vào năm 1932 và năm 1947. Đối với Trung Quốc bây giờ thì lại càng khó hơn nữa.

      Giải pháp hiện thời, thực tiễn nhất là đem ra khối ASEAN hoặc Liên hợp quốc để giải quyết. Liên hợp quốc là giải pháp có thể hữu hiệu hơn, vì đem ra cơ quan này có tính cách khoáng đại, cho phép Mỹ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia khác tham dự vào. Hơn nữa, trường hợp Liên hợp quốc không giải quyết được, hoặc nếu có vấn đề trong việc giải quyết, Liên hợp quốc vẫn có quyền đem vấn đề ra Toà án quốc tế và yêu cầu Toà cho ý kiến (avis consultatif) mà không cần sự đồng ý của bất cứ quốc gia nào. “Thủ tục cho ý kiến” của Toà án Quốc tế không có hiệu lực quyết định như một bản án thực sự, nhưng nó vẫn có một tác động mạnh mẽ trong dư luận thế giới. Vụ tranh chấp vùng Tây Sahara đã được Toà cho ý kiến trong những hoàn cảnh như trên (nghĩa là thể theo yêu cầu của Liên hợp quốc). [90]

      Cuộc tranh chấp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cần phải giải quyết càng sớm càng tốt. Để càng lâu, nó càng đe dọa hòa bình ở Đông Nam Á và có thể là hoà bình thế giới.

* Tham luận đọc tại Hội Thảo Hè Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông tại New York City, ngày 15-16 tháng 8, 1998.


[1] Tiến sĩ Luật, Đại học Sorbonne.

[2] Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục. Trích từ Võ Long Tê, Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages viêtnamiens d’histoire et de geographie, Sài Gòn, 1974, tr. 62.

[3] Eveil economique de l’Indochine, no. 741.

[4] Nguyễn Quốc Định: Droit International Public, LIbrarie Générale de Droit et de Jurisprudence, Paris, 1975. tr. 401-402.

[5] Robert Jennings: The acquisition of territory in international law (New York, 1963), viện dẫn Charles de Visscher. Luật gia Charles de Visscher viết như sau về phương pháp consolidation:

        “… Le long usage établi, qui en est le fondement, ne fait que traduire un ensemble d’interêts et de relations qui tendent par eux meme à rattacher un territoire ou un espace maritime à un état determine… elle peut être repute acquise… par une absence d’opposition suffisemment prolongée…”, xem Jennings, tr. 25, lưu ý 2.

[6] Võ Long Tê, Kes archipels de Hoàng Sa et de Trường Sa selon les anciens ouvrages viêtnamiens d’histoire et de geographie, Sài Gòn, 1974, tr. 39 và 40.

[7] Sđd., tr. 34-35.

[8] Sđd. tr. 48.

[9] Lê Quý Đôn: Phủ biên tạp lục, 1776. Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao Việt Nam viện dẫn: Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội, 1979, tr. 13.

[10] Sđd, tr. 14-15.

[11] Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1982, tr. 13 và 14.

[12] Võ Long Tê, Sđd, tr. 69.

[13] M.A. Dubois de Jancigny: Thế giới, lịch sử và sự mô tả các dân tộc, các tôn giáo của họ, Ceylan, (1830). Võ Long Tê viện dẫn, Sđd, tr. 168.

[14] J. B. Chaigneau (1769-1825): Notice sur la Cochinchine, 1820. Võ Long Tê viện dẫn, Sđd, tr. 168.

[15] Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao, Sđd, tr. 21.

[16] Võ Long Tê, Sđd, tr. 100.

[17] Vụ Thông tin và Báo chí Bộ Ngoại giao, Sđd, tr. 21.

[18] Sđd, tr. 25.

[19] Gutzlaff: Geography of the Cochinchinese Empire in Journal of the Geographical Society of London, 1849, tập XIX. Viện dẫn bởi Nhà xuất bản Sự thật, Sđd, tr. 16, Gutzlaff viết như sau:

     “Chính phủ An Nam thấy đặt một hạn ngạch thuế thì có thể thu được nhiều lợi bèn lập những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này (tức quần đảo Paracel, mà tác giả gọi là KatVang) để thu thuế mà mọi người tới đây đều phải nộp…”

[20] Vụ án Clipperton: Recueil des Sentences Arbitrales, tập II.

[21] Teh-Kuang Chang: China’s claim of sovereignty over Spratley and Paracel Islands: a historical and legal perspective, Case Western Reserve Journal of International Law, vol. 23 (1991), p. 418.

[22] Jian-Ming Shen: International law rules and historical evidence supporting China’s title to the South China Sea islands, Hastings International and Comparative Law Review, vol. 21 (1997), p. 22 & 23.

[23] Vụ án đảo Palmas: Receuil des Sentences Arbitrales, tập II, tr. 859-860.

[24] Monique Chemillier-Gendreau: La souveraineté sur les Paracels et Spratleys. L’Harmatan, Paris, 1996, p. 71.

[25] Võ Long Tê, Sđd, tr. 111.

[26] Sđd, tr. 110.

[27] Gendreau, Sđd, tr. 21, 23.

[28] Võ Long Tê, Sđd, tr. 134.

[29] Võ Long Tê, Sđd, tr. 61.

[30] Sđd, tr. 157.

[31] Tao Cheng: The dispute over the South China Sea Islands, Texas International Law Journal, vol. 10 (1975), p. 272.

[32] Jian-Ming Shen, Sđd, tr. 18.

[33] Sđd, tr. 17.

[34] Elizabeth van Wie Davis: China and the Law of the Sea Convention, Follow the Sea, New York, 1995, p. 154.

     Cũng xem Marwyn Samuels: Contest for the South China Sea, New York/London, 1982, tr. 16.

     Và Shen, Sđd, tr. 21.

[35] Van Wie Davis, Sđd.

     Cũng xem Shen, Sđd, tr. 31.

     Cũng xem Hungdah Chiu & Choon-ho Park: Legal status of the Paracels and Spratly Islands, Ocean Development and International Law Journal, tập 3 (1975), tr. 43.

[36] Samuels, Sđd, note 31, tr. 38.

[37] Lưu Văn Lợi: Cuộc tranh chấp Việt-Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995, tr. 10.

[38] Shen, Sđd, tr. 15.

[39] Sđd, tr. 18.

[40] Sđd, tr. 19.

[41] Sđd, tr. 20.

[42] Sđd, tr. 21.

[43] Sđd, tr. 20 và 21. Cũng xem Teh Kuang Chang, Sđd, tr. 400, và Hungdah Chiu, Sđd, lưu ý 32, tr. 463 và 465.

[44] Shen, Sđd, tr. 27.

[45] Sđd.

[46] Xem chú thích 2 ở trang 361, Chiu, Sđd, lưu ý 32.

[47] “… guo Qizhou Yang, Wanlishitang…”. Chữ “guo” của tiếng Trung, nghĩa là “qua” của tiếng Việt.

[48] Shen, Sđd, tr. 28.

[49] Hungdah, Sđd, tr. 463.

[50] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 17.

[51] Samuels, Sđd, tr. 21 và 22.

[52] Sđd, tr. 23.

[53] Gendreau, Sđd, tr. 57 và 58. Cũng xem Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 14.

[54] Vụ án đảo Palmas, Sđd, tr. 846. “Inchoate title must be completed within a reasonable time by effective occupation of the region…”.

[55] Samuels, Sđd, tr. 30-31, 42.

[56] Sđd, tr. 20.

[57] Sđd, tr. 17 và 21.

[58] Ít ra các tác giả sau đây đã viện dẫn Hiệp ước 1887:

-  Hungdah, Sđd, tr. 464 và 467.

-  Shen, Sđd, tr. 119.

-  Tao Cheng, Sđd, tr. 274.

-  John Chao: South China Sea: boundary problems relating to the Nansha and Xisha Islands, Chinese Yearbook of International Law, tập 9 (1989-1990): tr. 119 và tiếp theo.

-  Steve Kuan Tsy Yu, Who owns the Paracel and Spratlys? An evaluation of the nature and legal basis of the conflicting territorial claims, Chinese Yearbook of International Law, vol. 9 (1989-1990): p. 5, 7 and 8.

-  Choon-ho Park, The South China Sea dispute: Who owns the islands and the natural resources? Ocean Development and International Law Journal, vol. 5 (1978): p. 34.

-  Marwyn Samuels, Sđd, tr. 52-53.

-  Brian Murphy, Dangerous ground: the Spratly Islands and international law, Ocean and Coastal Law Journal, vol. 1 (1994), p. 201.

-  Elizabeth van De Wie, Sđd, tr. 52-53.

-  Michael Bennet, The PRC and the use of international law in the Spratly Islands dispute, Stanford Journal of International Law, vol. 28 (1992), p. 446.

[59] Hungdah, Sđd, tr. 464.

[60] Shen, supra, tr. 120.

[61] Receuil des Traités de la France, Tome 17 (1886- 1887). Duran & Pedone (Paris), 1891, p. 387.

[62] Convention de Vienne sur le Droit des Traités, 1969, Art. 32.

[63] Có tác giả đã cho rằng Hiệp ước 1887 không ấn định biên giới biển, xem Elizabeth van De Wie, Sđd, tr. 156. Tuy nhiên, nếu theo sát nghĩa lời văn của Điều 2 của bản Hiệp ước (tức là hiểu những từ theo nghĩa thông thường của chúng) thì rõ ràng là kinh tuyến Paris 105°43’ là biên giới biển giữa miền Bắc Việt Nam và Trung Hoa.

      “Les Iles qui sont à l’est du meridien de Paris 105°43’, … c’est à dire de la ligne Nord-Sud passant par le point oriental de l’èle de Tra Co, et formant la frontière…”

[64] Receuil des Traités, Sđd, tr. 387 và 388.

[65] Sđd, Rapport Vaulcomte, tr. 187.

[66] Traité de Paix, d’Amitié et de Commerce conclu à Tien-Tsin le 9/6/1885 entre la France et la Chine, trong Receuil des Traités de la France, Tome 16, tr. 496.

[67] Rapport Vaulcomte, Sđd, tr. 189-191.

[68] Shen, Sđd, tr. 123.

[69] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 105.

[70] Gendreau, Sđd, tr. 123.

[71] Shen, Sđd, tr. 57.

[72] Charles Vallée: Quelqques observations sur l’estoppel en Droit des gens, Revue Générale de Droit International Publie (1973), p. 951, note 7.

[73] D. W. Bowett: Estoppel before International Tribunals and its relation to acquiescence, Bristish Yearbook of International Law, vol. 33 (1957), p. 177.

[74] Antoine Martin: L’Estoppel en droit international public Précédé d’un apercu de la théorie de l’estoppel en droit anglais, Revue Générale de Droit International Publie, vol. 32 (1979), p. 274.

[75] Sđd, tr. 286-300.

[76] Délimitation de la frontière maritime dans la region du Golfe de Maine, Cour Internationale de Justice Receuil, 1984, p. 309-310.

-    Activités militaires et para-militaires au Ncarague et contre celui-ci, Cour Internationale de Justice Receuil, 1984. p. 414-415.

-    Affaire du Temple Préah Vihear, Cour Internationale de Justice Receuil, 1962, p. 22-23, 32.

[77] Brigitte Bollecker-Stern: L’Affaire des essays nucléaires francais devant la Cour Internationale de Justice, Annuaire Francais de Droit International (1974), p. 329.

          Cũng xem Megan Wagner: Jurisdiction by Estoppel in the International Court of Justice, California Law Review, vol. 74, p. 1792.

[78] Cour Internationale de Justice Receuil 1984, Sđd, p. 414.

[79] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 75.

[80] Cour Internationale de Justice Receuil, 1974, tr. 267 và 269.

[81] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 104-110.

[82] Megan Wagner, Sđd, lưu ý 64, tr. 1780.

[83] Bollecker – Stern, Sđd, tr. 331.

[84] Trong các tác giả phương Tây khẳng định lý lẽ chủ quyền lịch sử của Trung Quốc rất yếu, có ít nhất các tác giả sau:

-    Bennett, Sđd, tr. 446;

-    Murphy, Sđd, tr. 201;

-    Roque Jr., Sđd, tr. 203;

-    Chemillier – Gendreau, Sđd, tr. 66;

-    Jean Pierre Ferrieer, xem tiếp, tr. 182;

-    Samuels, Sđd, tr. 40. Giáo sư Samuels không bàn đến vấn đề chủ quyền, nhưng phân tích lịch sử sự liên hệ của Trung Hoa đối với biển Đông và các đảo; ông viết rằng cho đến thế kỷ XIX không có bằng chứng nào rằng nhà Thanh đã chiếm hữu những đảo này làm sở hữu của mình:

        “By the mid-19th Century, the literari cognitive map of the South China Sea had become more elaborate, but still barely touched upon the islands of the sea… There is no evidence here that the Ching State had in any sense absorbed the islands into the imperial domain.”

[85] Jean Pierre Ferrier: Le conflit des iles Paracels et le problème de la souveraineté sur les iles inhabités, Annuảie Francais de Droit International (1975), p. 178: “… quoi qu’il en soit la conquête militaire des iles par la Chine ne peut résoudre le problème juridique: pour qu’une telle occupation, ellegale dans son principe, puisse avoir des effets juridiques, il faut que la reconnaissance par les autres états intervienne et ‘purge juridiquement de ses vices’ l’annexion ainsi réalisée.”

[86] Mark Valencia: China and the South China Sea disputes, Oxford University Press, London, 1995, p. 7.

[87] Bennett, Sđd, tr. 427.

[88] Jeannette Greenfield: China’s practice in the Law of the Sea, Clarendon Press, Oxford, 1992, p. 13.

[89] Mark Valencia, Sđd, tr. 6 và 7. Cũng xem Murphy, Sđd, tr. 209 và 210.

[90] Vụ Sahara Occidental, xem Avis Consultatif, Cour Internationale de Justice Receuil, 1975, tr. 21 tới 28. Trong những trang này, Toà nói về thẩm quyền cho ý kiến của mình thể theo Điều 65, Đoạn 1 trong Quy chế của Toà.

   

©  Thời Đại Mới

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Tài liệu | Leave a Comment »

Chiến lược Hải quânTrung Quốc ở Biển Đông

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN

Số 11 - Tháng 7/2007

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_NgoVinhLong.htm

Chiến lược hải quân của Trung Quốc
và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông

Ngô Vĩnh Long
Đại học Maine
Orono, Maine
Hoa Kỳ

Ngày 28 tháng 12 năm 2006 hầu hết các báo lớn của Trung Quốc đã trích đăng ngay trang đầu bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào ngày trước đó trong một cuộc họp với các sĩ quan hải quân về việc Trung Quốc phải xây dựng một hệ thống hải quân hùng mạnh có thể bảo vệ quyền lợi, quyền thế, và an ninh của Trung Quốc bất cứ lúc nào. Hồ Cẩm Đào nói rằng: “Chúng ta phải cố gắng xây dựng một lực lượng Hải quân Nhân dân hùng mạnh có thể đáp ứng được sứ mạng lịch sử trong một thế kỷ mới và một thời kỳ mới.”[1]

Ngày 28 tháng 12 năm 2006, trả lời câu hỏi của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam về việc Trung Quốc đã tiến hành xây dựng bia chủ quyền tại các điểm cơ sở lãnh hải, trong đó có một số điểm cơ sở trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Dũng nói:

Việt Nam một lần nữa khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này….

Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ trương giải quyết mọi tranh chấp trên biển giữa các nước liên quan bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông năm 2002, vì mục đích tăng cường hợp tác hữu nghị, giữ gìn hòa bình và ổn định trên biển Đông.[2]

Không biết hai sự kiện trên có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không. Nhưng vì Trung Quốc không bị một sự đe dọa nào trên trên đất liền cả (trừ các cuộc biểu tình của nông dân và sự chống đối của một thiểu số khoảng 50 nghìn người đạo Hồi ở vùng Tân Cương) trong khi ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã tăng trung bình 15,36% mỗi năm từ năm 1990 đến 2005, và tăng 17,8% năm 2007,[3] hải quân Trung Quốc đã tăng cường rất nhanh trong 16 năm qua. Do đó, ý định của bài nầy là tìm hiểu xem chiến lược của hải quân Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng gì đối với khu vực biển Đông.

Các vấn đề tranh chấp trong khu vực biển Đông là ngoài phạm vi của bài nầy và đã được phân tích trong các bài của Từ Đặng Minh ThuVũ Quang Việt trong số Thời Đại Mới nầy. Vì thế, ở đây tôi sẽ không đề cập đến các vấn đề ấy nữa mà chỉ mong bổ sung các bài ấy với một số thông tin về hải quân Trung Quốc và chiến lược của nó.

Trước khi đi vào chi tiết về chiến lược của hải quân Trung Quốc, tôi xin phác qua vài nét về tên gọi và cơ cấu tổ chức của nó.[4]

Hải quân Trung Quốc được gọi là “Giải phóng quân Hải quân” (Jiefangjun Haijun ) vì nó là một bộ phận của Giải phóng quân, tức quân đội, của Trung Quốc. Các sách báo tiếng Anh thường gọi tắt là PLAN (People’s Liberation Army Navy).

Hải quân Trung Quốc gồm có 5 nhánh: binh đội tàu ngầm, binh đội tàu mặt nước, binh đội không quân, binh đội hải quân đánh bộ, và binh đội “ngạn phòng.” Ngoài ra, cũng có 10 học viện và đại học trực thuộc, nhiều viện nghiên cứu, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, và các cục chính trị, cục hậu cần, cục kỹ thuật, và các đơn vị bảo đảm phục vụ và sửa chữa. Các binh đoàn, binh đội và đơn vị trên được phân chia thành 3 vùng gọi là: Bắc Hải Hạm Đội (Beihai jiandui ), Đông Hải Hạm Đội (Donghai jian dui ),và Nam Hải Hạm Đội (Nanhai jiandui ).

Hải quân Trung Quốc được tổ chức thành những chi đội (zhidui ), đại đội (dadui ) và trung đội (zhongdui ). Về phương thức tổ chức thì một chi đội có quân hàm tương đương với một sư đoàn của Mỹ và vì thế thường được dịch ra là “division” hay “flotilla” (hạm đội). Hải quân Trung Quốc có 7 thứ chi đội khác nhau:

· Tàu ngầm, gọi là “tiềm đĩnh” (qianting ).

· Tàu khu trục (destroyers).

· Tàu hộ tống, gọi là “hộ vệ đĩnh” (huweiting ).

· Tàu cao tốc (speedboats).

· “Tác chiến chi viện thuyền” (zuozhan zhiyuanjian 战支 ).

· Tàu đánh đuổi tàu lặn (submarine chasers).

Nhiều chi đội là chi đội tổng hợp gồm có các thứ tàu khác nhau. Ví dụ như có một số chi đội tàu ngầm hạt nhân và tàu ngầm thông thường, chi đội tàu khu trục, chi đội tàu hộ tống và chi đội tàu cao tốc gồm có những “đạo đạn đĩnh” (daodanting ), tàu rà mìn, tàu phóng ngư lôi và tàu đánh đuổi tàu lặn. Các chi đội tàu thường có một số “tác chiến chi viện thuyền” nhất định.

Chiến lược chung của Hải quân Trung Quốc

Theo định nghĩa của quân đội Trung Quốc thì chữ “chiến lược” (zhanlue ) chỉ áp dụng cho chiến tranh (zhanzheng ). Chiến tranh có thể là chiến tranh cục bộ hay chiến tranh toàn bộ; và chiến tranh là để đạt được những mục tiêu chung của một quốc gia. Trong chiến tranh thì có chiến dịch (zhanyi ) và “chiến dịch pháp” (zhanyifa ) và được dùng để điều hành các chiến trận, mà họ gọi là “chiến đấu” (zhandou ), để đạt được những mục tiêu chung của một quốc gia trong chiến tranh. Mỗi mô hình “chiến đấu” có các “chiến thuật” (zhanshu ) khác nhau của nó.

Chiến lược chung của quân đội Trung Quốc được gọi là “Cương lĩnh Quân sự Quốc gia cho Thời đại mới” và gồm có hai phần. Phần thứ nhất là phần về đổi mới và hiện đại hóa quân đội toàn bộ từ trang bị vũ khí đến cơ cấu và tổ chức. Trong đó, hai vấn đề quan trọng nhất là “chuẩn bị đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong hoàn cảnh công nghệ cao hiện đại” và “chuyển đổi từ một quân đội dựa trên số lượng đến một quân đội dựa trên chất lượng.”[5] Từ những năm đầu của thập kỷ 2000 đến nay Trung Quốc chú trọng vào việc xây một quân đội dựa trên cơ khí hóa và tin học hóa mà họ gọi là “tin tức hóa” (xinxihua ).[6]

Phần thứ hai là phần các chiến lược hoạt động, tức các đường lối cơ bản cho việc chỉ đạo chiến tranh. Phần nầy được gọi là chiến lược “tích cực phòng ngự” (Jiji fangyu ) và được coi là cương lĩnh chiến lược tối cao của toàn thể quân đội Trung Quốc trong chiến tranh, hay trong việc chuẩn bị cho chiến tranh trong thời bình. Chiến lược “tích cực phòng ngự” gồm những điểm sau:[7]

· “Nói chung, chiến lược quân sự của ta là phòng ngự. Chúng ta chỉ tấn công sau khi bị tấn công. Nhưng các chiến dịch của chúng ta là tấn công.

· “Không gian và thời gian sẽ không hạn chế sự phản công của chúng ta.”

· “Chúng ta sẽ không để các biên giới hạn chế các cuộc tấn công của ta.”

· “Chúng ta sẽ chờ cho thời điểm và điều kiện thuận lợi cho các lực lượng của chúng ta trước khi chúng ta bắt đầu các cuộc tấn công.”

· “Chúng ta sẽ tập trung vào các điểm yếu của đối phương.”

· “Chúng ta sẽ dùng các lực lượng của chúng ta để tiêu diệt các lực lượng của đối phương.”

· “Các chiến dịch tấn công kẻ thù và các chiến dịch phòng thủ sẽ được thi hành cùng lúc.”

Một phần của chiến lược “tích cực phòng ngự” là khái niệm chiến lược gọi là “cận hải phòng ngự” (Jinhai fangyu 近海防御) của Hải Quân Trung Quốc. Khái niệm nầy có 3 nhiệm vụ chính:[8]

· Kiềm chế kẻ thù từ ngoài khơi và không cho đổ bộ.

· Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

· Bảo vệ sự thống nhất đất nước và quyền lợi trên biển cả.

“Cận hải” không có nghĩa là gần bờ biển. Nhưng, theo định nghĩa trong các tài liệu của Hải Quân Trung Quốc là “đến tận những nơi xa trên biển cả mà Hải Quân Trung Quốc có khả năng đưa các lực lượng đặc nhiệm đến với sự chi viện và an ninh cần thiết” (…as far as the PLA Navy’s capabilities will allow it to operate task forces out at sea with the requisite amount of support and security.)[9] [Nhấn mạnh là trong nguyên văn] Hiện nay “cận hải” được định nghĩa tối thiểu là trong phạm vi của hai chuỗi quần đảo. Chuỗi quần đảo thứ nhất thường được mô tả là một đường chạy dài từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Philippin, và In-đô-nê-sia (từ Borneo đến Natuna Besar). Chuỗi quần đảo thứ hai là đường bắc-nam chạy dài từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Bonins, Marianas, Carolines, và In-đô-nê-sia. Hai đường nầy bao gồm gần như toàn bộ Biển đông Trung Quốc (East China Sea) hầu hết các đường giao thương trên biển (sea lanes of communication, SLOCs) của Đông Á.

Theo một bài viết vào khoảng cuối năm 1999 khi ông còn là tùy viên hải quân Hoa Kỳ ở Trung Quốc, thuyền trưởng (Captain) Brad Kaplan cho biết rằng mục tiêu của chiến lược “tích cực cận hải phòng ngự” (“active offshore defense”) là “để khẳng định vai trò của Trung Quốc như là một cường quốc khu vực trên biển, để bảo vệ các khu vực kinh tế duyên hải và các quyền lợi trên biển, và để tối ưu hóa các chiến dịch của Hải quân (Trung Quốc) cho quốc phòng. Bổn phận của Hải quân Trung Quốc hiện nay bao gồm việc chiếm đóng và phòng thủ các hải đảo, và bảo vệ cũng như phong tỏa các đường giao thương trên biển (sea-lanes of communication). Hơn thế nữa, Hải quân Trung Quốc càng ngày càng được lãnh đạo của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc coi như là bộ phận không thể thiếu trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan khi cần dùng vũ lực” và để bảo vệ “Tây sa” và “Nam sa” (tức Hoàng sa và Trường sa) ở Trung Quốc Nam Hải (tức biển Đông).”[10]

Kaplan viết tiếp: “Chiến lược đang được Hải quân Trung Quốc phát triển tuần tự đã được mô tả là gồm hai giai đoạn riêng biệt rõ ràng. Giai đoạn đầu là để cho Hải quân Trung Quốc phát triển các khả năng của một “chiến lược phòng ngự tích cực nước màu xanh lục” (“green water active defense strategy”). Chiến lược “nước màu xanh lục” nầy thường được mô tả là bao gồm trong một hình cung từ Vladivostok ở phía bắc đến eo biển Malacca ở phía nam, và ra đến “chuỗi quần đảo thứ nhất” (Aleutians, Kuriles, Ryukyus, Đài Loan, Philippin, và quần đảo Greater Sunda) ở phía đông.

Các nhà phân tích đã đánh giá rằng Hải quân Trung quốc có thể đạt được khả năng “nước màu xanh lục” nầy trong những năm đầu của thế kỷ 21. Những tài liệu đã được công bố cũng cho biết là Hải quân Trung Quốc có ý định phát triển khả năng hoạt động ở “chuỗi quần đảo thứ hai” (Bonins, Guam, Marianas, và quần đảo Palau) vào giữa thế kỷ 21. Trong tương lai, Hải quân Trung Quốc có thể sẽ bành trướng hoạt động đến các căn cứ ở Myanmar. Các căn cứ nầy sẽ cung cấp cho Hải quân Trung Quốc phương tiện đi thẳng đến eo biển Malacca và Vịnh Bengal.”

Kaplan cho biết là đến cuối thập kỷ 90 Hải quân Trung Quốc có khoảng 268.000 sĩ quan và lính, trong đó có 25.000 người trong quân chủng hàng không hải quân và khoảng 7.000 lính thủy đánh bộ. Toàn bộ lính thủy đánh bộ là thuộc Hạm đội Nam Hải. Khối lính thủy đánh bộ (thuộc Hạm đội Nam Hải) này gồm 2 lữ đoàn, gọi là Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến số một và số 164. Dưới mỗi lữ đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo, một trung đoàn thiết giáp lội nước, và các đơn vị công binh, trinh sát, phòng chống hóa chất, và giao thông. Các đơn vị nầy là những đơn vị hạng tiểu đoàn và đại đội.[11]

Lính thủy đánh bộ của Trung Quốc được huấn luyện tốt và đựợc cung cấp đầy đủ các loại vũ khí cần thiết. Theo Kaplan: “Sứ mạng chính của lính thủy đánh bộ Trung Quốc là bảo vệ các đảo mà Trung Quốc đã chiếm ở Trung Quốc Nam Hải (South China Sea) trong thời bình và chiếm đóng và phòng thủ các đảo trong khu vực Trung Quốc Nam Hải trong thời chiến…. Lính thủy đánh bộ Trung Quốc được trang bị với các xe tăng lội nước (amphibious tanks) và các xe thiết giáp chở lính (armored personnel vehicles), súng đại liên (howitzers) và nhiều thứ vũ khí phóng tên lửa khác nhau. Mặc dù Hải quân Trung Quốc có khoảng 60 xe tăng… khả năng chở lính đổ bộ chỉ khoảng 5 đến 10 nghìn người cùng một lúc.” Vì thế, theo Kaplan, từ cuối thập kỷ 90 Hải quân Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các khả năng đổ bộ như thuyền bay trên nệm hơi loại gọi là Jingsha (Jingsha-class air cushion vehicles) và các loại thuyền đẩy bằng cánh quạt gió (wing-in-ground-effect craft) bay trên mặt nước khoảng 1 mét với tốc độ khoảng hơn 120 hải lý một giờ để dùng trong việc đổ bộ lính thủy đánh bộ trong tương lai.

Trong quá khứ, các cuộc tập trận đổ bộ của lính thủy đánh bộ Trung Quốc đã được phối hợp với các cuộc dội bom bằng máy bay và nã pháo từ các chiến thuyền. Nhưng vì khả năng phối hợp này còn yếu nên gần đây Trung Quốc đã phát triển hàng nghìn các loại vũ khí hổ trợ cho việc đổ bộ của lính thủy đánh bộ. Nhưng trong bài nầy tôi không đi vào chi tiết mà chỉ xin lưu ý là mặc dầu với con số khá lớn như thế, khả năng hiện nay của Trung Quốc so với Mỹ trong khu vực nầy còn kém nhiều và vì thế chưa là mối đe dọa lớn cho các tàu lặn tối tân của Mỹ.

Hơn thế nữa, việc Trung Quốc tăng cường các loại chiến thuyển chở lính đổ bộ (amphibious warships) đã gây sự chú ý của Mỹ và phản ứng của một số nước trong khu vực Đông Á. Theo một bài nghiên cứu thì trên thực tế vấn đề chạy đua vũ trang chính trong khu vực nầy là việc phát triển các chiến thuyền có khả năng đưa lính đổ bộ đến bất cứ đâu trong khu vực.[12] Hải quân Nhật, Hàn Quốc, và Ô-xtrây-li-a mỗi nước đang mua hoặc đóng ít nhất là 2 chiến thuyền đổ bộ loại 20 ngàn tấn, lớn tương đương với loại hàng không mẫu hạm loại Invincible (bất bại) của Anh Quốc. Mỗi chiếc của 3 loại nầy trong tương lai rất gần sẽ có thể đưa vào bất cứ nơi nào trong khu vực Châu Á hai đội (squadrons) máy bay trực thăng và một số thuyền đổ bộ bay trên đệm hơi (landing craft, air cushion = LCAC). Mỗi chiếc LCAC nầy có thể chở một xe thiết giáp loại 60 tấn cùng với lính, các loại xe khác, và các loại trang thiết bị cần thiết cho các cuộc viễn chinh ở các nơi trong khu vực. Nhưng Nhật, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a đặc biệt chú trọng đến khu vực Đông Nam Á.

Hàn Quốc đã đưa vào hoạt động một chiến thuyền đổ bộ mới loại Dokdo và sẽ hạ thủy thêm 3 chiếc nữa trong tương lai gần. Mỗi chiếc sẽ nặng khoảng 19 ngàn tấn khi trang bị đầy đủ và sẽ có thể chở 700 lính, 15 chiếc trực thăng, 2 chiếc LCAC, vài chục chiếc xe các loại và nhiều tấn vật liệu tiếp tế cho một cuộc đổ bộ.

Theo nghiên cứu trích ở trên thì Ô-xtrây-li-a sẽ có quyết định cuối cùng vào tháng 6 năm 2007 trong việc chọn lựa giữa một kiểu chiến thuyền đổ bộ giống như kiểu Mistral của Pháp hay kiểu Strategic Projection Vessel của Tây Ban Nha. Kiểu Mistral là loại chiến thuyền được thiết kế đặc biệt cho việc đổ bộ và nó có khả năng tương đương với chiếc Dokdo của Hàn Quốc. Chiến thuyền kiểu Tây Ban Nha nặng khoảng 27 ngàn tấn và thiết kế để sử dụng các chiếc máy bay cất cánh nhanh và có thể hạ thẳng xuống (short takeoff and vertical landing = STOVL) như máy bay Harrier của Anh hay máy bay F-35B Lightening II của Mỹ. Vì thế, mặc dầu chiến thuyền đổ bộ kiểu Tây Ban Nha có thể chở hơn 900 lính, 20 chiếc trực thăng và STOVL, nó chỉ có thể chở một chiếc LCAC. Nhưng vì dưới khoang tàu là cái gầm có nước tràn vào cho nên chiếc LCAC có thể ra vào một cách hết sức nhanh chóng (so với những chiến thuyền kiểu khác phải thả các chiếc LCAC bằng các trục giây cáp xuống từ hai bên hông tàu) và có thể đưa nhiều lính và các trang thiết bị vào đất liền ngay từ ngoài khơi.

Mặc dầu hai chiếc khu trục chở máy bay trực thăng (helicopter destroyer) mà hải quân Nhật—gọi là Lực Lượng Phòng Vệ Biển (Japan Maritime Self-Defense Force = JMSDF)—đang đóng không có cửa vào thẳng trong gầm tàu như kiểu Tây Ban Nha, mỗi chiếc (tên là 16DDH) cũng có thể chở cùng một số lượng máy bay trực thăng như các chiến thuyền đổ bộ kiểu Tây Ban Nha. Thêm vào đó là hai chiếc nầy được thiết kế để phối hợp hoạt động với 3 chiến thuyền đổ bộ kiểu Oosumi mà Nhật đã hạ thủy. Mỗi chiếc Oosumi có thể chở 2 chiếc LCAC, 2 chiếc trực thăng trở lên và 330 lính.

Ngoài các chiến thuyền đổ bộ của Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, và Nhật trong khu vực Tây Thái Bình Dương còn có những chiếc WASP của hải quân Mỹ. Mỗi chiếc có thể chở 1870 lính, 42 chiếc trực thăng và STOVL và 3 chiếc LCAC.

Những chiến thuyền đổ bộ kể trên, với những máy bay trực thăng và LCAC và khả năng đưa lính đổ bộ nhanh chóng cũng như khả năng cung cấp và duy trì các cuộc hành quân đó, sẽ là những phương tiện mới để gây ảnh hưởng tại Đông Á cho dù các cuộc hành quân đó không phải là chiếm đóng các vị trí quân sự quan trong mà là để giúp giữ gìn an ninh và trật tự hay để cứu giúp những nạn nhân sóng thần hay núi lửa.

Trong những năm trước mắt, nếu có biến cố xảy ra ở In-đô-nê-sia, Phi-líp-pin, hay nơi nào đó ở Đông Nam Á thì những chiến thuyền đổ bộ của Mỹ sẽ phải phối hợp với các chiến thuyền đổ bộ có nhiều khả năng của Nhật, Hàn Quốc, và Ô-xtrây-li-a để can thiệp. Việc phối hợp nầy một đằng có nghĩa là Mỹ sẽ mất thế độc tôn trong việc can thiệp hay trợ giúp các nước trong khu vực khi có biến cố. Đằng khác, nếu bất cứ một nước nào đó muốn dùng sức mạnh hải quân để đơn phương can thiệp hay gây biến cố trong khu vực thì nước đó cũng có thể phải e dè đến sự phản ứng đa phương của hải quân các nước như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật, Ô-xtrây-li-a, và một số nước khác.

Chiến lược phủ định của Trung Quốc

Như vừa cho thấy ở trên, việc tăng cường chiến thuyền đổ bộ và các phương tiện đổ bộ khác của Trung Quốc đã gây nên một cuộc chạy đua mà nói chung là càng làm cho Trung Quốc tụt hậu so với Nhật, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a. (Một trong những lý do cho việc tụt hậu của Trung Quốc so với các nước vừa kể trên trong lãnh vực phát triển các chiến thuyền đổ bộ là vì Trung Quốc cũng đang đầu tư khá nhiều vào việc phát triển hàng không mẫu hạm.)[13]

Trong khi đó thì hạm đội trên mặt nước của Trung Quốc rất yếu kém so với Mỹ. Mặc dầu Trung Quốc hiện nay có hơn 400 chiến hạm loại tấn công, chỉ có khoảng 50 chiếc là loại lớn theo tiêu chuẩn của Âu-Mỹ. Những chiếc nầy được trang bị với các hỏa tiển và đầu đạn tầm gần và tầm xa nhưng không có khả năng đương đầu với các tàu chiến lớn của Mỹ hay chống lại và tìm diệt các tàu lặn của Mỹ. Ngoài các chiến thuyền tấn công, hải quân Trung Quốc có hơn 300 chiếc chiếc “hộ vệ đỉnh” đủ loại. Theo Kaplan, gần như toàn bộ các chiếc thuyền nầy đều trang bị với các khả năng gài những loại mìn với những hệ thống sử dụng công nghệ rất hiện đại. Ông ta cho biết là: “Nếu dùng với số lượng đầy đủ thì các loại mìn nầy sẽ gây một đe dọa rất khả quan đối với các chiến thuyền trên mặt nước và tàu lặn hoạt động dọc vùng duyên hải Trung Quốc, Hoàng Hải (Yellow Sea), Biển Nhật Bản, eo biển Đài Loan và Trung Quốc Nam Hải. (If used in sufficient numbers, this inventory poses a significant threat to surface and submarine units operating along China’s littoral, the Yellow Sea, Sea of Japan, Taiwan Strait, and South China Sea.)[14]

Nhưng vì Trung Quốc chưa thể đương đầu với các hạm đội trên mặt nước của Mỹ, chiến lược của Trung Quốc là dùng tàu lặn để tấn công và phủ định sức mạnh của các hạm đội trên mặt nước của Mỹ vì các tàu trên mặt nước, đặc biệt là hàng không mẫu hạm, rất khó phòng thủ trước các cuộc tấn công của tàu lặn bắn hàng loạt các tên lửa có đầu đạn các loại gần xa cùng một lúc.

Nói đến tàu lặn thì bắt đầu từ thập kỷ nầy Trung Quốc có khoảng 70 chiếc và hiện nay số lượng đó vẫn như thế vì chiến lược của Trung Quốc là thay thế những tàu lặn kiểu cũ với những tàu lặn tối tân hơn như là loại chạy bằng năng lượng nguyên tử có thể phóng các tên lửa (nuclear-power ballistic-missile system, SSBN). Một ví dụ là loại 094 SSBN được trang bị với 16 ống phóng tên lửa. Từ năm 2002 đến giữa năm 2005 Trung Quốc đã đóng 14 chiếc tàu lặn loại mới. Nếu Trung Quốc tiếp tục đóng những chiếc tàu lặn tối tân với tốc độ vừa qua thì đến cuối thập kỷ nầy Trung Quốc sẽ có 40 chiếc tàu lặn tối tân. Một lần nữa trong bài nầy tôi xin không đi vào các chi tiết về các kiểu tàu lặn mới của Trung Quốc và khả năng của chúng. Tôi chỉ muốn lưu ý là phần lớn các loại tàu lặn tối tân là trong Hạm đội Nam Hải và những tàu lặn nầy đã từng đi theo các chiến thuyền của Mỹ đến tận đảo Guam để thử xem khả năng phát hiện tàu lặn của các chiến hạm của Mỹ tinh vi đến độ nào.[15]

Một nhà nghiên cứu Mỹ, tên Richard Fisher, Jr., trong một bài với tựa đề “Trouble Below: China’s submarines pose regional, strategic challenges” đăng trong Armes Forces Journal ngày 6 tháng 3 năm 2006 viết: “Thêm vào đó là, vì trọng tâm của lực lượng tấn công nguyên tử tầng thứ hai (của Trung Quốc) chuyển về phía nam, người ta có thể dự tính rằng Bắc Kinh sẽ càng ngày càng thách thức hơn đối với các lãnh thổ mà Trung Quốc cho là của Trung Quốc trong khu vực Trung Quốc Nam Hải.” (In addition, as the focus of its nuclear second-strike capability moves south, it can be expected that Beijing will become more belligerent regarding its territorial claims in the South China Sea.) Fisher cho biết rằng tàu lặn nguyên tử loại 093 SSN có thể trang bị với các đầu đạn cruise tấn công trên đất liền (land-attack cruise missiles, LACM) với tầm xa từ 1000 đến 2000 cây số sẽ càng ngày càng được dùng ở cuối thập kỷ nầy và đầu thập kỷ tới ở các nước xa Trung Quốc để ủng hộ các chính thể và các phe phái chính trị trung thành với Trung Quốc. Trong khi đó, nếu Nhật không tăng ngân sách quốc phòng một cách đáng kể thì trong tương lai Nhật chỉ có thể duy trì khoảng 15 đến 16 tàu lặn lọai thường (conventional submarines, SSKs).[16]

Trong bài với tựa đề “China’s Submarine Challenge” mà The Heritage Foundation ở Mỹ đăng ngày 1 tháng 3 năm 2006, John J. Tkacik, Jr., cho biết hiện nay Mỹ có 35 tàu lặn trong Hạm đội Thái Bình Dương, trong đó có 3 chiếc loại tấn công nguyên tử (nuclear attack submarines) đóng ở đảo Guam. Nhưng chỉ có khoảng một chục chiếc là được đưa vào hoạt động trong bất cứ một thời điểm nào. Và vì giá đóng mỗi chiếc tàu lặn là hơn 2 tỷ đô la và vì ngân sách đóng tàu lặn đang bị cắt, đến năm 2025 Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ sẽ chỉ còn có 30 chiếc. Tkacik cho biết rằng một số nghiên cứu đã ước tính là đến năm 2025 số lượng tàu lặn của Trung Quốc ở Thái Bình Dương sẽ lớn hơn gấp 5 lần số lượng tàu lặn của Mỹ và các tàu lặn nguyên tử có các đầu đạn nguyên tử của Trung Quốc sẽ đi rình mò dọc miền ven biển Tây của Mỹ để buộc ít nhất là hai chiếc tàu lặn loại tấn công (attack submarines) của Mỹ phải đi theo dõi một chiếc tàu lặn nguyên tử của Trung Quốc. Vì những lý do trên, đến năm 2025 hải quân của Trung Quốc sẽ có thể làm chủ Thái Bình Dương.[17]

Phương pháp thứ hai trong chiến lược phủ định sức mạnh của hải quân Mỹ là làm tê liệt các phương tiện trinh sát và truyền tin của quân đội Mỹ, như giết các vệ tinh, để cho quân đội của Mỹ bị mù trong khi Trung Quốc tấn công các mục tiêu quân sự và vì thế không có thể trở tay hay tiếp ứng kịp thời. Ngày 11 tháng Giêng vừa qua Trung Quốc thử vũ khí chống vệ tinh (anti-satellite test, ASAT) bằng cách dùng phương pháp ra-đa mảng (phased array radar) để hướng dẫn một phi thuyền giết vệ tinh bằng động năng (kinetic-kill vehicle) bay theo một vệ tinh của Trung Quốc đang bay vòng quanh khoảng 475 dặm Anh trên không trung với tốc độ nhanh hơn một đầu đạn xuyên lục địa đang phóng xuống từ trên không trung và đập nát vệ tinh nầy ra thành hơn 1600 mảnh. Vũ khí chống vệ tinh nầy của Trung Quốc được tình báo Mỹ gọi là SC-19 và được phóng lên từ một dàn phóng di động. Mỹ biết trước là Trung Quốc sẽ thử vũ khí chống vệ tinh nầy nhưng làm thinh vì biết là không có cách nào cản được Trung Quốc.[18]

Ashley Tellis, một nhà nghiên cứu tại Carnegie Endowment for International Peace, cho biết là các yếu tố kỹ thuật trong cuộc thử vũ khí chống vệ tinh nầy của Trung Quốc cũng giống như các yếu tố kỹ thuật trong việc bắn hạ các tên lửa. Cùng với việc thử vũ khí giết vệ tinh, Trung Quốc sẽ triển khai hệ thống tên lửa xuyên lục địa lưu động (road-mobile intercontinental ballistic missle) gọi là DF-31. Tellis viết thêm rằng Bắc Kinh đã đi đến quyết định là phải có một hệ thống tên lửa và khả năng tiêu diệt vệ tinh hùng mạnh để “chống lại toàn bộ khả năng quân sự của Hoa Kỳ” và để phá vở “mạng lưới phức tạp nhưng khó bảo vệ của chỉ huy, điều khiển, thông tin, và các hệ thống dựa vào máy vi tính để cung cấp tin tức trinh sát” (“complex, exposed network of command, control, communications, and computer-based systems that provide intelligence reconnaissance”) cho quân đội của Mỹ. Tellis viết là bởi vì các nhà hoạch định quốc phòng Trung Quốc thấy các nhược điểm chính của quân đội Mỹ là tính chất nối mạng thông tin nên Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ các nỗ lực xây dựng các quân lực tên lửa hùng mạnh dẫu cho Mỹ có đưa ra bất cứ những đề nghị gì để hòng ngăn chặn vấn đề vũ khí hóa không gian (weaponization of space).[19]

Trong khi đó thì thái độ chống đối của Trung Quốc đối với việc Mỹ muốn triển khai/dàn dựng hệ thống phòng thủ tên lửa (ballistic missile defense system, BMD) ở Âu Châu và ủng hộ Nga trong việc tranh cãi với Mỹ về vấn đề nầy cho ta thấy Trung Quốc sợ nếu Mỹ thành công ở Âu Châu thì Mỹ sẽ có thể thiết lập hệ thống nầy ở vùng Châu Á Thái Bình Dương. Phản ứng của Trung Quốc càng ngày càng mạnh. Khi cuộc họp thượng đỉnh G8 vừa qua bắt đầu, Jiang Yu (người phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc) tuyên bố là “các hệ thống phòng thủ tên lửa có ảnh hưởng tiêu cực đối với cân bằng chiến lược và ổn định và (vì thế) có phương hại đến vấn đề tin tưởng lẫn nhau giữa các cường quốc và có thể sẽ tạo ra các vấn đề phổ biến vũ khí mới (Xinhua, ngày 5 tháng 6 năm 2007).

Ngày 21 tờ Nhân Dân nhật báo (People’s Daily) đăng một bài xã luận nói rằng kế hoạch chống tên lửa của Mỹ ở Âu Châu diễn ra cùng lúc với những hoạt động hợp tác với Nhật và Ô-xtrây-li-a để phát triển một hệ thống tương tự ở Á Châu. Bài nầy nói rằng hệ thống phòng thủ tên lửa cũng có thể dùng để tấn công như là “bắn trúng các tên lửa cao tốc tấn công các máy bay đang bay hay những vệ tinh trên quỹ đạo.” Bài báo nhấn mạnh rằng những nỗ lực của Mỹ và đồng minh trong việc xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa là “phản ánh đầu óc của Mỹ muốn tăng cường trạng thái tâm lý Chiến Tranh Lạnh” và vì thế “sẽ chẳng có thể duy trì an ninh khu vực hay phát triển sự tin tưởng lẫn nhau hay sự hợp tác giữa các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.” Bài xã luận đi đến kết luận đáng ngại là hệ thống phòng thủ tên lửa “sẽ không những tăng cường sự mất tin tưởng và cảm giác xa lìa giữa các quốc gia nhưng sẽ còn tạo ra những vấn đề phổ biến vũ khí.”

Vài nhà nghiên cứu cho rằng Trung Quốc thử vũ khí chống vệ tinh để đánh đổi việc Mỹ và các đồng minh muốn gầy dựng các hệ thống vũ khí chống tên lửa từ trên không gian (space-based antimissile weapons). Peter W. Rodman, một viên chức cao cấp của Bộ Quốc Phòng Mỹ vừa từ chức gần đây, không đồng ý với quan điểm nầy và cho biết rằng Trung Quốc đã từ lâu viết về các phương cách làm sao để đánh què một siêu cường dựa vào kỹ thuật cao như vệ tinh và đã rất kiên nhẫn trong việc phát triển các vũ khí có khả năng thực hiện việc đó cho nên, theo ông thấy, Trung Quốc không có lý do gì để trao đổi cả.[20] Larry Wortzel, một nhà nghiên cứu chiến lược trong Bộ Quốc Phòng Mỹ và là cựu tùy viên quân sự tại Bắc Kinh đi đến kết luận (sau khi nghiên cứu các tài liệu quân sự của Trung Quốc) rằng Trung Quốc, cũng như Nga, chuẩn bị các hệ thống tên lửa để áp đảo bất cứ một hệ thống phòng tên lửa nào của Mỹ. Wortsel trích bài viết mới đây của một số sĩ quan Trung Quốc trong đó họ cho rằng “các lực lượng tên lửa hướng dẫn là những quân chủ bài để dành lấy thắng lợi trong một chiến tranh cục bộ công nghệ cao” (“guided missile forces are the trump card (sa shou jian) in achieving victory in limited high technology war”).[21]

Lô-gích vừa trích ở trên cũng có nghĩa là khả năng bảo vệ các vệ tinh và các mấu thông tin của hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ và đồng minh là một trong những đe dọa lớn nhất đối với chiến lược quân sự của Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc càng phát triển khả năng dùng tên lửa để làm cho hệ thống trinh sát của Mỹ bị mù thì Mỹ lại càng tăng cường hệ thống phòng tên lửa. Và như thế thì quả thật sẽ có thể gây ra một trình trạng giống như Chiến Tranh Lạnh trước đây. Tình trạng mới nầy làm cho nhiều nước ở Đông Nam Á đang phải vừa củng cố quốc phòng vừa tìm các biện pháp phòng hờ (hedging) đối với Trung Quốc và Mỹ.

Chiến lược Hải quânTrung Quốc ở Biển Đông phần I I
Ví dụ phòng hờ và thái độ của Mỹ

Một ví dụ phòng hờ là trường hợp của Ma-lai-xi-a. Ma-lai-xi-a là nước có quan hệ rất tốt với Trung Quốc và cả hai nước nầy đều công nhận như thế. Trên bình diện kinh tế thì mậu dịch hai chiều đã tăng từ 14,2 tỷ USD năm 2003 đến 22,5 tỷ USD năm 2005. Theo tài liệu của Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF) thì đến năm 2005 Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ tư của Ma-lai-xi-a, sau Mỹ, Xing-ga-po và Nhật. Tuy nhiên từ năm 2000 nhập siêu của Ma-lai-xi-a đối với Trung Quốc đã tăng dần; và đến năm 2005 nhập siêu của Ma-lai-xi-a đối với Trung Quốc là 3,9 tỷ USD. Một lý do cho việc nhập siêu nầy là vì hàng chế biến của Trung Quốc quá rẻ và làm cho các doanh nhiệp Ma-lai-xi-a rất khó cạnh tranh.[22] Tuy nhiên, chính phủ Ma-lai-xi-a cũng rất lạc quan về quan hệ kinh tế với Trung Quốc và cả hai chính phủ đều đặt mục tiêu mậu dịch hai chiều sẽ tăng lên đến 50 tỷ USD năm 2010. Xuất khẩu nhiên liệu của Ma-lai-xi-a sang Trung Quốc sẽ giúp Ma-lai-xi-a giảm tỷ lệ nhập siêu vì Ma-lai-xi-a là một trong những nước xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (liquified natural gas, LNG) nhiều nhất trên thế giới. Tháng 11 năm 2006 hãng dầu quốc doanh (Petronas) của Ma-lai-xi-a thắng thầu cung cấp cho Thượng Hải mỗi năm 3 triệu tấn LNG trong 25 năm với giá 25 tỷ USD. Và đây là hợp đồng lớn nhất giữa hai nước.[23]

Ma-lai-xi-a đối đãi rất tế nhị với Trung Quốc. Một ví dụ là từ năm 2000 Ma-lai-xi-a đã nới rộng các hạn chế về thị thực và để cho công nhân Trung Quốc vào ra Ma-lai-xi-a một cách dễ dàng. Kết quả là số du khách từ Trung Quốc đến càng ngày càng tăng. Năm 2003 có 350 ngàn du khách Trung Quốc đến thăm Ma-lai-xi-a và năm 2006 con số nầy đã tăng đến 439 ngàn. Thêm vào đó là Ma-lai-xi-a đã cho rất nhiều sinh viên Trung Quốc vào học tại các đại học và cao học Ma-lai-xi-a. Năm 2003 có 11 ngàn sinh viên Trung Quốc ghi tên học tại các đại học Ma-lai-xi-a, tức là khoảng 25% tổng số các sinh viên nước ngoài tại Ma-lai-xi-a. Số du khách và sinh viên to lớn kể trên đem đến cho Ma-lai-xi-a một số thu nhập đáng kể. Nhưng con số to lớn ấy cũng gây lên những quan tâm về an ninh vì có hàng vạn công dân Trung Quốc ấy không chịu về nước và một là trốn ở lại trái phép hay dùng Ma-lai-xi-a để rồi đi đến nước thứ ba.[24]

Đối với các vấn đề khác -như Đài Loan, eo biển Malacca, và an ninh khu vực- Ma-lai-xi-a cũng đã sử sự rất khôn khéo để làm cho Trung Quốc vui lòng.[25] Thủ tướng Abdullah Badawi đã thường tuyên bố là ông không coi Trung Quốc là một mối đe dọa và bộ trưởng quốc phòng Ma-lai-xi-a thường cho rằng Trung Quốc là một đồng minh của ASEAN. Tháng 4 năm 2007 bộ trưởng quốc phòng Ma-lai-xi-a tuyên bố trước quốc hội Ma-lai-xi-a là việc Trung Quốc tăng cường các lực lượng hải quân không có nghĩa là Trung Quốc có tham vọng bành trướng ở Á Châu. Các quan chức và các chính khách Ma-lai-xi-a thường lập đi lập lại luận điểm nầy và những ai nghĩ rằng Trung Quốc là mối đe dọa thì không phát biểu trước công chúng.[26]

Một trong những vấn đề an ninh tồn tại giữa Ma-lai-xi-a và Trung Quốc là tranh chấp về quần đảo Trường Sa. Năm 1980 Ma-lai-xi-a tuyên bố chủ quyền trên 12 đảo trong quần đảo Trường Sa và từ đó đến nay đã chiếm đóng 5 đảo. Trong thập kỷ 1980 Ma-lai-xi-a đã mua nhiều chiến hạm và máy bay hiện đại để phòng giữ các đảo khu vực trong quần đảo Trường Sa mà Ma-lai-xi-a đã tuyên bố thuộc về chủ quyền của họ. Trung Quốc đã không có phản ứng gì mạnh đối với Ma-lai-xi-a một là vì sợ tổn thương quan hệ chính trị và kinh tế với Ma-lai-xi-a. Hai là những khu vực mà Ma-lai-xi-a tuyên bố chủ quyền cách Trung Quốc quá xa trong khi quân đội Ma-lai-xi-a có đủ sức phòng vệ các khu vực ấy trong khi không quân Trung Quốc chưa có đủ khả năng để trợ lực cho các cuộc đổ bộ dành lấy các đảo nầy.

Vì những lý do vừa kể trên, Trung Quốc và Ma-lai-xi-a đã cố gắng cải thiện quan hệ quân sự với nhau. Tháng 9 năm 2005 hai nước đã ký một bản “Ghi nhớ về đồng ý trên phương diện hợp tác quân sự” (Memorandum of Understanding on Defense Cooperation) để có những trao đổi trong các hoạt động quân sự. Nhưng khi Trung Quốc đề nghị bán các hệ thống vũ khí, kể cả các chiến thuyền, cho Ma-lai-xi-a thì Ma-lai-xi-a đã lễ phép từ chối. Trong khi đó thì Ma-lai-xi-a vẫn tiếp tục mua vũ khí của Mỹ, Anh và Nga vì những vũ khí nầy tốt hơn và tối tân hơn những vũ khí chế tạo tại Trung Quốc. Hơn thế nữa, Ma-lai-xi-a đã cố gắng duy trì một cách rất im lìm sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.[27]

Mặc dầu bề ngoài ra vẻ chống Mỹ, tiền nhiệm của Thủ tướng Abdullah đã bí mật ký một hiệp định với Mỹ để cho các chiến thuyền của hải quân Mỹ và các máy bay quân sự của Mỹ có thể được sửa chữa và tiếp vận tại Ma-lai-xi-a. Hiệp định nầy -gọi là “Cross Servicing and Acquisitions Agreement- được giữ trong bí mật cho đến năm 2005 khi chính quyền ông Abdullah ký gia hạn hiệp định nầy trong 10 năm. Theo một số nhận xét thì, nói chung, quan hệ quân sự của Ma-lai-xi-a với Mỹ quan trọng hơn bất cứ những quan hệ gì Ma-lai-xi-a có với Trung Quốc. Mỗi năm các chiến thuyền của Mỹ thường viếng thăm các cảng của Ma-lai-xi-a; hải quân Ma-lai-xi-a và hải quân Mỹ mỗi năm đều tập trận với nhau; các đội lặn của hải quân và bộ binh Mỹ thường tập luyện với các đội Ma-lai-xi-a; và lính huấn luyện chiến trận trong rừng Ma-lai-xi-a. Các khâu quan hệ quân sự của Ma-lai-xi-a với Mỹ -cũng như với Anh, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân qua cái hiệp định gọi là “Five Power Defense Arrangement, FPDA” - chứng tỏ một cách rất rõ ràng là Ma-lai-xi-a muốn có một lực lượng đối trọng trước một Trung Quốc đang lên và đang bành trướng ảnh hưởng. Vì thế, tuy Ma-lai-xi-a cố gắng mềm dẽo và tế nhị với Trung Quốc để duy trì quan hệ tốt, Ma-lai-xi-a cũng có chính sách phòng hờ. Do đó, Ma-lai-xi-a vẫn tiếp tục cảnh giác đối với các khu vực tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và cố gắng duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Á Châu.[28]

Nói chung thì các nước Đông Nam Á đều có các chính sách phòng hờ riêng của mình và phần lớn đều đang chạy đua vũ trang, đặc biệt là mua hay đóng tàu ngầm. Tờ Sunday Telegraph, ngày 4 tháng 2 năm 2007 cho biết rằng In-đô-nê-xia đã tuyên bố là sẽ cho đóng 12 chiếc tàu ngầm tối tân để hạ thủy khoảng năm 2024. Tờ báo cho biết là In-đô-nê-xia đã mua nhiều tàu ngầm hơn bất cứ nước nào cùng cỡ: 4 chiếc loại Kilo chạy bằng dầu diesel của Nga với giá là 200 triệu USD mỗi chiếc và hai chiếc của Hàn Quốc với giá 750 triệu USD. Xing-ga-po định có 6 chiếc tàu ngầm khoảng năm 2016. Ma-lai-xi-a đã đặt mua hai chiếc tàu ngầm Scorpene của Pháp. Và Việt Nam muốn có hai hay là 3 chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga.[29] Như đã trình bày phía trên, tàu ngầm có hiệu lực lớn trong việc chống các tàu trên mặt nước. Nhưng sự chạy đua vũ trang này có nguy cơ gây ra những đụng độ vô tình mà hậu quả là không có thể lường trước được.

Do đó, thái độ của Mỹ là làm sao kéo tất cả các lực lượng hải quân trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương hợp tác để bảo vệ các đường thông thương trên biển, đặc biệt là qua eo biển Malacca và Biển Đông. Cựu Đô đốc Eric A. McVadon viết trong một bài đăng trong China Brief ngày 13 tháng 6 năm 2007 rằng Đô đốc Michael Mullen, tổng tư lệnh chiến dịch của hải quân Mỹ (U.S. Chief of Naval Operations), đã mời Trung Quốc hợp tác, qua phó đô đốc và tư lệnh quân đoàn hải quân Trung Quốc tên Wu Shengli, với một “Hải Quân Nghìn Thuyền” (“Thousand Ship Navy”). Hải Quân Nghìn Thuyền nầy là kiểu hợp tác tự nguyện trong một mạng lưới hải quân đa quốc gia. Theo cựu Đô đốc McVadon thì lời mời của Đô đốc Michael Mullen được giới quân sự Trung Quốc chú ý và Đô đốc Wu Shengli cho biết rằng ông thích đề nghị nầy và sẽ bàn thêm với Đô đốc Mullen khi ông nầy sang thăm Trung Quốc vào trung tuần tháng 6 năm 2007. Một viên chức cao cấp của hải quân Trung Quốc có nhiều quan hệ với giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc cũng cho Đô đốc McVadon biết hồi tháng 4 năm 2007 là họ ủng hộ việc hợp tác tập trận giữa hải quân Mỹ và Trung Quốc trong việc bảo vệ an ninh của các đường thông thương trên biển.[30]

Theo Đô đốc McVadon thì những đề nghị hợp tác song phương lại được Đô đốc Timothy Keating, chỉ huy trưởng hải quân Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương, lập lại trong khi ông đến thăm Bắc Kinh và gặp Đại tướng Guo Boxiong, phó chủ tịch cao nhất của Quân ủy Trung ương của Trung Quốc. Đô đốc Keating và Đại tướng Guo đều muốn có thêm trao đổi quân sự để phát triển quan hệ song phương. Một chi tiết khá quan trọng trong buổi tọa đàm với Đại tướng Guo là Đô đốc Keating nói ông ta thấy việc Trung Quốc muốn phát triển một hạm đội hàng không mẫu hạm cũng “dễ hiểu”. Ông nhấn mạnh sự khó khăn và rắc rối trong việc phát triển và điều hành một chiếc hàng không mẫu hạm và nói tiếp rằng nếu Trung Quốc muốn thì Mỹ sẽ sẵn sàng giúp đỡ trong các lãnh vực được đề cập đến. Nhưng phản ứng của một số quan chức và chuyên gia quân sự Trung Quốc là nhiều lắm thì Mỹ cũng chỉ truyền đạt suông một số kinh nghiệm điều hành thôi chứ Mỹ còn lâu mới bỏ cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc và chịu chuyển giao các công nghệ hải quân cho Trung Quốc. Theo một tờ báo Hông Kông, Trung tướng Yang Chunchang của Viện Khoa Học Quân Sự tại Bắc Kinh ông ta rất nghi ngờ về những gì Đô đốc Keating đã nói và ông ta cho rằng việc Mỹ muốn giúp đỡ là chỉ muốn nạy ra những bí mật mà thôi. Đô đốc McVadon kết luận rằng những phản ứng như trên chứng tỏ là hai bên cần phải cố gắng rất nhiều để tạo tin tưởng lẫn nhau. Nhưng ít ra Đô đốc Mullen và Đô đốc Keating cũng đã khởi đầu một quá trình và đã gây chú ý đến sự cần thiết của hợp tác. Theo Đô đốc McVadon, để có thể thành công thì bất cứ một cuộc hợp tác hải quân nào cũng cần một nền tảng quan hệ song phương được cải thiện và sự hợp tác rộng rãi hơn giữa Trung Quốc và Mỹ với các nước khác trong khu vực.

Nói tóm lại, yêu cầu chiến lược của Mỹ là duy trì an ninh trên biển Thái Bình Dương, nhất là trên các đường giao thương qua khu vực Đông Nam Á và Biển Đông. Mỹ có thể can thiệp đơn phương hay hợp tác và phối hợp với các lực lượng quân sự khác để bảo vệ an ninh chung trên biển trong khu vực trên. Nhưng điều nầy không có nghĩa là Mỹ hay các lực lượng hải quân khác sẽ can thiệp khi có đụng độ giữa các nước tranh chấp các đảo trong khu vực Biển Đông. Giải pháp quân sự không phải là giải pháp an ninh và an toàn.

Chú thích

[1] Trích trong David Lague, “China airs ambitions to beef up naval power,” International Herald Tribune, ngày 28 tháng 12 năm 2006. Bài nầy có thể tải về từ: http://www.iht.com/bin/print?id=4038159.

[2] Trích trong bài “Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,” đăng trên báo Công An Nhân Dân (cand.com) ngày 29/12/2006. Bài nầy có thể tải về từ: http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisuxahoi/tintucsukien/2006/12/94420.cand.

[3] “Beijing Cashes in Prosperity in Massive Boost to Military Spending,” Agence France Press, ngày 4 tháng 3 năm 2007. Bài nầy cho biết là người phát ngôn viên của Quốc Hội Trung Quốc, ông Jiang Enzhu, cho biết rằng ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2007 sẽ bằng 7,5% của tổng ngân sách nhà nước so với 7,4% năm 2006. Ông Jiang nói tiếp rằng số tiền chi cho quân đội Trung Quốc năm 2007 là 350,9 tỷ đồng nguyên (tương đương với 45 tỷ USD), tức là tăng gần 53 tỷ nguyên so với chi tiêu thật sự năm 2006. Các nguồn tin của chính phủ Mỹ đã ước tính là ngân sách quốc phòng của Trung Quốc hàng năm là vào khoảng 80 đến 115 tỷ USD, tức là lớn nhất trên thế giới sau Mỹ và cao hơn con số chính thức được được đưa ra rất nhiều.

[4] Về những từ ngữ và cơ cấu tổ chức của Hải quân Trung Quốc bằng tiếng Trung Quốc xin xem:

Shi Yunsheng (chủ biên), Trung Quốc Hải quân Bách khoa Toàn thư (Zhongguo Haijun Baike Quanshu; 中国海军百科全书). Bắc Kinh: Nhà Xuất Bản Haichao, tháng 12 năm 1998.

Zhang Xusan (chủ biên), Hải quân Đại tự điển (Haijun Da Cidian; 军大词典). Thượng Hải: Nhà Xuất Bản Tự Điển Thượng Hải, tháng 10 năm 1993.

Zhang Yongyi (chủ biên), Hải quân Quân sự Huấn luyện Học (Haijun Junshi Xunlian Xue; 军军事训练学). Bắc Kinh: Viện Khoa học Quân sự, tháng 4 năm 2006.

Zhou Keyu, (chủ biên), Đương đại Trung Quốc Hải quân (Dangdai Zhongguo Haijun; 当代中国海). Bắc Kinh: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1987.

Hải quân Trung Quốc thường dùng từ hạm đĩnh (jianting ) và hạm thuyền (jianchuan ) để nói chung về các tàu chiến của họ. Chữ thuyền (chuan) có thể dùng để đề cập đến bất cứ chiến thuyền lớn nhỏ nào.

Chữ hạm chỉ dành riêng cho các tàu chiến lớn hơn 400 tấn và có quân hàm đại đội (dadui). Quân hàm đại đội của các tàu chiến hải quân Trung Quốc tương đương với quân hàm trung đoàn (regiment) hay tiểu đoàn (battalion) của Mỹ và vì thế thường được các tài liệu của Mỹ dịch ra là “squadron” (liên đội tàu). Các đại đội hải quân đánh bộ, gọi là “hải quân lục chiến binh” (haijun luzhanbing ), “hải quân hàng không binh” (haijun hangkhongbing ), “hải quân ngạn phòng binh” ( haijun anfangbing ), hậu cần và kỹ thuật, đều có quân hàm tương đương với quân hàm tiểu đoàn của Mỹ.

Chữ đĩnh thường được dùng cho những tàu chiến nhỏ hơn 400 tấn. Nhưng hiện nay nhiều chiếc đĩnh đã lớn hơn 400 tấn vì đã được thiết bị với những hệ thống vũ khí tối tân hơn và nặng hơn, nhưng cách gọi vẫn giữ nguyên như thông lệ. Đĩnh có quân hàm cao nhất là đại đội, nhưng có những chiếc chỉ có quân hàm trung đội (zhongdui), tức tương đương với quân hàm đại đội của Mỹ. Ví dụ như những chiếc “hộ vệ đĩnh” cở 125 tấn chỉ có quân hàm trung đội và những chiếc “đạo đạn đĩnh” chỉ có quân hàm phó trung đội hay tiểu đội. Trong khi đó thì những chiếc tàu đổ bộ, gọi là “đăng lục đĩnh” (dengluting ), do các hạ sĩ quan ( ) chỉ huy thì không có quân hàm gì cả.

Mặc dầu tàu ngầm được gọi là “tiềm đĩnh”, tàu ngầm hạt nhân được quân hàm phó chi đội và tàu ngầm thông thường, tùy lớn hay nhỏ, được quân hàm phó đại đội đến đại đội.

Hải quân Trung Quốc có hết tất cả 15 cấp hàm và 5 tầng lớp. Các cấp hàm từ trên xuống dưới là:

“Quân Ủy Chủ Tịch” (Junwei zhuxi ),tức là chủ tịch của Quân Ủy Trung Ương, và “Quân Ủy Phó Chủ Tịch” (Junwei fuzhuxi ). Chức phó chủ tịch quân ủy tương đương với chức đô đốc (admiral) của Mỹ. Đô đốc của Mỹ là sĩ quan cấp 10, tức là cấp cao nhất.

“Quân Ủy Ủy Viên” (Junwei weiyuan ). Chức nầy cũng tương đương với chức đô đốc của Mỹ.

Tư lệnh vùng, gọi là “đại khu chính chức” (Daqu zhengzhi ),cũng tương đương với chức đô đốc của Mỹ.

Phó tư lệnh vùng, gọi là “đại khu phó chức” (Daqu fuzhi ), tương đương với phó đô đốc (vice admiral) hay chuẩn đô đốc (rear admiral) của Mỹ. Vice admiral của Mỹ là sĩ quan cấp 9 và rear admiral là sĩ quan cấp 8.

Tư lệnh quân đoàn, gọi là “chính quân” (Zhengjun ), tương đương với phó đô đốc hay chuẩn đô đốc của Mỹ.

Phó tư lệnh quân đoàn, gọi là “phó quân” (Fujun ), tương đương với chuẩn đô đốc hay thuyền trưởng cấp cao ( senoir captain, sĩ quan cấp 7) của Mỹ.

Sư đoàn trưởng, gọi là “chính soái” (Zhengshi ), tương đương với thuyền trưởng cấp cao hay chuẩn đô đốc của Mỹ.

Sư đoàn phó hay lữ đoàn trưởng, gọi là “phó soái” (Fushi ), tương đương với thuyền trưởng (captain, cấp 6) hay thuyền trưởng cấp cao của Mỹ.

Trung đoàn trưởng, gọi là “chính đoàn” (Zhengtuan ), tương đương với trung tá (commander, cấp 5) hay thuyền trưởng của Mỹ.

Trung đoàn phó, gọi là “phó đoàn” (Futuan ), tương đương vớ trung tá hay thuyền trưởng của Mỹ.

Tiểu đoàn trưởng , gọi là “chính doanh” (Zhengying ), tương đương với thiếu tá (lieutenant commander, cấp 4) hay trung tá của Mỹ.

Tiểu đoàn phó, gọi là “phó doanh” (Fuying ), tương đương với đại úy (lieutenant, cấp 3) hay thiếu tá (lieutenant commander) của Mỹ.

Đại đội trưởng, gọi là “chính liên” (Zhenglian ), tương đương với trung úy (lieutenant junior grade, cấp 2) hay đại úy của Mỹ.

Đại đội phó, gọi là “phó liên” (Fulian ), tương đương với cấp trung úy hay thiếu úy (ensign, cấp 1) của Mỹ.

Trung đội trưởng, gọi là “chính bài” (Zhengpai 正排), tương đương với cấp thiếu úy hay trung úy của Mỹ.

Trên phương diện cơ cấu tổ chức thì có 5 tầng lớp như sau:

Bộ Tư lệnh Hải quân. Trong cơ cấu tổ chức thì Bộ Tư lệnh có cấp hàm hạng 3, tức “đại khu chính chức.” Mãi đến năm 2004 tư lệnh trưởng và chính ủy đều là sĩ quan có hàm cấp 3. Nhưng đến khoảng giữa năm 2004 tư lệnh trưởng được tăng chức thành một ủy viên Quân Ủy và vì thế có hàm cấp 2. Nhưng chính ủy, theo tổ chức là ngang hàng với tham mưu trưởng, vẫn giữ hàm cấp 3.

Bộ tư lệnh của 3 vùng chiến lược: Bắc hải, Đông hải, và Nam Hải. Mỗi bộ tư lệnh có quân hàm cấp 4. Vì thế, từ những năm cuối thập kỹ 80, tư lệnh của các hạm đội trên đều có hàm “đại khu phó chức.”

Mỗi hạm đội đều có các căn cứ trực thuộc và những căn cứ nầy có hàm cấp 6, tức phó tư lệnh quân đoàn. Có 3 loại căn cứ: căn cứ phục vụ, căn cứ trắc nghiệm, và căn cứ đào tạo. Căn cứ “hải quân hàng không binh” cũng có hàm cấp 6. Trong tất cả các căn cứ, 8 căn cứ phục vụ sau đây là quan trong nhất: Qingdao và Lushun (khu vực Bắc hải Hạm đội); Zhoushan, Fujian, Shanghai (khu vực Đông hải Hạm đội): Guangzhou, Yulin, Zhanjiang (Nam Hải Hạm đội).

Một căn cứ phục vụ có các đơn vị trực thuộc gọi là “thủy cảnh khu” (Shuijingqu ), tức là những căn cứ có phận sự cảnh bị và phòng vệ các khu vực duyên hải. Có tất cả 8 căn cứ gọi là “thủy cảnh khu”: Dalian và Weihai (Bắc hải Hạm đội); Xiamen (Đông hải Hạm đội); Shantou, Beihai, Xisha/Hoàng Sa (Nam Hải Hạm đội).

Các chi đội tàu chiến thông thường trực thuộc một căn cứ phục vụ và các đại đội tàu chiến có thể trực thuộc một căn cứ phục vụ hay một chi đội.

[5] Trích trong China’s Navy 2007, Office of Naval Intelligence, trang 24.

[6] Như trên.

[7] Trích trong China’s Navy 2007, như trên, trang 24-25.

[8] China’s Navy 2007, trang 25.

[9] China’s Navy 2007, trang 26.

[10] Xem: Brad Kaplan, “China’s Navy Today: Storm Cloud on the Horizon …or Paper Tiger?”, http://navy.league.org/seapower/chinas_navy_today.htm.

[11] China’s Navy 2007, trang 55.

[12] “Amphibious Warships: The Real East Asian Arms Race,” Stratfor.com, ngày 5 tháng 4 năm 2007. Bài nầy có thể tải về từ: http//www.stratfor.com/products/premium/print.php?storyId=286856. Những chi tiết về những chiến thuyền đổ bộ sau đây là từ nghiên cứu nầy.

[13] Trung Quốc hiện nay đang tu trang chiếc hàng không mẫu hạm loại Kuznetsov tên là Varyag mà Trung Quốc đã mua của Nga với giá nữa tỷ USD. Chiếc Varyag được đóng khi sự hiểu biết của Liên Xô cũ về các hoạt động của các máy bay trên một chiếc hàng không mẫu hạm chưa được tinh vi lắm. Một ví dụ là sân bay trên hàng không mẫu hạm nầy nhỏ so với những hàng không mẫu hạm khác. Nhưng Trung Quốc đã nhất định đưa chiếc nầy vào hoạt động, có thể như là một hàng không mẫu hạm dùng vào việc đào tạo, vào năm 2010. Trong khi đó thì vào tháng 3 năm nay (2007) một ông đô đốc Trung Quốc đã tiết lộ trong một tờ báo Hồng Kông rằng Trung Quốc đã tiến triển rất nhanh trong việc nghiên cứu và phát triển hàng không mẫu hạm (aircraft-carrier R&D) và sẽ có thể hạ thủy một chiếc hàng không mẫu hạm vào năm 2010. (Peter Brookes, “Pacific Power Play: China’s Naval Expansionism,” The Heritage Foundation, ngày 19 tháng 3 năm 2007: http://www.heritage.org/Press/Commentary/ed032007a.cfm?RenderforPrint=1.) Vấn đề là tại sao Trung Quốc lại hạ quyết tâm phát triển hàng không mẫu hạm trong khi phát triển các chiến thuyền đổ bộ, tàu ngầm, và các hỏa tiển siêu âm lướt trên mặt nước và tự điều khiển đến mục tiêu để chống thuyền trên mặt nước (supersonic, sea-skimming anti-ship cruise missiles) là có hiệu quả hơn. Peter Brookes đưa ra một số giả thuyết (lý do). Một là, Trung Quốc cho là đã đến lúc giương ngọn cờ quốc gia và công báo cho thế giới biết Trung Quốc không chỉ còn là một đại cường khu vực nữa nhưng là một siêu cường. Nếu Trung Quốc có những hạm đội hàng không mẫu hạm mà Trung Quốc có thể gởi đi vòng quanh thế giới như Mỹ đã và đang làm thì Trung Quốc cũng có thể thị oai và chứng minh “sức mạnh mềm” của mình như Mỹ đã và đang làm. Hai là, Trung Quốc càng ngày càng phải vận chuyển nhiên liệu từ các nước Trung Đông và Châu Phi qua biển Ấn Độ, eo biển Mallaca, và Biển Đông. Những tàu chuyên chở nhiên liệu nầy hiện nay được an toàn căn bản là vì Mỹ đãm bảo việc tự do di chuyển trên biển trong các khu vực nầy. Đều nầy làm cho Trung Quốc khó chịu vì vấn đề an ninh nhiên liệu đang phải dựa vào lòng hảo tâm của Mỹ. Không có nhiên liệu nhập thì Trung Quốc không có thể tiếp tục phát kinh tế của mình với cao độ hiện nay, không có thể bành trướng ảnh hưởng, và không có thể tham chiến khi cần. Vì thế, Trung Quốc thấy việc phát triển hạm đội hàng không mẫu hạm là cần thiết để bảo vệ các đường nhập dầu và các nguồn dầu nhập. Một ví dụ là Trung Quốc đã tài trợ việc xây cất một cảng tại Gwadar ở Pakistan, gần vịnh Persian Gulf mà Trung Quốc có thể điều động một hạm đội hàng không mẫu hạm đến đó khi cần trong tương lai.

Nhưng theo một vài phân tích thì tham vọng thiết lập một hạm đội hàng không mẫu hạm hút rất nhiều tiền và sẽ làm cho hải quân Trung Quốc càng tụt hậu so với các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật và Ô-xtrây-li-a trong những lãnh vực mà Trung Quốc còn suy kém. Hàng không mẫu hạm rất đắt tiền. Ngoài việc chiếc Varyag cần ít nhất là 500 triệu USD để tu trang, hiện nay hải quân Trung Quốc đang thương lượng mua 50 chiếc máy bay Su-33 của Nga với giá là 2 tỷ rưỡi USD, và đang phải chi rất nhiều tiền để mua hay đóng các chiến thuyền hộ tống và các thuyền hổ trợ (như “tác chiến chi viện thuyền” và tàu đánh đuổi tàu lặn) cần thiết khác. Hiện nay, mặc dầu không phải chi tiền để đóng các chiếc hàng không mẫu hạm và các chiếc tàu hộ tống cần thiết, hải quân Mỹ cũng phải chi trung bình mỗi năm là 1 tỷ USD để có thể giữ cho một hàng không mẫu hạm với các thuyền hộ tống của nó (gọi là “carrier strike group”) có thể hoạt động. Nhưng một hạm đội hàng không mẫu hạm (gọi là “carrier fleet”) phải có 3 chiếc hàng không mẫu hạm và những thuyền hộ tống của nó để có thể hoạt động có hiệu lực. Ngoài ra, một hạm đội hàng không mẫu hạm cần một hai thập niên huấn luyện mới có thể hoạt động có hiệu lực được vì vấn đề phối hợp rất phức tạp. (“China: The Deceptive Logic for a Carrier Fleet,” Stratfor.com, ngày 7 tháng 8 năm 2007.)

[14] Brad Kaplan, như trên.

[15] Theo nhiều nghiên cứu thì Hạm Đội Nam Hải là hạm đội hùng hậu nhất của Trung Quốc. Hạm Đội Nam Hải có ít nhất là 32 hạm đội (flotilla) tàu lặn, trong đó có những chiếc tàu lặn tối tân nhất; hai hạm đội chiến thuyền đổ bộ (amphibious flottita);các hạm đội khu trục (destroyer flottila); các hạm đội tàu đặt mìn (mine warfare flottila); hơn một chục hạm đội tàu cao tốc lướt trên mặt nước (speed boat flottila); và toàn bộ các lữ đoàn thủy quân lục chiến.

[16] Bài nầy có thể tải về từ: http://www.strategy.net/printVersion/print_pub.asp?pubID=99.

[17] Xem: http://www.heritage.org/Research/AsiaandthePacific/wm1001.cfm?renderforprint=1

[18] Michael R. Gordon and David S. Cloud, “U.S. Knew of China Missle Test, but Kept Silent,” The New York Times, ngày 23 tháng 4 năm 2007 : http://www.nytimes.com/2007/04/23/washington/23satellite.html. Theo bài nầy thì chính quyền Bush mong rằng sự phản đối của Mỹ và các nước khác trên thế giới sau khi Trung Quốc đã thử vũ khí SC-19 sẽ làm cho Trung Quốc e ngại mà không tiếp tục thử thêm các vũ khí chống vệ tinh khác trong tương lai. Nhưng, theo bài báo nầy, trong cuộc viếng thăm Trung Quốc vào tháng 3 vừa qua Đại tướng Peter Pace, chủ tịch của Tổng Tham Mưu Quân Lực (chairman of the Joint Chiefs of Staff), không có thể đem chuyện vũ khí chống vệ tinh ra bàn với Trung Quốc. Chính ông ta cho biết là Trung Quốc nhất định không muốn đề cập đến chuyện đó.

[19] Ashley Tellis, “Punching the U.S. Military’s ‘Soft Ribs’: China’s Antisatellite Weapon Test in Strategic Perspective,” Carnegie Endowment for International Peace Policy Brief 51 (June 2007), trang 2.3.

[20] Michael R. Gordon and David S. Cloud, “U.S. Knew of China Missle Test, but Kept Silent,” The New York Times, ngày 23 tháng 4 năm 2007. Nguyên văn: “It is a bit of arms-control mythology that there is always a deal to be made… For years, the Chinese military has been writing about how to cripple a superpower that relies on high-tech capabilities like satellites. They have been patiently developing this capablility. I don’t see why they would trade it away.”

[21] Larry Wortzel, “China’s Nuclear Forces: Operations, Training Doctrine, Command, Control, and Campaign Planning,” Strategic Studies Institute (May 2007), trang 13.

[22] Direction of Trade Statistics Yearbook (Washington D.C.: International Monetary Fund, 2006).

[23] The Straits Times, ngày 1 tháng 11 năm 2006.

[24] Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” China Brief, số 14, ngày 11 tháng 7 năm 2007, trang 10. Bài nầy có thể tải về từ: http://jamestown.org/china_brief.

[25] Để biết thêm các chi tiết, xem Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” trang 10-11.

[26] Như trên, trang 11. Xem thêm: Bernama, ngày 27 tháng giêng năm 2007 và ngày 24 tháng 4 năm 2007.

[27] Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” trang 11.

[28] Như trên, trang 11; ABC Radio Australia News, ngày 9 tháng 5 năm 2005; The Straits Times, ngày 3 tháng 5 năm 2002.

[29] Tim Shipman and Chad Bouchard, “China is accused of fueling Pacific arms race,” SundayTelegraph, ngày 4 tháng 2 năm 2007: http://telegraph.co.uk.

[30] Eric A. McVadon, “U.S.-PRC Maritime Cooperation: An Idea Whose Time Has Come?” China Brief Volume VII, Issue 12, ngày 13 tháng 6 năm 2007: http://jamestown.org/china_brief.

© Thời Đại Mới

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Quan hệ thế giới, Quan điểm | Leave a Comment »

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa I
Chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa-Trường Sa qua tài liệu phương tây

Thái Văn Kiểm

Những sử liệu tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa từ thời Pháp thuộc
Thái Văn Kiểm

I – MINH CHỨNG CỦA NGƯỜI NGOẠI QUỐC

Ngoài những tài-liệu sử địa của Việt-Nam, chúng ta còn có thể dẫn chứng nhiều tài-liệu khác của người ngoại quốc, xác nhận chủ quyền của ta trên quần-đảo Hoàng Sa, chẳng hạn như :

1.Tài-liệu của người Hòa-Lan

Căn cứ vào ký sự Batavia (Journal de Batavia) của Công ty Hòa-Lan Đông Ấn (Compagnie hollandaise des Indes orientales), ấn hành trong những năm 1631-1634-1636, chúng ta được biết một sự kiện lịch-sử liên-hệ tới quần-đảo Hoàng Sa và Xứ Đàng Trong như sau:

Ngày 20-7-1634, dưới thời Chúa Sãi Nguyễn-Phước-Nguyên (1613-1635), ba chiếc tàu Hòa-Lan tên Veenhuizen, Schagen và Grootebroek, từ Batavia (Nam-Dương) đến Touron cùng nhổ neo đi Formose (Đài-Loan).

Ngày 21 thì gặp bão ngoài khơi, nên lạc nhau. Chiếc tàu Veehuizen tới Formose ngày 2 tháng 8, chiếc Schagen ngày 10 cùng tháng. Riêng chiếc Grootebroek bị đắm gần quần đảo Pracels, ngang với bắc vĩ tuyến 17. Trong số hàng hóa trị giá 153.690 florins, thủy-thủ chỉ cứu được một số trị giá 82.995 florins, kỳ dư bị chìm đắm kể cả chiếc tàu và 9 người bị mất tích.

Số hàng hóa cứu được, họ cất dấu nơi an toàn tại đảo Pracels. Thuyền-trưởng Huijch Jansen và 12 thủy-thủ đi bằng thuyền nhỏ vào duyên hải xứ Đàng Trong. Họ hy vọng sẽ tìm được một thuyền lớn để ra cứu 50 thủy-thủ còn ở lại trên đảo. Thuyền-trưởng đem theo 5 thùng bạc và 3.570 réaux đựng trong 17 bao. Khi họ vào tới đất liền, họ không được đối đãi như ý muốn. Tất cả bạc và tiền bị tịch thâu bởi viên-chức đặc trách hải môn và thương thuyền, mà người Hòa-Lan gọi là Ongangmij.

Sau đó, họ được phép trở lại Pracels trên một chiếc tàu Nhật-Bản tên Kiko, mà họ mua đứt, để đón 50 thủy-thủ còn nơi đảo và lấy 4 thùng bạc còn lại. Tất cả đều được 3 chiếc tầu khác tên là Bommel, Goa và Zeebung (cũng bị bão mà vào núp miền duyên hải xứ Đàng Trong) chở về Batavia. Tại đây viên thuyền-trưởng Jansen làm báo trình về việc thuyền Grootebroek bị đắm tại Pracels và sự tịch thâu 23.580 réaux bởi nhà chức trách xứ Đàng Trong.

Hai năm sau, dưới thời Chúa Thượng Nguyễn-Phước-Lan (1635-1648), ngày 6 tháng 3 năm 1636, hai chiếc tầu Hòa-Lan khác tới Touron. Thương gia Abraham Duijeker tiến về Faifo để gặp quan Trấn-thủ; sau đó ông ta đi Thuận-hóa (Senoa) yết kiến Chúa Thượng, để xin giao thương, đặt thương điếm và đòi số tiền 23.580 réaux đã bị tịch thâu năm kia.

Chúa Thượng Vương tiếp đón Duijeker rất trọng hậu; nhưng Ngài truyền rằng : “Những việc khiếu nại đó đã xảy ra dưới thời Vua cha, nay Chúa không hề hay biết; vả lại viên chức thuế-quan Ongangmij (?) đã bị cách chức, tịch thu gia sản (vì tội đã ăn hối lộ tới 340.000 lượng bạc trong thời kỳ tại chức), đã bị xử trảm và phanh thây rồi”. Chúa Thượng xét rằng Ngài đã xử sự công minh lắm; nay chớ nhắc lại làm chi. Ngài cũng cam đoan từ nay pháp luật rất nghiêm minh và sẽ không bao giờ xảy ra những việc đáng tiếc như vậy nữa.

Để bù vào sự thiệt thòi đó, Chúa Thượng chấp thuận cho người Hòa-Lan được tự do giao thương với xứ Đàng Trong, và miễn cho họ sắc thuế neo bến và các tặng phẩm, (Il accordait aux Hollandais le droit de libre échange dans le pays, les exemptait pour l’avenir des droits d’ancrage et des présents usuels).

Vì lẽ đó mà từ năm 1636, một thương điếm (comptoir commercial) của người Hòa-Lan đã được thiết lập tại Hội-an (Faifo) do Abraham Duijeker làm Trưởng điếm.
(Trích trong biên-khảo “La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine” của W.J.M. Buch, đăng trong Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient, tome XXXVI, année 1936, trang 134.)

2. Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) đã viết trong quyển Mémoire sur la Cochinchine như sau :

Topographie: Division physique- La Cochinchine don’t le souverain porte aujourd’hui le titre d’Empereur, comprend la Cochinchine proprement dite, le Tonquin…, quelques iles habitées peu éloignées de la côte et l’archipel de Paracels, composé d’ilôts, d’écueils et de rochers inhabités. C’est seulement en 1816, que l’Empereur actuel a pris possession de cet archipel”. (Le Mémoire sur la Cochinchine de Jean Baptiste Chaigneau, publié et annoté par A. Salles, Inspecteur des Colonies en retraite, in Bulletin des Amis du Vieux Hue, No 2, Avrit-Juin 1923).

[Có nghĩa là:
Địa thế: Xứ Cochinchine, mà Quốc-Vương ngày nay đã xưng đế-hiệu, gồm có xứ Đàng Trong, Bắc Hà (Tonquin)… vài đảo gần bờ biển, có dân cư, và quần đảo Paracels, gồm có nhiều đảo và mỏm đá thiếu dân. Vào năm 1816 vị Hoàng-đế đương kim đã tiếp nhận quần đảo này.]

3. Đức Giám-mục Taberd đã viết trong quyển Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes, xuất bản năm 1833, những dòng sau đây:

“Nous n’entrerons pas dans l’énumération des principales iles dépendantes de la Cochinchine; nous ferons seulement observer que depuis plus de 34 ans l’archipel des Paracels nommé par les Annamites Cát Vàng ou Hoàng Sa (sable jaune) véritable labryrinthe de petits ilôts de rocs et de bancs de sable justement redoutés des navigateurs a été occupé pas les Cochinchinois.

“Nous ignorons s’ils y ont fondé un établissement, mais il est certain que l’empereur Gia Long a tenu à ajouter ce singulier fleuron à sa couronne, car il jugea à propos d’en aller prendre possession en personne, et ce fut en l’année 1816 qu’il y arbore solennellement le drapeau cochinchinois”.

[Tạm dịch như sau :

“Chúng tôi không đi vào việc kê khai những hòn đảo chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels – mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa), gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát, làm cho những kẻ đi biển rất e ngại – đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong.

“Chúng tôi không rõ họ có thiết lập một cơ sở nào tại đó không; nhưng có điều chúng tôi biết chắc là Hoàng-đế Gia-Long đã chủ tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của Ngài, vì vậy mà Ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần-đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, mà Ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”.]

Những tài-liệu quốc-sử và ngoại sử trên kia chứng minh một cách hùng hồn và bất khả kháng chủ quyền của Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

4. Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội-nghị San Francisco.

Theo Hiệp-ước đình-chiến ký kết tại San Francisco, vào tháng 9 năm 1951, khoản 2, nước Nhật-Bản phải rút lui khỏi các nơi mà họ đã dùng vũ-lực để chiếm đóng trong thời đệ nhị thế-chiến, lẽ tất nhiên là trong đó có hai quần-đảo Paracels và Spratley.

Tại Hội-nghị San Francesco, ngày 7-9-1951, Thủ-Tướng Chính-Phủ, Trưởng Phái-đoàn Việt-Nam, đã long trọng tuyên bố trước 51 phái-đoàn ngoại-bang như sau :

“Et comme il faut franchement profiter de toutes occasion pour étouffer les germes de discorde, nous afirmons nos droits sur les iles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet-Nam”.

[Xin tạm dịch là: “Và vì chưng phải lợi dụng tất cả mọi trường hợp để chặn đứng những mầm xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần-đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã luôn luôn từ xưa thuộc lãnh-thổ Việt-Nam”.]

Lời tuyên bố đó đã được Hội-nghị San Francisco long trọng ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái-đoàn phó hội, không có một phái-đoàn nào phản đối gì cả.

II – HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA QUA THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN NAY

1. Danh từ Paracels xuất hiện từ bao giờ.

Danh từ Pracels xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ Bán đảo Đông-Dương (Carte de la Peninsule Indochinoise) do Frères Van Langren, người Hòa-Lan, ấn hành năm 1595.

Bản đồ này phác họa nhờ những tài liệu của người Bồ Đào Nha, nối gót nhà hàng hải Vasco de Gama, đã tiên phong đông du tìm kiếm xứ Ấn-Độ bằng đường biển (route maritime des Indes) bằng cách đi vòng mũi Hảo Vọng (Cape de Bonne Espérance) năm 1497. Nhiều tàu thủy Bồ Đào Nha đã tới Malacca từ năm 1509, Xiêm-La từ năm 1511, vào năm 1516 thì Fernando Perez d’Andrade đến cửa biển sông Mekong.

Theo giáo-sư Pierre Yves Manguin, danh từ Ilhas do Parcel (Pracel) do người Bồ Đào Nha đặt ra. Trong từ ngữ của họ, danh từ Parcel có nghĩa là “đá ngầm” (récif), cao tảng (haut-fond). (xem biên-khảo “Les Portuguais sur les côtes du Vietnam et du Campa”) đăng trong Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient,année 1972, page 74).

Nhưng theo giáo-sư A. Brébion, Paracels do tên một chiếc tàu của Công-ty Hòa-Lan Đông Ấn, tên Paracelsse, bị chìm đắm tại quần đảo này hồi thế kỷ XVI. (Xem Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne, de l’Indochine Francaise,1935, Société d’Editions Géographiques, maritimes et Coloniales, 17 Rue Jacob, Paris VIè).

Riêng về danh từ Trường-Sa, chúng ta đã thấy trong Hồng Đức Bản Đồ phác họa từ đời Lê-Thánh-Tông (1470-1498), vào ngày mồng 6 tháng 4 năm Hồng Đức 21 (25 avril 1490); bản đồ có ghi nơi đất liền “Trường Sa nhất nhật trình”, tất nhiên đây không phải là quần-đảo, mà là bờ biển chạy dài từ cửa Nhật Lệ (Quảng-Bình) cho tới Phá Tam Giang (Thừa-Thiên) qua các cửa Tùng Luật và Việt Yên (Quảng-Trị). Bờ biển đầy cát trắng mênh mông, phải đi mất một ngày đường (nhất nhật trình). Trong bộ Đại Nam Nhất Thống Chí, những quyển nói về Quảng-Bình, Quảng-Trị và Thừa-Thiên đều có nói về dãy Trường Sa này, cũng có tên là Động Trường Sa, Động Bạch Sa (xưa gọi là Đại Trường Sa). Sách Ô Châu Cận Lục của Dương-Văn-An (1555) cũng có nhắc tới Trường Sa đã chỉ định dải cát trắng dài dằng dặc chạy suốt duyên hải Bình Trị Thiên.

2. Hoàng Sa dưới thời Pháp.

Dưới thời Pháp, quần đảo Paracels luôn luôn được nhà cầm quyền lưu ý tới. Từ năm 1920, Nha Thương-chánh (Douanes) đã tổ chức những cuộc tuần-du chung quanh đảo Hoàng Sa, để ngăn ngừa buôn lậu. Năm 1925, Hải-học-viện Nha-Trang có gửi một phái-đoàn bác-học, đi trên tầu De Lanessan, ra Hoàng Sa để nghiên cứu tường tận tại chỗ. Phái-đoàn nhận thấy quần-đảo này chứa đựng rất nhiều phốt-phát. Phái-đoàn cũng khảo sát nhiều bằng chứng rằng quần đảo Paracels nằm trên một cao-nguyên chìm dưới biển và dính liền với lục-địa Việt-Nam.

Nhiều công-ty Nhật-Bản đã xin phép chính quyền Pháp tại Đông-Dương, để khai thác phốt-phát và họ đã xây một con đê bằng đá phốt-phát (jetée en blocs de phosphate) và một chiếc cầu sắt dài 300 thước nơi đảo Robert, để tiện việc chuyên chở phốt-phát lên tàu thủy.

Vì có sự giao thiệp với ngoại nhân nơi đảo này, nên chi nhà cầm quyền hồi đó đã ký một nghị-định ngày 15 juin 1932, thiết lập quần-đảo Hoàng Sa thành một đại-lý hành-chánh (délégation administrative), gọi là Délégation administrative des Paracels, sáp nhập với tỉnh Thừa-Thiên. Đến năm 1939, mới chia làm hai, lấy tên là “Délégation du Croissant et dépendances” và “Délégation de l’Amphitrite et dépendances”.

Cũng vào năm đó, khi trận đệ nhị thế-chiến bùng nổ, quân-đội Thiên-Hoàng Nhật-Bản ngang nhiên chiếm đóng quần-đảo, lập tại đây một căn-cứ quân-sự, cho đến khi họ đầu hàng Đồng-Minh.

3. Trường Sa dưới thời Pháp thuộc.

Người Trung-Hoa gọi quần-đảo này là Nam Sa (Nansha), đại khái chỉ định một cách mập mờ tất cả những hòn đảo rải rác phía dưới quần-đảo Hoàng Sa.

Năm 1927, chiếc tàu De Lanessan đã tới tận nơi để khảo sát, sau khi đã khảo sát tại Paracels. Sau đó, năm 1930, chính quyền Pháp tại Đông-Dương đã chính thức cử một phái-đoàn ra cắm cờ tại quần-đảo Spratley. Phái-đoàn đi trên chiếc tàu “La Malicieuse”. Đến năm 1933, họ lại cử ba chiếc tàu khác là : Alerte, Astrobale và De Lanessan, ra tận nơi để cắm cờ trên những hòn đảo khác, rải rác chung quanh đảo chính Spratley.

Công việc thâu nhận từng hòn đảo bắt đầu từ ngày 13 tháng 4 năm 1930, với
đảo Spratley; tiếp theo là đảo Caye d’amboine thâu nhận ngày 7-4-1933, đảo Itu Aba thâu nhận ngày 14-4-1933, nhóm Hai Đảo (Groupe des deux iles) thâu nhận ngày 10-4-1933; đảo Loaita thâu nhận ngày 11-4-1933; đảo Thi Tu thâu nhận ngày 12-4-1933.

Công việc thâu nhận (prise de possession) này bao gồm tất cả những hòn đảo con con rải rác chung quanh những hòn đảo chính đã kể trên kia. Một bản thông cáo chính thức đã được đăng tải trong Công-báo Đông-Dương (Journal Officiel de l’Indochine) ngày 25 septembre 1933, trang 7784.

Quần-đảo Trường Sa đã được sáp nhập vào tỉnh Bà-Rịa (Nam-Việt) do nghị định của Toàn Quyền Đông-Dương, ký ngày 21 juillet 1933.

Chúng ta cũng nên ghi thêm rằng từ năm 1920, có nhiều công-ty Nhật-Bản đến đây khai thác phốt-phát. Thỉnh thoảng cũng có một số ngư phủ Trung-Hoa chèo ghe từ Hải-Nam, Quảng Đông tới đây để đánh cá, làm ăn trong mấy tháng rồi trở về quê quán.

Sau hết, chúng ta cũng nên ghi rằng năm 1938, Nha Khí-tượng Đông-Dương (Service Météorologique de l’Indochine) có thiết lập tại đảo Itu Aba, một cơ sở khí tượng bao trùm tất cả miền duyên hải Đông-Dương.

Trước ngày khai chiến, chính phủ Nhật-Bản đã tuyên bố ngày 30 mars 1939 rằng quần-đảo Spratley từ nay sẽ đặt dưới quyền kiểm-soát của Nhật-Bản. Viên Đại-sứ Pháp tại Đông-Kinh liền gửi thư phản kháng ngày 21 Avril 1939, và tuyên bố phủ nhận quyết-định đơn phương của chính phủ Thiên-Hoàng. Rồi chúng ta phải đợi tới ngày đình chiến, để chứng kiến việc quân-đội Nhật rút khỏi Trường Sa, cũng như do Hiệp-ước đình chiến San Francisco, chính-phủ Nhật-Bản đã long trọng từ bỏ chủ quyền của họ trên hải đảo Paracels và Spratley (1951).

Sau đó, chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đã nhiều lần xác nhận long trọng chủ-quyền của mình trên hai quần-đảo nói trên.

4. Công cuộc thực hiện chủ quyền của Việt-Nam trong thời cận đại.

a) Thời tiền chiến.

Các công tác thực hiện chủ quyền của Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa gồm có:

- Năm 1920, Quan-thuế Pháp gửi quan-thuyền đến tuần tiểu thường xuyên quần đảo Hoàng Sa.

- Từ năm 1926 đến 1933, chính phủ Pháp đã cử chiến-hạm và phái-đoàn thám sát hai quần-đảo này.

- Từ 1931 đến 1939, Pháp gửi binh-sĩ tới trú đóng tại Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp thiết lập đài vô tuyến tại đảo Pattle để bảo đảm an-ninh thủy-vận cho vùng Nam Hải.

Về phương diện hành-chánh, trong thời kỳ đó nhà cầm quyền Pháp và Việt đã có những quyết-định như sau :

- Nghị-định số 156-SC ngày 15-6-1932 của Toàn Quyền Đông-Dương đặt quần-đảo Hoàng Sa thành đơn-vị hành-chánh sáp nhập với tỉnh Thừa-Thiên.

- Thông cáo của Bộ Ngoại-Giao Pháp về việc chiếm cứ quần-đảo Trường Sa đăng trong Công-báo của chính-phủ Pháp số 173 ngày 26-7-1933 trang 7839.

- Nghị-định số 4762 ngày 21-12-1933 của Thống-đốc Nam-Kỳ sáp nhập quần-đảo Trường Sa vào tỉnh Bà-Rịa.

- Dụ số 10 ngày 30-3-1933 năm Bảo Đại thứ 13 đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa-Thiên.

- Nghị-định số 3282 ngày 5-5-1939 của Toàn Quyền Đông Dương sửa đổi nghị-định trên và chia địa hạt trên ra làm hai nhóm : Nhóm Nguyệt Thiềm (Délégation du Croissant et dépendances) và Nhóm Tuyên Đức (Délégation de l’Amphitrite et dépendances). Trụ sở của hai vị đại-diện Pháp được đặt tại đảo San Hồ (Pattle) và đảo Phú-Lâm (Ile boisée).

b) Thời Cộng-Hòa

Dưới thời đệ nhất (1956-1963) và đệ nhị Cộng-Hòa (từ 1964…), chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đã có nhiều công tác và quyết-định hành-chánh liên hệ tới Hoàng-Sa và Trường-Sa :

- Từ 1956, Hải-quân VNCH thường xuyên thám sát quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Từ đó một trung-đội Địa-Phương-Quân tỉnh Quảng_Nam, gồm 40 người, do 1 sĩ-quan cấp úy chỉ-huy trú đóng tại đảo Hoàng Sa.

Các văn kiện hành-chánh căn bản gồm có :

- Sắc-Lệnh số 143/NV ngày 22-10-1956, Nghị-định số 76/BNV/HC/ND ngày 20-3-1958 và Sắc-Lệnh số 34/NV ngày 29-1-1959 sáp nhập quần-đảo Trường Sa vào tỉnh Phước-Tuy (Bà-Rịa).

- Sắc-lệnh số 174/NV ngày 13-7-1961 của Tổng-Thống VNCH đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng-Nam (thay vì thuộc tỉnh Thừa-Thiên) và thành lập quần-đảo này thành xã Định-Hải, thuộc quận Hòa-Vang.

- Do Sắc-lệnh số 709/BNV/HC ngày 21-10-1969 của Thủ-Tướng Chính-phủ VNCH, xã Định-Hải được sát nhập làm một với xã Hòa-Long, cùng thuộc quận Hòa-Vang, tỉnh Quảng-Nam.

KẾT LUẬN

Căn cứ vào các dữ kiện lịch-sử và hành-chánh thượng dẫn, ta có thể khẳng định chủ-quyền bất khả xâm của Việt-Nam Cộng-Hòa trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong cả bốn phương-diện: lịch-sử, địa-lý, pháp-lý và thực-tế.

Các Chúa và Vua nhà Nguyễn đã thiết lập với các hải đảo những liên lạc thường xuyên có tính cách hành-chánh, quân-sự và quan-thuế, chưa kể việc xây dựng quân trại, miếu vũ, mộ bia, v.v… đã trở thành những di-tích lịch-sử.

Nhìn lại quá trình lịch-sử chúng ta thấy một số sự kiện lịch-sử và địa-lý quan trọng đáng ghi nhớ là:

- Năm 1634, một chiếc tàu Hòa-Lan đã bị chìm đắm tại Hoàng-Sa (Paracels), viên Thuyền-trưởng và đoàn thủy-thủ lâm nạn đã được quan chức Quảng-Nam, dưới thời chúa Sãi, giúp đỡ cho trở về xứ Batavia.

- Năm 1702, dưới thời Chúa Minh Nguyễn-Phước-Chu, và từ đó về sau, sử sách đã nói tới Đội Hoàng Sa có nhiệm vụ tuần tiểu hải phận xứ Đàng Trong, kiểm soát các thương thuyền và đặc biệt thâu lượm được nhiều hàng hóa và kim khí, vật dụng tại quần đảo Hoàng Sa, đem về nộp cho Phủ Chúa tại Phú-Xuân.

- Năm 1802 (đầu niên hiệu Gia-Long), “cũng phỏng theo chế-độ cũ, đặt Đội Hoàng Sa” ( theo Đại Nam Nhất Thống Chí).

- Năm 1816, Vua Gia-Long thân chinh tiếp nhận quần-đảo Hoàng Sa và thượng quốc-kỳ trên đảo (theo Jean Baptiste Chaigneau và Giám-mục Taberd).

- Năm 1820 (đầu niên hiệu Minh-Mạng) “thường sai thuyền công đến nơi dò xét hải trình…” (theo Đại Nam Nhất Thống Chí).

- Năm 1835, Vua Minh-Mạng truyền lập miếu Hoàng Sa dựng bia đá và tấm bình phong.

- Năm 1951, tại Hội-nghị San Francisco, Thủ-Tướng Chính-phủ, Trưởng Phái-đoàn, đã công khai và long trọng tuyên bố chủ-quyền của Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chẳng có một nước nào (trong số 51 nước tham dự hội-nghị) phản đối cả.

Như vậy là chúng ta đã hội đủ những bằng chứng cụ thể tỏ rõ rằng các quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình (animus) và mình đang khai thác (corpus) các hải-sản, hải-sâm, phân chim, ốc xà-cừ, phốt-phát, đồi mồi, cát trắng, cát vàng, v.v… chứ không phải là hoang đảo (res derelicta) mặc cho ai muốn chiếm thì chiếm.

Trải mấy ngàn năm lịch-sử, tổ-tiên chúng ta đã tranh giành từng tấc đất ngọn rau trong cuộc bành-trướng lãnh-thổ khắp ba mặt: Nam tiến, Tây tiến và Đông tiến, lấy Trường Sơn, sông Cửu Long và Nam Hải làm địa bàn sinh hoạt, như muốn thi gan đấu sức với núi cao bể cả, nói lên ý-chí quật cường của một dân-tộc chưa bao giờ chịu lùi bước trước nguy nan.

Ngày nay, đương đầu với những thử thách lớn lao, chúng ta chỉ có một con đường là trường kỳ chiến-đấu trên mọi mặt: quân-sự, chính-trị, ngoại-giao, để bảo vệ chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh-thổ, lãnh-hải quốc-gia Việt-Nam.

Thái Văn Kiểm 

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa II

Tuyên Bố Của Thủ Tướng Trần Văn Hữu Ở Hòa Hội 1951

Vương Hồng Anh tổng lược – Theo VietBao 25.05.2002

Như đã trình bày, đầu tháng 9 năm 1951, 51 quốc gia đã từng góp công trong cuộc chiến đấu chống Nhật Bản trong Đệ nhị thế chiến tới tham dự Hòa hội Cựu Kim Sơn theo lời mời của chính phủ Hoa Kỳ, để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh và mở bang giao với Nhật Bản. Trong hòa hội, vấn đề chính là thảo luận bản dự thảo hòa ước do Anh Mỹ đề nghị ngày 12-7-1951. Ngày 8-9-1951, các quốc gia tham dự hội nghị, ngoại trừ Nga và một số nước đàn em, đã ký một hòa ước với Nhật Bản. Điểm đáng chú ý là cả hai phe Quốc Cộng Trung Hoa đều không được mời tham dự hòa hội.
Tại hòa hội, Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã đọc bản tuyên bố xác định chủ quyền đã có từ lâu đời của Quốc gia Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là nội dung một số điểm chính đã được Thủ tướng Trần Văn Hữu trình bày tại Hòa hội Cựu Kim Sơn, trích trong France-Asia, số 66-67, tháng 11-12 1951, phần phiên dịch từ bản tiếng Pháp được phổ biến trong Tập san Sử Địa của Đại học Sư phạm Sài Gòn, số đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa của ấn hành năm 1974.

Tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tại Hòa hội Cựu Kim Sơn.

“Thật là nghiêm trọng và cảm kích cho Việt Nam được đến San Francisco tham dự công việc của hội nghị Hòa bình với Nhật Bản. Sở dĩ chúng tôi được hiện diện tại đây là nhờ các tử sĩ của chúng tôi và lòng hy sinh vô bờ bến của dân tộc chúng tôi, dân tộc đã chịu đựng biết bao đau khổ để được sống còn và giành sự trường tồn cho một nòi giống đã có hơn 4 ngàn năm lịch sử.”
“Nếu mỗi dân tộc đã thống khổ do sự chiếm đóng của Nhật Bản, có quyền tham dự hội nghị này, như tất cả diễn giả liên tiếp hai ngày nay đã đồng thanh nhìn nhận, mặc dù thuộc ý thức hệ nào đi nữa cũng vậy, thì cái quyền Việt Nam lên tiếng về Hòa ước Hòa bình với Nhật Bản lại càng dĩ nhiên hơn lúc nào hết, vì không ai không biết rằng, trong tất cả các quốc gia Á châu, V.N là một nước chịu nhiều đau khổ nhất về tài sản cũng như về tính mạng người dân. Và tôi thiếu sót phận sự tối thiểu đối với đồng bào quá vãng nếu giờ phút này, tôi không hướng một ý nghĩ thành kính đến số một triệu dân Việt mà hoàn cảnh bi thảm của sự chiếm đóng đã đưa đến cái chết đau thương. Những hư hại vật chất mà đất nước chúng tôi gánh chịu không phải là ít và tất cả nền kinh tế của chúng tôi bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Cầu cống và đường sá bị cắt đứt, làng xã bị triệt hạ hoàn toàn, nhà thương và trường học bị thiệt hại, bến tàu và đường sá bị dội bom, tất cả đều phải làm lại, đều cần thiết phải làm lại, nhưng than ôi cần có nguồn tài nguyên quá cao so với khả năng hiện hữu của chúng tôi.”
“Cho nên, trong lúc khen ngợi sự rộng lượng của những tác giả dự án thỏa hiệp này, chúng tôi cũng trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu hội nghị ghi nhận.”
“Là những người Á châu, chúng tôi thành thật hân hoan trước những viễn tượng mới mẻ mở rộng ra cho một quốc gia Á Đông sau khi kết thúc thỏa hiệp hòa bình này. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng góp phần vào sự phục hưng của một dân tộc Á đông bình dị và cần mẫn như nước Nhật Bản đây, chúng tôi tin chắc rằng những người dân châu Á phải là những người phát khởi thịnh vượng chung của mình, họ cũng trông cậy nơi chính mình để xa lánh mọi chế độ đế quốc và trong việc thiết lập một trạng thái quốc tế mới, một sự liên đới Á châu cũng cần thiết như một sự liên đới Âu châu vậy.”
“Điều này không có ý muốn nói là sẽ có một ngày nào đó hai sự đoàn kết này sẽ chống đối lẫn nhau. Điều này chỉ muốn nói một cách giản dị là các dân tộc châu Á một khi đã được các quốc gia Tây phương hoàn thành việc giúp đỡ họ xây dựng hòa bình, tôi nói rằng một khi mà hòa bình đã vãn hồi, các dân tộc Á châu không thể sẽ là gánh nặng cho kẻ khác, mà trái lại họ phải nhớ nằm lòng là họ phải tự bảo vệ mạng sống của họ bằng những phương tiện riêng của họ. Điều đó, ít nhất cũng là tham vọng của Việt Nam và dù cho có phải chịu nhiều thăng trầm cực nhọc họ vẫn tự hào là không lúc nào để nhụt chí. Nhưng một dân tộc độc lập phải là một dân tộc tự hào và cũng bởi sự tự hào, theo chúng tôi, có cái giá, giá đó tuy không thể nào bằng sự tự hào của Nhật Bản nhưng chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của Hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào.”
“Tuy nhiên nếu dự thảo hiệp ước này đòi hỏi thẳng thắn cái quyền dền bồi lại tất cả những thiệt hại mà chính Nhật Bản hoặc là tác giả, hoặc ngẫu nhiên đã gây ra, những đền bù được dự liệu bằng các cung cấp dịch vụ, trong trường hợp của Việt Nam mà không được đền bồi bằng những nguyên liệu, thì chắc chắn sẽ chẳng có kết quả gì cả. Tất cả mọi thứ Việt Nam, cũng cần như Nhật Bản, một số trợ giúp quan trọng để tái tạo nền kinh tế của mình. Từ đó, nếu nhận những đền bù chánh yếu bằng những cung cấp dịch vụ thì chẳng khác nào như là đi tín nhiệm mọi thứ tiền không thể lưu hành ở xứ mình.”
“Chúng tôi vì vậy sẽ phải đòi hỏi nghiên cứu lại các phương thức bồi hoàn hữu hiệu hơn và nhất là chúng tôi phải tính, ngoại trừ những phương tiện tạm thời, tới một sự bồi thường chính thức vào cái ngày mà chúng tôi ước mong là sẽ rất gần, cái ngày mà nền kinh tế của Nhật Bản sẽ được phục hưng để họ có thể đương đầu với tất cả mọi bắt buộc.”
Đoạn kết, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm móng các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”

Lược ghi các phản ứng của Trung Cộng

Về phía Trung Cộng, như đã trình bày, khi thấy bị Hoa Kỳ gạt ra khỏi hòa hội, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh đã phản ứng ngay bằng cách một mặt ra một số bản tuyên bố chính thức và một mặt khác cho đăng các bài báo để lên án Hoa Kỳ về việc không mời Trung Cộng tham dự hòa hội và để trình bầy quan điểm của Trung Cộng về một số vấn đề cần phải được thảo luận. Một trong những vấn đề này là chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lời tuyên bố đầu tiên của chính phủ Trung Cộng đã được Chu Ân Lai, lúc đó là bộ trưởng Ngoại giao, trình bày ngày 4-12-1950, trong đó Trung Cộng đã nêu ra căn bản chính để ký một hòa ước với Nhật Bản: “Bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản tuyên bố Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật Bản sau khi nước này đầu hàng đã được các quốc gia trong Ủy Hội Viễn Đông thỏa thuận và thông qua ngày 19-6-1047, các văn kiện quốc tế mà Chính phủ Hoa Kỳ đã ký kết là căn bản chính cho một hòa ước với Nhật Bản”. Chu Ân Lai nói thêm: Nhân dân Trung Hoa rất ước muốn sớm có một hòa ước liên hợp với Nhật Bản cùng với các quốc gia khác trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai. Nhưng căn bản của hòa ước phải hoàn toàn thích hợp với bản tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên cáo Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật Bản sau khi nước này đầu hàng được quy định trong các văn kiện này. Tuy bản tuyên bố của Chu Ân Lai không đề cập đến vấn đề chủ quyền với hai quần đảo mà chỉ đề cập tới nhiều vấn đề khác, nhưng nó đã nêu ra quan điểm chính yếu của Trung Cộng.
Trong số báo tuần trước, VB đã lược trình nội dung “vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo” mà Trung Cộng chính thức đề cập trong một bản tuyên bố sau đó. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi xin tóm lược các điểm chính đã trình bày: Khi nghiên cứu dự thảo hòa ước Cựu Kim Sơn Anh-Mỹ do Hoa Kỳ gửi cho các quốc gia được mời tham dự hòa hội, chính phủ Trung Cộng thấy điều hai của dự thảo hòa ước không quy định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản sẽ phải từ bỏ được trao cho quốc gia nào, nên trong bản tuyên bố ngày 15-8-1951, sau khi đề cập tới quan điểm của Trung Cộng về từng vấn đề một, Chu Ân Lai tuyên bố: “Dự thảo Hiệp ước quy định là Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với đảo Nam Uy (đảo Spratly) và quần đảo Tây sa (quần đảo Paracel), nhưng lại cố ý không đề cập tới vấn đề tái lập chủ quyền trên hai quần đảo này. Thực ra, cũng như các quần đảo Nam Sa và quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Uy lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung Quốc. Mặc dù những đảo này đã có lúc bị Nhật Bản chiếm đóng một thời gian trong trận chiến tranh xâm lăng do đế quốc Nhật Bản gây ra, sau khi Nhật Bản đầu hàng thì chính phủ Trung Hoa đã thâu hồi những hòn đảo này.”
Chu Ân Lai kết luận vấn đề này bằng cách phủ nhận giá trị bất cứ hòa ước nào ký kết với Nhật Bản mà không có sự tham dự của Trung Cộng: Chính phủ Nhân dân Trung ương của nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa một lần nữa tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa trong việc chuẩn bị, soạn thảo và ký một hòa ước với Nhật Bản thì dù nội dung và kết quả một hiệp ước như vậy có như thế nào, chính phủ Nhân dân Trung ương cũng coi hòa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp, và vì vậy vô hiệu.”

Re: Chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa-Trường Sa qua tài liệu phương tây
by TrucLe ngày 04/08/2007 lúc 01:22:24 EDT

ĐIỂM SÁCH

Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands

[Chủ Quyền trên các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Monique Chemillier-Gendreau]

LEÏLA CHOUKROUNE
(Viễn cảnh Trung Quốc số 35, tháng Năm và Sáu năm 2001, trang 74)

Trúc Lê dịch

Vào ngày 1 tháng tư năm nay, một chiếc máy bay gián điệp của Hoa Kỳ và một chiếc máy bay chiến đấu của Trung Quốc đụng nhau khoảng lối 60 dặm phía Đông Nam đảo Hải Nam. Kết quả là một phi công Trung Quốc đã tử thương và đã nhanh chóng được truy thăng thành anh hùng quốc gia, và sự giam giữ phi hành đoàn Hoa Kỳ gồm 80 người bị [Trung Quốc] bắt làm con tin và sau đó đã được phóng thích. Một hậu quả khác là sự xuất hiện một loạt bài phân tích chính trị – chiến lược đủ loại trong đó người ta đã đặc biệt nhấn mạnh đến chủ trương bành trướng khi ẩn khi hiện của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa [South China Sea tức là Biển Đông], chủ trương mà đã dựa vào những mức độ thuyết phục khác nhau về tranh chấp luật pháp để chứng minh sự đúng đắn của phía này hoặc phía kia dưới ánh sáng của những lỗ hổng trong công pháp quốc tế hiện đại.

Cũng tương tự như thế, cách đặt vấn đề về sự liên hệ giữa Trung Quốc với qui tắc pháp luật, và đặc biệt hơn, với Luật Quốc Tế về Biển, là sợi chỉ xuyên suốt của cuốn sách Chủ Quyền Trên Các Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa của Monique Chemillier-Gendreau. Quyển sách này có mục đích là phân giải những căn bản pháp luật dựa lên đó những tranh chấp đối nghịch nhau về chủ quyền trên Biển Đông đã được xác lập. Tác giả dựa vào một phương thức chắc chắn là “nguyên thủy” theo nghĩa là nó đã dựa phần lớn vào sự phân tích các tài liệu văn khố Pháp. Phương thức này đã đẩy tác giả tới việc phải sử dụng ba thế kỷ của lịch sử ngoại giao để đánh giá sự đúng sai về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của các phía, và quyền chiếm hữu của các phía trên những quần đảo tranh chấp, để từ đó đưa ra một soi sáng pháp lý về các vấn đề chủ quyền. Điều này sau đó sẽ được dùng như là căn bản cho một sự giải quyết giữa các nước với nhau, mà chắc chắn sẽ phải liên quan đến việc vẽ biên giới lãnh hải giữa các nước.

Biển Đông là một hải lộ chiến lược, một vùng giàu tài nguyên ngư sản, và đầy tiềm năng về dầu hỏa. Đó có lẽ cũng là nơi tranh chấp nhất trên quả địa cầu. Không ít hơn sáu nước ven biển (Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á và Brunei) đã đưa ra những tuyên bố chủ quyền đối nghịch nhau trên quần đảo Trường Sa (Spratly Islands), trong khi quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thì chỉ có tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc chắc chắn là trọng tâm của toàn bộ sự tranh chấp này, bởi vì Bắc Kinh đã tuyên bố chủ quyền trên tuyệt đối mọi đảo, hòn, đá và bãi và ngay cả vài bãi ngầm dưới nước trong chu vi được vẽ trên bản đồ có dạng chữ U hoa [còn được gọi là bản đồ “Lưỡi Rồng”- chú thích của Trúc Lê], mà tuồng như đã Trung Quốc có ý định nghĩa như sự “nới rộng tự nhiên” ipso facto (tự dữ kiện) và ab initio (tự nguyên thủy) của lãnh thổ Trung Quốc.

Sau khi phác họa một bức tranh toàn diện về những khía cạnh địa lý, pháp luật, lịch sử của sự tranh chấp chủ quyền này, tác giả đã dành riêng hai chương để khảo cứu sự sở đắc chủ quyền của các nước tranh cãi. Trong phần này Bà đã theo phương pháp niên đại học (theo thứ tự thời gian) và đưa ra kết luận trong chương cuối, chỉ gói ghém trong vài trang được dùng như là những hướng dẫn cho một giải quyết pháp lý của tranh chấp. Như Bà đã giải thích trong phần hai của chương đầu về tính cách pháp lý của vấn đề, sự phân tích của Bà nói chung là dựa vào những lý lẽ được lấy từ ngành học mà Bà gọi là “luật liên thời” (intertemporal law). Bà định nghĩa phương cách này như là một sự so sánh “giữa những đặc điểm của hệ thống pháp lý ở những giai đoạn phát triển khác nhau của hệ thống với những sự kiện đặc biệt của tình trạng đã cấu thành cơ sở cho sự tranh chấp”. Lịch sử, lúc đó, sẽ cho phép pháp luật được cứu xét theo nguyên tắc ubi societas, ibi jus (Ở đâu có xã hội, ở đó có luật). Định đề này dẫn tới việc xem xét câu hỏi về chủ quyền trong ba viễn ảnh thời gian khác biệt nhau : viễn ảnh đầu tiên, trước thời hậu bán thế kỷ thứ 19, nghĩa là giai đọan của thời terra nullius (đất vô chủ); viễn ảnh thứ hai, vào thời kỳ trước thế kỷ thứ 18, là giai đọan của thời “khám phá” hay ít nhất là sự nhận biết các quần đảo; và cuối cùng là giai đoạn của các thế kỷ thứ 18 và 19, lúc mà một số hồ sơ khác nhau đã được đệ trình để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc hoặc của Việt Nam. Điều đáng lưu ý là ngoài Trung Quốc và Việt Nam thì, như chúng tôi được cho biết, không còn nước nào khác đã đệ trình hồ sơ xác lập chủ quyền. Sự nghiên cứu của tác giả đã đưa tới kết luận là Việt Nam chính là quốc gia duy nhất thực sự có chủ quyền pháp lý sở hữu trên quần đảo Hoàng Sa với cơ sở vững chắc biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của họ. Câu hỏi về việc chuyện gì đã xảy ra cho sự sở hữu chủ quyền này trong và sau giai đoạn thuộc Pháp đã được gác qua một bên trong khi chương ba xem xét tới sự xuất hiện của sự kế tục của những tuyên bố chủ quyền mới. Phần trả lời sơ lược cho câu hỏi này đã được tác giả trình bày trong chương chót, ở đấy tác giả cũng đưa ra một số kế luận.

Hình như Monique Chemillier-Gendreau đã cho rằng đối với quần đảo Hoàng Sa thì Việt Nam có chủ quyền nhất, khi Bà đề cập tới chủ quyền đó như là “quyền sở hữu cổ xưa và có căn cứ vững vàng”, và sự không thể nào chuyển đổi việc xâm chiếm quần đảo của Trung Quốc thành ra quyền pháp lý dựa vào luật pháp quốc tế cáo buộc Trung Quốc đã sử dụng võ lực và Hà Nội đã phản kháng sự xâm chiếm này. Tuy nhiên, tình trạng của quần đảo Trường Sa có vẻ phức tạp hơn, và ở đây tác giả đã phủ nhận trường hợp của Trung Quốc : “Thực dễ thấy rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa hoàn toàn không có cơ sở pháp lý mà chỉ là một khía cạnh của chủ trương bành trướng lãnh hải” (trang 139). Bà đã nêu ra khả năng của một hoà giải pháp lý nếu như những thương thuyết ngoại giao bị thất bại. Song các hoạt động của luật pháp quốc tế (nguyên tắc tình nguyện dựa vào giải quyết pháp luật và cách giải quyết bằng tương nhượng qua Toà Án Quốc Tế (ICJ) Hague) kết hợp với sự miễn cưởng của các quốc gia liên hệ khi dựa vào cách hòa giải này, đã không cho phép ta nghiêm túc cứu xét giải pháp này. Thật khó mà tưởng tượng Bắc Kinh sẽ chịu quay về với giải pháp qua Toà Án Quốc Tế Về Luật Biển (ITLOS), hoặc ngay cả qua Toà Án Quốc Tế Hague (ICJ), trong trường hợp phải giải quyết vất đề biên giới lãnh hải, khi mà họ chưa bao giờ tỏ ra bất cứ ưa thích nào đối với các cơ quan pháp luật này, mặc dầu trong số thành viên của ICJ có một chánh án người Trung Quốc (1).

Chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bản dịch ra tiếng Anh của một công trình tiếng Pháp do nhà xuất bản Harmattan ấn hành trước tiên vào năm 1996, nhưng nó vẫn còn chưa được cập nhật hóa, ngoại trừ một vài bổ túc trong phần thư tịch. Điều này ít nhất cũng làm giảm bớt khả năng soi sáng hiện trạng của vấn đề [vì mất thời gian tính – Trúc Lê]. Chẳng hạn như, trong phần dẫn nhập có viết là Trung Quốc đã ký Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) được chấp thuận tại Vịnh Montego ngày 10 tháng 12 năm 1982, sau những cuộc thương thuyết kéo dài tới 9 năm, mặc dầu Trung Quốc vẫn chưa phê chuẩn công ước. Tuy nhiên, 2 năm sau khi UNCLOS trở nên có hiệu lực, thì vào năm 1996, Trung Quốc đã chịu phê chuẩn công ước này. Hơn nữa, tuyên bố sau đây của Trung Quốc vào thời điểm họ phê chuẩn công ước thì thực sự rất quan thiết, bởi vì họ nói : “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên tất cả mọi quần đảo và đảo liệt kê trong Điều 2 của Luật của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về lãnh hải và vùng tiếp cận, ban hành ngày 25 tháng 2 năm 1992” (2). Tuyên bố đơn giản này của Trung Quốc đã cho ta biết rằng tất cả những gì ta cần hiểu là sự bất khả xảy ra của việc Bắc Kinh từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ, dưới ánh sáng của quan điểm của chính họ về luật quốc tế và về sự liên hệ giữa luật này với luật quốc gia của nước Cộng Hòa Nhân Dân này. Quan điểm có tính tuyệt đối và ngoan cố này của Bắc Kinh đã đưa đến quan niệm tổng quát của họ về những quyền có lợi cho họ đối với các luật pháp quốc tế. Luật quốc tế được chấp nhận nhưng lại được giải thích theo chiều hướng có lợi cho họ mà thôi. Trong những trường hợp như về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nguyên tắc liên hệ đến vùng biển xung quanh các quần đảo này đã được áp dụng để biện minh cho sự nới rộng vùng biển được xem như là lãnh hải thuộc vùng đặc quyền kinh tế.

Niên đại học của Bà [Chemillier-Gendreau] về những rối loạn trong phần đất này của thế giới ngừng lại vào thời điểm 9 tháng hai năm 1995. Nhưng điều đó có nghĩa là bỏ qua nhiều biến cố đối diện với các quốc gia trong khu vực trong các năm 1999 và 2000 : tỷ dụ việc lính Việt Nam bảo vệ Trường Sa đã giết một ngư phủ Phi Luật Tân vào tháng Giêng năm 1999, cái chết của một ngư phủ Trung Quốc vài tháng sau đó trong một cuộc đụng độ giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân, các mối căng thẳng lớn giữ các nước hội viên của ASEAN với nhau, sự nới rộng hiện diện của Trung Quốc trên Đảo ngầm Scarborough, cái chết của một ngư phủ Trung Quốc khác khi lính cảnh sát biển của Phi Luật Tân bắn vào tháng 5 năm 2000, và trên hết là sự công bố bản Qui Tắc Ứng Xử vào tháng 11 năm 1999 do Phi Luật Tân và Việt Nam khởi xướng, nhưng đã bị Trung Quốc bác bỏ với lý do là họ chỉ thương thuyết tay đôi mà thôi. Sau cùng, xin có vài chữ để nói về việc tác giả đã sử dụng quá đáng phần phụ lục, dày tới 110 trang trong số 143 trang của tác phẩm. Mặc dầu việc sưu tập vài văn kiện cổ hơn là thích đáng, nhưng ngay cả khi chấp nhận rằng phương pháp của Bà là dựa trên cơ sở về sự nghiên cứu các tài liệu văn khố Pháp, liệu có quả thực cần thiết để kèm vào đấy một số bản đồ không đọc rõ được, ngay cả nguồn gốc của chúng cũng không được cho biết, hoặc là kèm vào lá thư 9 trang đề ngày 28 tháng 8, 1788 của Bá tước Kergariou Locmaria, thuyền trưởng của chiếc thuyền Le Calypso ?

Tuy nhiên chính cái phương pháp tổng quát của tác giả mới là điều thật sự cần xét lại. Thay vì “Chủ Quyền trên các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, nhan đề của cuốn sách nên viết là “Lịch Sử về Chủ Quyền trên các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Một sự ghi chép về các cuộc tranh chấp chủ quyền, tuy thế, không đưa đến một giải pháp toàn bộ cho các vấn đề. Đồng ý là thực hữu ích để đặt các biến cố lại trong bối cảnh quá trình hình thành lịch sử của chúng, và bày tỏ sự công bình [thiện cảm] với những lý lẽ của Việt Nam như là kẻ kế thừa của Pháp sau khi chế độ thực dân bị hủy bỏ, nhưng ta không thể dừng lại ở đấy, khi mà hiện nay sự tranh chấp đã liên quan tới sáu quốc gia ở Đông Nam Á. Chỉ dựa vào những nguyên lý vĩ đại về quyền tự trị của các dân tộc [bị đô hộ] và quyền [của họ] được giải phóng khỏi chế độ thực dân, tự nó không còn đương nhiên đủ [để kết luận]. Vì những quần đảo này và phần nổi trên mặt nước của chúng phần lớn đều không có người ở, thế thì những dân tộc nào là dân tộc được đề cập tới đây ? Liệu Trung Quốc được coi như là một nước thực dân (3) ? Một số đoạn trong cuốn sách này tuồng như vang vọng lại những lời tuyên bố của tác giả mà nhiều người đã biết khi bà ủng hộ các nước ở Nam Bán Cầu, và những giải thích của bà về luật quốc tế mà mục đích là để lột trần huyền thoại của luật này, và chứng tỏ các giới hạn của nó hoặc ngay cả tính chất gian tà của nó như là một công cụ của các thế lực phương Tây (4). Sự tìm kiếm của tác giả cho những nguyên tắc đích thực về pháp luật quốc tế là một điều đáng ca ngợi, nhưng chắc hẳn là ta không cần thiết phải hoàn toàn loại bỏ các thực tế địa lý chiến lược hiện nay và những tương quan quyền lực đang uốn nắn các mục tiêu quốc gia hiện nay ? Dù thế, ta cũng cần chia xẻ với ý kiến của tác giả khi bà kết luận bằng cách kêu gọi [các phe] thương thảo với thiện chí, để đưa đến sự giải quyết cho một vấn đề mà cho đến nay vẫn còn chưa được giải quyết, một vấn đề tiềm ẩn nhiều liên lụy đáng ngại cho nền hòa bình và an ninh châu Á.

Jonathan Hall dịch từ nguyên bản tiếng Pháp.

1. Shi Juyong là một chánh án từ ngày 6 tháng 3 năm 1994, và là phó chủ tịch của ICJ từ ngày 7 tháng 3 năm 2000. Ông cũng là Chủ tịch của Ủy Ban Luật Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc (1990).
2. Tuyên bố của Bắc Kinh như sau : “1. Tuân theo các điều luật của Công ước về Luật Biển của Liên Hiếp Quốc, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được hưởng chủ quyền và quyền tài phán trên vùng Đặc Quyền Kinh Tế rộng 200 hải lý và trên thềm lục địa. 2. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, qua tham khảo, sẽ phân định biên giới thuộc quyền tài phán của mỗi bên với các quốc gia có bờ biển đối diện hay kế cận Trung Quốc trên cơ sở của luật quốc tế và tuân theo nguyên tắc bình đẳng. 3. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền trên tất cả mọi đảo và quần đảo liệt kê trong Điều 2 của văn bản về Luật của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về lãnh hải và vùng tiếp cận như đã được công bố vào ngày 25 tháng 3 năm 1992. 4. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định rằng những qui định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển liên hệ đến quyền thông quá vô tư trên lãnh hải sẽ không ngăn ngăn cấm quyền của quốc gia có bờ biển được đòi hỏi, theo đúng các qui tắc và pháp luật của nước đó, rằng một nước ngoài phải xin phép và được chấp thuận trước hoặc phải thông báo cho nước có bờ biển biết trước ngày mà các tàu chiến của nước này đi ngang qua lãnh hải của nước có bờ biển”.
3. Đối với danh xưng này, thực là thú vị khi ta lật đến Đoạn 3 của Điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, nói về qui chế đảo : “Các mõm đá không có đủ điều kiện cho con người sinh sống hoặc không có các sinh hoạt kinh tế của chính nó thì sẽ không có vùng Đặc Quyền Kinh Tế hay thềm lục địa”.
4. Monique Chemillier-Gendreau, Humanité et Souveraineté, essai sur la fonction du droit international [Nhân Loại và Chủ Quyền, luận bàn về sự hoạt động của luật quốc tế], Paris, La Découverte, 1995, 382 pp
————————————–
Sau đây là bản tiếng Anh:

BOOK REVIEWS
Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands

LEÏLA CHOUKROUNE
Perspectives chinoises n° 35, May- June 2001, page n°74

On April 1st this year, a US spy plane and a Chinese fighter aircraft collided about sixty-five miles southeast of Hainan Island. The consequences were the death of the Chinese pilot who was rapidly promoted to the rank of national hero, and the arrest of the eighty American crew members who were taken hostage and then released. Another result was a whole range of political-*****-strategic analyses, which stressed Peking’s intermittent expansionism into the South China Sea, and which relied with varying degrees of persuasiveness on legal argumentation to show the rightness of one side or the other in the light of the gaps in contemporary international law.
The same way of posing the problem of China’s relationship with the rule of law, and more specifically with the International Law of the Sea, runs through Monique Chemillier-Gendreau’s book, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. This sets out to tackle the legal questions underlying the conflicting claims of sovereignty in the South China Sea. The author adopts an approach that is certainly “original” in the sense that it is largely based on an analysis of French archives. This plunge into three centuries of diplomatic history is intended to assess the validity of the territorial claims of each of the parties, and their right to occupy the disputed archipelagos, in order to offer a legal clarification of the issues of sovereignty. This could then serve as the basis for a mutual settlement that would necessarily involve drawing up maritime frontiers.
The South China Sea is a strategic sea lane, and an abundant source of fisheries, and potentially of oil. It is also probably the most disputed area on the planet. No less than six coastal states (China, Taiwan, Vietnam, the Philippines, Malaysia and Brunei) have lodged rival claims to the Spratly Islands, whereas the Paracels are mainly contested by China and Vietnam. But the People’s Republic of China is certainly at the heart of the whole conflict, since Peking claims sovereignty over absolutely all islands, islets, rocks, sand banks, and even some underwater shoals, within the perimeter drawn on the map in the famous capital U shape, which seems intended to define ipso facto and ab initio the “natural extension” of the territory of China.
After giving an overall picture of the geographical, legal and historical aspects of this conflict over sovereignty, the author devotes two chapters to the examination of the respective entitlements. Here she follows a chronological approach, and concludes with a final chapter, amounting to just a few pages, which formulates guidelines for a legal settlement. As she explains in the second part of her first chapter on the legal nature of the problem, her analysis as a whole is based on arguments derived from what she calls “intertemporal law”. She defines this approach as a comparison “of the particulars of the legal system at the different periods of its development with the specific facts of the situation which constitute the basis of the dispute”. History, then, allows the law to be envisaged according to the principle of ubi societas, ibi jus. This postulate leads to an examination of the question of sovereignty within three separate temporal perspectives: the first, prior to the second half of the nineteenth century, that is to say, the time of terra nullius; the second, prior to the eighteenth century, which was the time of the “discovery” or at least the identification of the archipelagos; and finally, the eighteenth and nineteenth centuries, when numerous do*****ents were produced to affirm the sovereignty of either Vietnam or China. There are noticeably few cases of claims from third states which, so we are told, simply did not exist. Her study of the question leads to the conclusion that Vietnam was the only holder of a legally founded title, justifying its claim to sovereignty over the Paracels. The question of what happened to this entitlement during and after the colonial period is sort of put on hold while the third chapter looks at the appearance of a succession of new claims. A sketchy answer to the question is given in the final chapter where the author draws some conclusions.
It would seem that Monique Chemillier-Gendreau considers that Vietnam has the strongest claim in the case of the Paracels, as she refers to “ancient and well-founded rights”, and to the impossibility of transforming the fact of Chinese occupation into a legal right on account of the condemnation of China’s use of force by international law and Hanoi’s protestations against that occupation. However, the Spratly Islands situation seems more complicated, and here, the author dismisses the Chinese case: “It is easy to see that the Chinese claims to the Spratlys has no legal basis and is just one aspect of a maritime expansion policy” (p. 139). She invokes the possibility of a legal settlement if the various diplomatic negotiations should fail. But the workings of international law (the principle of voluntary legal recourse and of compromise settlements through the International Court of Justice (ICJ) in the Hague), combined with the reluctance of states to resort to such settlements, do not allow such a proposed solution to be seriously considered. It is difficult to imagine Peking turning to the International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS), or even the ICJ, in a case concerning the settlement of maritime frontiers, when it has never shown any particular interest in such legal bodies, even though the ICJ membership includes a Chinese judge (1).
Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands is the translation into English of a work first published in French by Harmattan in 1996, but it has not been updated, except for a few bibliographical references. This, at the very least, detracts from its capacity to throw light on the current state of play. For example, the introduction states that China signed the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) adopted at Montego Bay on December 10th 1982, after nine years of negotiations, although it has not yet ratified it. However Peking did in fact ratify it, in 1996, two years after UNCLOS came into effect. Moreover, China’s declaration at the time of this ratification is of considerable relevance, because it runs: “The People’s Republic of China reaffirms its sovereignty over all its archipelagos and islands as listed in Article 2 of the Law of The People’s Republic of China on the territorial sea and the contiguous zone, which was promulgated on 25 February 1992” (2). This simple declaration tells us all we need to know about the impossibility of Peking abandoning its claims, in the light of its own conception of international law and the relationship between that law and the national law of the People’s Republic. Peking’s absolutist and intransigent view of state sovereignty gives rise to a general conception of rights that are beneficial to China in the name of international law. The latter concept is accepted, but only to be reinterpreted in China’s favour. In such cases as the Paracels and the Spratly Islands, the principle dealing with waters surrounding archipelagos is applied to justify the extension of areas defined as territorial waters exclusive economic zones.
Her chronology of the disturbances in this part of the world ends at February 9th 1995. But this means passing over the many incidents confronting the states in the region in 1999 and 2000: viz. the killing of a Filipino fisherman in January 1999 by Vietnamese troops occupying the Spratly Islands, the death of a Chinese fisherman a few months later in a confrontation between China and the Philippines, the heightened tensions among ASEAN members themselves, the extension of the Chinese presence towards the Scarborough Shoal, the death of another Chinese fisherman after shots were fired by the Philippine marine police in May 2000, and above all the publication in November 1999 of a code of conduct on the initiative of the Philippines and Vietnam, which was rejected by China on the grounds of a desire to resolve issues bilaterally. Finally, a few words should be said about the author’s heavy use of annexes, amounting to 110 pages against 143 pages of text. Although her collation of some of the older do*****ents is pertinent, given that her approach is based on a study of French archives, was it really necessary to include a number of illegible maps, the source of which is not even given, or a handwritten nine-page letter dated August 28th 1788 by Count Kergariou Locmaria, captain of the frigate Le Calypso?
But it is the author’s general approach that is really what is open to question here. Instead of Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, the title of the book should have been A History of Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. A historical account of this conflict over sovereignty, however, does not provide an overall solution to the problems. It is admittedly useful to put the events back into their historical context, and to do justice to the arguments of Vietnam as the successor to France after decolonisation, but one cannot stop there, now that the dispute involves six different South-East Asian states. To invoke the grand principles of the right of peoples to self-determination and freedom from colonialism is no longer self-evidently sufficient. Since these islands and outcrops are largely uninhabited, which peoples are being referred to here? Should China be considered the colonial power (3)? Certain passages of this book seem to echo her well-known pronouncements in support of southern hemisphere countries, and her interpretations of international law that aim at demystifying it, showing its limitations or even its perverse nature as an instrument of Western power (4). Her quest for truly international principles of law is praiseworthy, but surely it is not necessary to completely ignore modern geostrategic realities and the power relations conditioning current national objectives? Nonetheless, one can only share the author’s opinion when she concludes by calling for negotiations in good faith, leading to the settlement of a question that is still unresolved, and that contains worrying implications for peace and security in Asia.

Translated from the French original by Jonathan Hall

1. Shi Juyong has been a judge since February 6th 1994, and vice-president of the ICJ since February 7th 2000. He has also been President of the International Law Commission of the United Nations (1990).
2. Peking’s declaration was as follows: “1. In accordance with the provisions of the United Nations Convention on the Law of the Sea, the People’s Republic of China shall enjoy sovereign rights and jurisdiction over an exclusive economic zone of 200 nautical miles and the continental shelf. 2. The People’s Republic of China will effect, through consultations, the delimitation of the boundary of the maritime jurisdiction with the States with coasts opposite or adjacent to China respectively on the basis of international law and in accordance with the principle of equitability. 3. The People’s Republic of China reaffirms its sovereignty over all its archipelagos and islands as listed in Article 2 of the Law of the People’s Republic of China on the territorial sea and the contiguous zone, which was promulgated on 25 February 1992. 4. The People’s Republic of China reaffirms that the provisions of the United Nations Convention on the Law of the Sea concerning innocent passage through the territorial sea shall not prejudice the right of a coastal State to request, in accordance with its laws and regulations, a foreign State to obtain advance approval from or give prior notification to the coastal State for the passage of its warships through the territorial sea of the coastal State”.
3. It is interesting in this regard to turn to paragraph 3 of Article 121 of the United Nations Convention on the Law of the Sea, which deals with the governance of islands: “Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf”.
4. Monique Chemillier-Gendreau, Humanité et Souveraineté, essai sur la fonction du droit international, Paris, La Découverte, 1995, 382 pp

————————————————————————

Bản gốc bằng tiếng Pháp :

LECTURE CRITIQUE

Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands

LEÏLA CHOUKROUNE
Perspectives chinoises n° 64, mars – avril 2001, page n°75

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa III
Le 1er avril 2001 un avion espion américain et un chasseur chinois entraient en collision à une centaine de kilomètres au sud-est de l’île de Hainan. S’en suivit le décès du pilote chinois bientôt élevé au rang de héros national, la prise en otage des vingt-quatre membres d’équipage américains puis leur libération et toute une série d’analyses politico-stratégiques soulignant les velléités expansionnistes de Pékin en mer de Chine du sud et s’appuyant avec plus ou moins de succès sur un argumentaire juridique cherchant à démonter le bon droit de l’une ou l’autre partie à la lumière des apories du droit international moderne…
C’est également cette problématique du rapport de la Chine au droit et plus précisément au droit de la mer que l’on retrouve en filigrane dans l’ouvrage de Monique Chemillier-Gendreau. Sovereignty over the Paracels and Spratly Islands se propose en effet de traiter des questions juridiques inhérentes aux conflits de souveraineté en mer de Chine du sud à partir d’une approche « originale » puisque fondée en majeure partie sur l’analyse des archives françaises. Cette immersion dans trois siècles d’histoire diplomatique vise à évaluer la validité des titres territoriaux de chacune des parties et l’effectivité de leur occupation des archipels revendiqués afin de proposer un éclairage juridique sur la question de la souveraineté comme préalable à un règlement du différend qui passerait nécessairement par une délimitation des frontières maritimes.
Voie de navigation stratégique riche en ressources halieutiques et potentiellement en hydrocarbures, la mer de Chine du sud est sans doute la région la plus controversée de la planète : pas moins de six Etats côtiers (Chine, Taiwan, Vietnam, Philippines, Malaisie et Brunei) ont formulés des revendications concurrentes sur les îles Spratly alors que les Paracel sont essentiellement disputées par la Chine et le Vietnam. Mais c’est bien la République populaire de Chine qui se trouve au cœur du conflit puisque Pékin revendique sa souveraineté sur l’ensemble des îles, îlots, rocs, rochers, bancs de sables voire même sur certains hauts fonds immergés dispersés dans un périmètre délimité par une fameuse courbe en forme de U qui semble vouloir définir ipso facto et ab initio le « prolongement naturel » du territoire chinois.
Après avoir dressé le panorama général de ce conflit de souverainetés en termes géographiques, juridiques et historiques, Monique Chemillier-Gendreau consacre deux autres chapitres à l’étude des titres territoriaux selon une approche chronologique, puis un dernier chapitre, quelques pages en réalité, à la formulation de pistes pour un règlement juridique. L’ensemble de l’analyse est fondée, comme on nous l’explique dans la seconde partie du premier chapitre consacrée à la nature juridique du problème, sur les apports du « droit intertemporel » qui consiste pour l’auteur à « comparer les particularités du système légal aux différentes périodes de son développement avec les spécificités factuelles de la situation qui constituent la base du différend ». L’histoire permettrait donc de mettre le droit en perspective en fonction du principe ubi societas, ibi jus. Ce postulat conduit à un examen en trois temps de la question de la souveraineté : avant la fin de la dernière moitié du XIXe siècle c’est-à-dire à l’époque de la doctrine de la terra nullius, avant le XVIIIe siècle à la période de la « découverte » ou tout au moins de l’identification des archipels et enfin au XVIIIe et XIXe siècles au moment de la production de nombreux do*****ents affirmant la souveraineté du Vietnam ou de la Chine (on notera à cet égard qu’il est fait bien peu de cas des revendications des Etats tiers dont on nous dit qu’elles étaient tout simplement inexistantes). Cette étude aboutit à une conclusion selon laquelle le Vietnam était le seul Etat détenteur d’un titre et pouvant donc revendiquer sa souveraineté sur les Paracel. Reste à savoir ce que devient ce titre pendant et après l’époque coloniale. Si le troisième chapitre fait état de l’apparition progressive de nouvelles revendications, on trouve la réponse à cette question dans le dernier chapitre qui fournit quelques éléments de conclusion. Tout laisserait à penser, selon l’auteur, que les revendications vietnamiennes seraient les plus justifiées dans le cas des Paracel (« droits anciens et bien fondés » et impossible transformation de l ‘occupation chinoise en titre en raison de la condamnation de l’usage de la force par le droit international et des protestations de Hanoi à l’encontre de cette occupation), alors que la situation des Spratly demeurerait plus confuse bien que l’argument chinois ait été écarté : « Il est facile de voir que les revendications chinoises sur les Spratly n’ont aucune base juridique et ne constituent que l’un des aspects d’une politique maritime expansionniste » (p. 139). La possibilité d’un règlement judiciaire est par ailleurs évoquée en cas d’échec des négociations diplomatiques bilatérales et multilatérales. Or, les spécificités du fonctionnement de la justice internationale (principe d’une juridiction facultative et saisine par voie de compromis de la Cour internationale de justice de La Haye) tout autant que les réticences des Etats à recourir à ce mode de règlement ne permettent pas d’envisager sérieusement le succès d’une telle solution. On imagine en effet assez mal Pékin avoir recours au Tribunal International du droit de la mer ou même à l’Organe judiciaire principal des Nations Unies dans le cadre de la délimitation de ses frontières maritimes alors qu’elle n’a jamais manifesté d’intérêt particulier pour cette juridiction bien qu’elle possède un juge((1).
Traduction d’un texte publié en français aux éditions de l’Harmattan en 1996, Sovereignty over Paracel and Spratly Islands n’a absolument pas été actualisé à l’exception peut-être de quelques références bibliographiques, ce qui est pour le moins dommageable pour la compréhension des enjeux actuels du problème. Ainsi on peut par exemple lire en introduction que la Chine a signé la Convention des Nations Unies sur le droit de la mer adoptée à Montego Bay le 10 décembre 1982 après neuf ans de négociations mais qu’elle ne l’a jusqu’à ce jour pas ratifiée. Or Pékin a bien ratifié cette convention en 1996 soit deux ans après son entrée ne vigueur. La déclaration formulée par la Chine au moment de cette ratification n’est d’ailleurs pas sans intérêt puisqu’elle rappelle que : « La République populaire de Chine réaffirme sa souveraineté sur tous les archipels et les îles énumérés à l’article 2 de la Loi de la République populaire de Chine sur la mer territoriale et sur la zone contiguë promulguée le 25 février 1992 »((2). Tout est dit en effet dans cette simple phrase sur l’impossibilité pour Pékin de renoncer à ses revendications en fonction de sa conception du droit international et du rapport de celui-ci au droit interne de la République populaire de Chine. D’une vision absolutiste et intransigeante de la souveraineté de l’Etat découle une conception extensive des droits dont pourrait bénéficier la Chine au nom d’un droit international que l’on accepte mais que l’on réinterprète en sa faveur en appliquant par exemple aux îles Paracel et Spartly le principe des eaux archipélagiques afin de repousser des limites de la mer territoriale ou de la zone économique exclusive.
La chronologie des évènements qui ont agité cette région du monde s’arrête quant à elle au 9 février 1995. C’est donc faire abstraction de la multiplication des incidents auxquels ont du faire face les Etats de la région en 1999 et 2000 : mort d’un pécheur philippin tué par les troupes vietnamiennes occupant les Spratly en janvier 1999 et décès d’un pécheur chinois dans un incident opposant la Chine et les Philippines quelques mois plus tard, escalade des tensions entre les membres de l’ASEAN eux-mêmes, extension de la présence chinoise en direction des Scarborough Shoal, nouveau décès d’un pêcheur chinois à la suite de tirs de la police maritime philippine en mai 2000 et surtout publication d’un code de conduite pour la mer de Chine du sud en novembre 1999 à l’initiative des Philippines et du Vietnam, code de conduite rejeté par la Chine au nom de la volonté de traiter ces questions de manière bilatérale. Quelques mots enfin sur les abondantes annexes (110 pages d’annexes pour 143 pages de texte). S’il était intéressant de rassembler quelques do*****ents anciens puisque la démarche de l’auteur était fondée sur une étude des archives françaises, était-il bien nécessaire de faire figurer un certain nombre de cartes illisibles et dont la source n’est même pas mentionnée ou encore une lettre manuscrite de neuf pages rédigée le 28 août 1788 par le comte de Kergariou Locmaria, capitaine de la Frégate Le Calypso ?
Mais c’est la démarche même de l’auteur qui est ici en question.
Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands aurait en effet du s’appeler An History of Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. Faire une lecture historiciste de ce conflit de souveraineté ne résout pas tout. Il est certes utile de replacer les évènements dans leur contexte historique et de rendre d’une certaine manière justice à la thèse du Vietnam en tant qu’Etat successeur de la France au lendemain de la décolonisation, mais on ne peut s’arrêter là aujourd’hui alors que ce différend met en scène six Etats du sud-est asiatique. Evoquer le droit des peuples à disposer d’eux-mêmes et les grands principes du droit de la décolonisation ne va pas non plus de soi. De quels peuples parle t-on alors que ces îles et îlots sont pour la plupart inhabités ? Qui serait l’Etat colonisateur, la Chine (3) ? Certains passages de l’ouvrage de Monique Chemillier-Gendreau semblent faire échos à son discours bien connu en faveur des pays du Sud, à sa lecture du droit international qui vise à le démythifier et à souligner ses limites, voire son caractère pervers ou son instrumentalisation par l’Occident((4). Cette quête d’un droit véritablement universel est louable mais faut-il pour autant ignorer les réalités géostratégiques actuelles, les aspirations des Etats en terme de puissance en s’enfermant dans l’Histoire ? On ne peut néanmoins que partager l’avis de l’auteur quand elle conclut en faveur d’un règlement négocié et de bonne foi de cette question toujours en suspens et porteuse d’inquiétantes interrogations pour la paix et la sécurité en Asie.

1. Shi Jiuyong, juge depuis le 6 février 1994, est en effet vice-président de la Cour internationale de justice depuis le 7 février 2000. Il a également été président de la commission des Nations Unies pour le droit international (1990).
2. Pékin avait fait la déclaration suivante : «1. Conformément aux dispositions (de ladite Convention), la République populaire de Chine aura des droits souverains et juridiction sur une zone économique exclusive de 200 milles marins et sur le plateau continental. 2. La République populaire de Chine procédera à des consultations avec les Etats dont les côtes sont adjacentes aux siennes ou leur font face afin de délimiter, sur la base du droit international et conformément au principe de l’équité, les zones sur lesquelles s’exerce respectivement leur juridiction maritime.
3. La République populaire de Chine réaffirme sa souveraineté sur tous les archipels et les îles énumérés à l’article 2 de la Loi de la République populaire de Chine sur la mer territoriale et sur la zone contiguë, promulguée le 25 février 1992.
4. La République populaire de Chine réaffirme que les dispositions (de ladite Convention) relatives au passage inoffensif dans la mer territoriale ne porteront pas atteinte au droit de l’Etat côtier de demander, conformément à ses lois et règlements, à un Etat étranger qu’il obtienne de l’Etat côtier une autorisation préalable aux fins du passage de ses navires de guerre dans la mer territoriale de l’Etat côtier ou qu’il donne audit Etat côtier notification préalable du passage en question.
3. Il est intéressant à ce titre de relire le paragraphe 3 de l’article 121 de la Convention des Nations Unies sur le droit de la mer qui concerne le régime des îles : « Les rochers qui ne se prêtent pas à l’habitation humaine ou à une vie économique propre, n’ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental ».
4. Monique Chemillier-Gendreau, Humanité et souveraineté, essai sur la fonction du droit international, Paris, la Découverte, 1995, 382 pp.

————————————————-
(Source: http://66.102.7.104/search?q=cache:ZBOokHU7-MsJ:www.cefc.com.hk/uk/pc/articles/art_ligne.php%3Fnum_art_ligne%3D3511+Paracels+Islands&hl=en)
http://fr.blog.360.yahoo.com/blog-J1rBZgM5dKeJMsFcByvjDeBOoEn4TTHR?p=31

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Tài liệu | Leave a Comment »

Khẳng Định Lập Trường về Hoàng Sa – Trường Sa

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

45 Đoàn Thể, Tổ Chức Cùng Khẳng Định Lập Trường về Hoàng Sa – Trường Sa

Ngày 10 tháng 12, 2007 — Trước việc Trung Cộng tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa, 45 tổ chức, đoàn thể Việt Nam trên khắp thế giới, kể cả Việt Nam, đã cùng ký tên chung trong bản Khẳng Định Lập Trường để xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo này.

Sau khi nêu rõ các hành động của Trung Cộng lấn chiếm lãnh thổ và hải đảo của Việt Nam,  bản Khẳng Định Lập Trường đề ngày 7 tháng 12 năm 2007, đã cực lực lên án chủ nghĩa bá quyền của Trung Cộng và kêu gọi “dân chúng Việt Nam tích cực biểu tỏ thái độ phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc, cụ thể nhất là tụ tập biểu tình trước sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc ở khắp nơi, đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn”.

Bản Khẳng Định Lập Trường cũng trình bày một số sự kiện xác định trách nhiệm của đảng CSVN trong việc làm mất đất đai và lãnh hải vào tay bá quyền phương Bắc.

Được biết vì thời gian gấp rút, một số đoàn thể không thông báo kịp thời sự tham gia. Vì vậy danh sách các đoàn thể ký tên sẽ còn tiếp tục gia tăng trong những ngày tới.  Dưới đây là nguyên văn bản Khẳng Định Lập Trường và danh sách 45 tổ chức, đoàn thể với danh tánh người đại diện ký tên, tính đến trưa Thứ Hai, 10 tháng 12 năm 2007./.

Bản Khẳng Định Lập Trường

của Người Việt Trên Toàn Cầu

về Hai Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Ngày 2 tháng 12 năm 2007, nhà cầm quyền CS Trung Quốc lại đi một bước nữa trong việc lấn lướt chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa khi tuyên bố thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để quản trị một số quần đảo, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.  Quyết định này là điểm kết của một chuỗi các hành động ngang ngược trong việc chiếm cứ các hải đảo của Việt Nam, gồm:

-         Ngày 19 tháng Giêng năm 1974, dùng hải quân cưỡng chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa;

-         Ngày 14 tháng Ba năm 1988, chiếm một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa;

-         Ngày 14 tháng Tư năm 1988, tuyên bố sát nhập 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam.

Trước các sự kiện trên, chúng tôi, đại diện các đoàn thể Người Việt khắp nơi trên thế giới cùng lên tiếng thay cho những người Việt quan tâm đến đất nước:

-         Cực lực lên án chủ nghĩa bá quyền của Trung Quốc, thể hiện cụ thể và thô bạo qua việc dùng vũ lực cưỡng chiếm lãnh thổ và lãnh hải các nước lân bang;

-         Hoàn toàn phủ nhận chủ quyền Trung Hoa trên các hải đảo Hoàng Sa và Trường Sa;       

-         Long trọng kêu gọi các quốc gia yêu chuộng hoà bình và công lý làm mọi cách để Trung Quốc hoàn trả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về cho Việt Nam;

-         Khẩn thiết kêu gọi dân chúng Việt Nam tích cực biểu tỏ thái độ phản đối hành vi ngang ngược của Trung Quốc, cụ thể nhất là tụ tập biểu tình trước sứ quán và lãnh sự quán Trung Quốc ở khắp nơi, đặc biệt tại Hà Nội và Sài Gòn.

Nhân đây, chúng tôi muốn nêu lên trách nhiệm to lớn của đảng CSVN trong việc làm mất lãnh thổ và lãnh hải vào tay Trung Quốc.  Bằng chứng cụ thể là:

-         Công Hàm ngày 14 tháng Chín năm 1958 do Phạm Văn Đồng ký, nhân danh Thủ Tướng Chính Phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã “công nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc”.

-         Nhà cầm quyền CSVN đã hoàn toàn im lặng trước việc Trung Quốc cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa sau cuộc hải chiến diễn ra ngày 19 tháng 1 năm 1974 giữa Hải quân Trung Quốc và Hải quân Việt Nam Cộng Hoà.

Để có đủ khả năng bảo vệ giang sơn của cha ông để lại, dân chúng Việt Nam phải đoàn kết thành một khối.  Sự đoàn kết này chỉ có thể đạt được trong môi trường sinh hoạt dân chủ, nhân quyền được tôn trọng, và nhân phẩm con người được đề cao.  Chỉ có thế toàn dân mới ngồi lại được thành một khối trước hiểm hoạ ngoại xâm.

Ngày 7 tháng 12 năm 2007

Các đoàn thể chính trị:

•1.      Đại Việt Cách Mạng Đảng (Ô. Bùi Diễm, Chủ Tịch)

•2.      Đảng Dân Chủ Nhân Dân (Ô. Đỗ Thành Công, Phát Ngôn Nhân)

•3.      Đảng Tân Đại Việt (TS Nguyễn Ngọc Sảng, Chủ Tịch)

•4.      Đảng Vì Dân (Ô. Nguyễn Công Bằng, Đại Diện)

•5.      Hiệp Hội Dân Chủ Hiến Định, Pháp Trị, và Đa Nguyên (LS Đào Tăng Dực, Chủ Tịch)

•6.      Hiệp Hội Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam (TS Âu Dương Thệ, Chủ Tịch)

•7.      Khối 8406 (LM Phan Văn Lợi, Đại Diện)

•8.      Liên Minh Dân Chủ và Nhân Quyền Việt Nam (GS Nguyễn Chính Kết, Đại Diện)

•9.      Nghị Hội Toàn Quốc Người Việt tại Hoa Kỳ (GS Nguyễn Ngọc Bích, Chủ Tịch)

•10.  Phong Trào Quốc Dân Việt Nam Hành Động (Ô. Nguyễn Thành Nhân, Chủ Tịch)

•11.  Tổ Chức Phục Hưng Việt Nam (Ô. Trần Quốc Bảo, Chủ Tịch)

•12.  Tổ Chức Quốc Tế Yểm Trợ Cao Trào Nhân Bản (BS Nguyễn Quốc Quân, Chủ Tịch)

•13.  Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng (Ô. Đỗ Hoàng Điềm, Chủ Tịch)

•14.  Việt Nam Quốc Dân Đảng (TS Phan Văn Song, Chủ Tịch)

Các đoàn thể chuyên biệt:

•1.      Ban Vận Động Lời Kêu Gọi Dân Chủ (GS Nguyễn Thanh Trang, Đại Diện)

•2.      Đoàn Thanh Niên Hồn Việt (Ô. Nguyễn Xuân Hiệp, Đoàn Trưởng)

•3.      Gia Đình Phật Tử Miền Quảng Đức (Ô. Lê Quang Dật, Trưởng Ban Hướng Dẫn)

•4.      Hiệp Hội Công Nông Đoàn Kết Việt Nam (Ô. Huỳnh Long, Phó Chủ Tịch)

•5.      Hội Ái Hữu Tù Nhân Chính Trị và Tôn Giáo Việt Nam (GS Phạm Trần Anh, Phó Chủ Tịch)

•6.      Hội Cựu Chiến Binh VNCH/ Michigan (Ô. Nguyễn Thanh Vân, Hội Trưởng)

•7.      Hội Chiến Sĩ VNCH tại Austin và Vùng Phụ Cận, TX (Ô. Đỗ Văn Phúc, Hội Trưởng)

•8.      Hội Khoa Học Kỹ Thuật (TS Mai Thanh Truyết, Chủ Tịch)

•9.      Hội Phụ Nữ Vì Nhân Quyền Việt Nam (Bà Jane Đỗ Bùi, Đại Diện)

•10.  Hội Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Ontario, Canada (Ô. Trần Quốc Thiện, Hội Trưởng)

•11.  Hội Tù Nhân Chính Trị và Nạn Nhân của Chế độ Cộng Sản Việt Nam tại Pháp (Ô. Dương Văn Lợi, Chủ Tịch)

•12.  Phong Trào Quốc Dân Đòi Trả Tên Sài Gòn (LM Nguyễn Hữu Lễ, Đại Diện)

•13.  Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại (Ô. Đỗ Như Điện, Điều Hợp Viên)

•14.  Phong Trào Hưng Ca Việt Nam (Ô. Huỳnh Lương Thiện, Phong Trào Trưởng)

•15.  Tập Thể Cựu Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa (GS Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch)

•16.  Trung Tâm Việt Nam Hannover, Cộng Hòa Liên Bang Đức (Ô. Lâm Đăng Châu, Đại Diện)

Các đoàn thể cộng đồng:

•1.      Cộng Đồng Việt Nam Hoa Kỳ (Ô. Nguyễn Văn Tần, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu, Ô. Nguyễn Bác Ái, Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành, BS Trương Ngọc Tích, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát)

•2.      Cộng Đồng Người Việt Tự Do Liên Bang Úc Châu (BS Nguyễn Mạnh Tiến, Chủ Tịch)

•3.      Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Arizona (Ô. Phạm Văn Sinh, Chủ Tịch)

•4.      Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Lincoln, Nebraska (Ô. Nguyễn Xuân Đấu, Chủ Tịch)

•5.      Cộng Đồng Việt Nam Tị Nạn Los Angeles (Ô. Nguyễn Duy Nghiêu, Chủ Tịch)

•6.      Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston và Phụ Cận (LS Hoàng Duy Hùng, Chủ Tịch)

•7.      Cộng Đồng Việt Nam Tiểu Bang Florida (Ô. Chu Bá Yến, Chủ Tịch Hội Đồng Đại Biểu, Bà Đồng Thanh, Chủ Tịch Ban Chấp Hành)

•8.      Cộng Đống Người Việt Tại Tampa Bay, Florida (Ô. Vũ Đình Vượng, Chủ Tịch)

•9.      Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Dallas, TX (Ô. Thái Hóa Tố, Chủ Tịch)

•10.  Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Fort Worth, TX (Ô. Nguyễn Xuân Hùng, Chủ Tịch)

•11.  Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Lancaster, PA (Ô. Lê Văn Chiếu, Chủ Tịch)

•12.  Cộng Đồng Việt Nam Bắc California (Ô. Nguyễn Ngọc Tiên, Chủ Tịch)

•13.  Cộng Đồng Việt Nam Nam California (BS Nguyễn Xuân Vinh, Chủ Tịch)

•14.  Cộng Đồng Việt Nam Oregon (Ô. Nguyễn Bác Ái, Chủ Tịch)

•15.  Cộng Đồng Việt Nam Miền Nam Florida (Ô. Lê Thanh Liêm, Chủ Tịch).

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lịch sử, Tài liệu, quan điểm, vì công lý, hòa bình | Leave a Comment »

Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam (Ngô Nhân Dụng)

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

“… Nước mắt, máu và mồ hôi của người Việt Nam đã thấm trên các hòn đảo này từ nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể để mất các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...”
Viện Viễn Ðông Bác Cổ của Pháp mới thực hiện một đĩa CD-Rom chụp hình toàn bộ các số Tập san Sử Ðịa, một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1969 đến năm 1975. Ðĩa này ra đời với sự hợp tác của Tòa Ðại Sứ Pháp ở Hà Nội và Hội Sử Học Việt Nam. Số sau cùng của Tập san Sử Ðịa đề ngày 1 tháng 3 năm 1975 gồm những bài nghiên cứu đặc biệt về Hoàng Sa và Trường Sa. Ðây là một nỗ lực của tư nhân ở miền Nam Việt Nam, của các sinh viên và giáo sư môn Sử; cho thấy trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa một xã hội công dân năng động đã thành hình. Khi được tự do, người dân tự động làm những việc công ích không chờ đợi guồng máy chính quyền cho phép.

Người chủ trương tạp chí này từ lúc là sinh viên mới ra trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, Tiến sĩ Nguyễn Nhã kể lại ông nảy ra ý định làm một số báo đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa một năm trước đó. Trong lúc ông Nhã và các bạn đồng môn đến chúc Tết thầy đầu năm 1974, Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục, thì nghe tin radio loan báo quân Trung Cộng đã tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa và chiếm một hòn đảo quan trọng trong quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến này đã được nhiều cựu chiến sĩ Cộng Hòa thuật lại, quân ta thua vì cô thế nhưng đã để lại những tấm gương dũng cảm đáng nhớ muôn đời. (Quý vị độc giả có thể tìm đọc các bài của các tác giả Vũ Hữu San, Trần Ðỗ Cẩm, và Hà Văn Ngạc về trận hải chiến Hoàng Sa, trên mạng lưới).

Thác Bản Giốc là của Việt Nam

Trong Tập san Sử Ðịa số 29 kể trên, các học giả đã nêu lên rất nhiều bằng chứng cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa là những quần đảo thuộc chủ quyền của nước Việt Nam từ lâu đời. Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa trong thời chiến tranh Việt Nam, sau đó lại tiếp tục chiếm nhiều đảo trong vùng Trường Sa. Những hành động có tính cách hung hăng, ngạo mạn, khinh thường luật pháp quốc tế của Trung Cộng là họ đã phát triển các phi trường, các khu du lịch ở Hoàng Sa. Và gần đây nhất, Trung Cộng cho Hạm Ðội Nam Hải tập trận ở vùng biển Hoàng Sa. Ðồng thời Bắc Kinh lập ra một huyện mới thuộc tỉnh Hải Nam, lấy tên là Tam Sa, trong đó có hai vùng của nước ta là Hoàng Sa (Trung Cộng gọi là quần đảo Tây Sa) và Trường Sa (họ gọi là quần đảo Nam Sa) cùng với quần đảo Trung Sa ở gần Phi Luật Tân.

Người Việt Nam không thể nhắm mắt trước những hành động có tính cách xâm lược rõ rệt này. Chúng ta đã mất Ải Nam Quan, mất thác Bản Giốc và nhiều vùng đất biên giới trên đất liền sau khi bị quân Trung Cộng chiếm từ năm 1979, nay lại tình trạng mất thêm các vùng quần đảo lại được Trung Quốc chính thức hóa trước con mắt thế giới. Trước nỗi phẫn nộ của đồng bào trong nước, nhất là giới thanh niên, chính quyền Hà Nội cũng phải lên tiếng phản đối.

Nhưng giọng nói của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội rất dè dặt. Cộng Sản Việt Nam gửi thư cho “Quốc Vụ Viện” Trung Quốc nhưng không dám phản đối thẳng chính phủ và đảng Cộng Sản Trung Quốc mà lại nhấn mạnh rằng hai hành động tập trận và lập huyện Nam Sa là “không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước.” Ý nói, đây chỉ là hành động sai lầm của cấp dưới! Nhưng “nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao” như thế nào? Cộng Sản Việt Nam khó nói ra, vì bất cứ lúc nào Trung Cộng cũng có thể trưng ra bằng cớ là giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã từng đồng ý hoàn toàn với chính sách của Trung Quốc! Nghĩa là, nếu căn cứ vào “nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước” thì Trung Cộng có thể nói rằng nhận thức chung đó là “Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ý với các quyết định về hải phận của Trung Quốc.” Ðiều này đã được ghi trên giấy trắng mực đen.

Hữn Nghị Quan (Ải Nam Quan) phải nằm
ở địa đầu Việt Nam

Từ năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã công bố lập trường là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng Tám năm đó, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã được gửi ra trấn giữ Hoàng Sa, nơi có đài khí tượng của Việt Nam được thiết lập từ thời Pháp thuộc vẫn được duy trì thường xuyên. Năm 1957, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã được gửi tới đóng trên nhiều hòn đảo trong vùng Trường Sa. Trong thời gian mấy năm đó, các nước trong vùng đều tuyên bố xác nhận chủ quyền trên hải phận những hòn đảo trong hai vùng này, trong đó có chính quyền Trung Cộng và chính phủ Trung Hoa Quốc Gia ở Ðài Loan.

Trong hoàn cảnh tranh chấp đó, Cộng Sản Việt Nam đã đứng về phía Trung Cộng. Một lá thư do Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 viết: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung Quốc.” Lá thư do một ông thủ tướng ký, nhưng gọi Tổng Lý (tức thủ tướng) Chu Ân Lai là “Ðồng Chí Tổng Lý.” Hai chữ đồng chí nêu lên mối liên quan ý thức hệ giữa hai đảng Cộng Sản, trong mặt trận vô sản quốc tế chống tư bản.

Với bản văn trên, ông Phạm Văn Ðồng đã ký giấy nhường tất cả vùng biển chung quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng ông Phạm Văn Ðồng không phải là người quyết định, chính sách của Cộng Sản Việt Nam lúc đó là do Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Bộ Chính Trị quyết định. Cho nên Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về lá thư này. Ðiều nguy hiểm nhất trong lá thư này là ông Phạm Văn Ðồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó nghĩ tới quyền lợi tổ quốc thì họ phải xác định rõ hơn, nói rõ họ đồng ý những điểm nào và không đồng ý với điểm nào, trong bản tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh.

Công hàm của Thủ tướng Bắc Việt gửi Tổng lý Trung Quốc
ngày 14/9/1958, ngầm công nhận chủ quyền TQ tại Hoàng Sa!

Trong bất cứ cuộc tranh chấp lãnh thổ và hải phận nào, một quốc gia bị xâm phạm có thể dùng quân đội chiếm lại những vùng đã bị nước khác chiếm đóng. Nhưng khi biết mình thế yếu, thì quốc gia bị thiệt thòi phải thưa kiện nước xâm lăng trước tòa án quốc tế. Trước tòa án, chúng ta phải dẫn chứng những bằng cớ trong lịch sử cho thấy vùng đất và vùng biển đã từng thuộc nước mình từ nhiều thế kỷ. Về mặt này thì Việt Nam có rất nhiều bằng cớ vững chắc, bắt đầu với những tài liệu ghi trong Tập san Sử Ðịa năm 1975. Lê Quý Ðôn từ thế kỷ 18 đã xác nhận Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Các nhà nghiên cứu Việt Nam sau này còn tìm ra nhiều bằng cớ khác. Tại thư viện Anh Quốc còn giữ những bản đồ của người Trung Quốc từ đời Thanh, công nhận các quần đảo Ðại Trường Sa và Tiểu Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam. Một giáo sư sử học khác đã tìm thấy ở văn khố nước Úc những tài liệu sách lịch sử địa lý của Trung Quốc chứng tỏ họ chỉ mới nói đến các quần đảo này từ đầu thế kỷ 20. Các ông Nguyễn Nhã và Dương Trung Quốc đã tìm đến đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) chiêm ngưỡng đền thờ những người “Lính Hoàng Sa” được lập ra từ thế kỷ 19. Nơi đây, những người lính Việt Nam được “tế sống” trước khi lên đường ra biển tới Hoàng Sa, vì biết chắc không có ngày về. Trên hòn đảo này còn đền thờ họ Phạm, thờ vị tổ Phạm Quang Ảnh, đội trưởng Ðội Hoàng Sa dưới thời vua Gia Long, năm 1815. Ðền thờ có câu đối: “Trung can huyền nhật nguyệt – Nghĩa khí quán càn khôn!”

Nước mắt, máu và mồ hôi của người Việt Nam đã thấm trên các hòn đảo này từ nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể để mất các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dù không đủ quân lực đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi phần đất do tổ tiên để lại, nước Việt Nam phải nêu vấn đề này trên công luận bằng cách kiện chính quyền Trung Cộng ra trước Tòa Án Quốc Tế.

Nếu muốn các bằng cớ của nước ta vững chắc trước dư luận quốc tế, chính phủ Hà Nội phải chính thức gửi một lá thư khác phủ nhận lá thư do ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai ngày 14 tháng 9 năm 1958. Nếu không thì khi ra trước dư luận cũng như trước tòa án quốc tế, Cộng Sản Trung Quốc có thể trưng bằng cớ là Cộng Sản Việt Nam đã tán thành các “quyết định về hải phận Trung Quốc” từ nửa thế kỷ nay rồi! Không thể nói chung chung về “nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp” để che lấp những lỗi lầm quá khứ và sự hèn nhát bây giờ mãi được. Nếu đảng Cộng Sản không can đảm rút lại lá thư đó, thì người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước phải lên tiếng phủ nhận. Người Việt Nam phải tự động gây nên phong trào này, các công dân có quyền và có bổn phận làm những việc công ích, không chờ đợi guồng máy chính quyền mớm lời cho phép. Giống như các sinh viên và giáo sư sử học ở miền Nam đã làm khi xuất bản Tập san Sử Ðịa mà Giáo Sư Phan Huy Lê ca ngợi là “tính khoa học và tính dân tộc là đặc điểm bao trùm tập san.”

Ngô Nhân Dụng
Nguồn: Người Việt, ngày 07/12/2007

————————————————————————————

Re: Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam (Ngô Nhân Dụng)

“Ðiều nguy hiểm nhất trong lá thư này là ông Phạm Văn Ðồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó nghĩ tới quyền lợi tổ quốc thì họ phải xác định rõ hơn, nói rõ họ đồng ý những điểm nào và không đồng ý với điểm nào, trong bản tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh.” (trích lời tác giả Ngô Nhân Dụng)

Tôi xin mạo muội không đồng ý với ông Ngô Nhân Dụng về đoạn trích dẫn trên đây rằng trong công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi ông Chu ân Lai ngày 14/9/1958 ông Đồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó.
Sự thật là theo các báo chí quốc tế đã tường trình (và chưa hề nghe đảng CSVN hoặc chính phủ nước CHXHCN Việt Nam phản đối) thì những “quyết định về hải phận Trung Quốc” ngày 4/9/1958 là rất rõ ràng, có kèm theo bản đồ 9 gạch, còn gọi là bản đồ “Lưỡi Rồng Trung Quốc” đã được gửi cho chính phủ VNDCCH của ông Hồ để yêu cầu phía VN cho biết ý kiến. Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tức là 10 ngày sau) đã trả lời cho quyết định của Trung Quốc về hải phận của họ rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thừa nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Quốc về lãnh hải ngày 4/9/1958”.
Thí dụ như trong bài “Paracels Islands Dispute” đăng trên Báo Kinh Tế Viễn Đông, Far Eastern Economic Review, ngày 10/03/1994, tác giả Frank Ching đã viết như sau:
“On September 4, 1958, the Chinese Government proclaimed the breadth of its territorial sea to be twelve nautical miles which applied to to all territories of the PRC, “including … the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands…” Ten days later, Pham Van Dong stated in his note to Zhou Enlai that “the Government of the Democratic Republic of Vietnam recognizes and supports the declaration of the Government of the People’s Republic of China on China’s territorial sea made on September 4, 1958.””
[Xin dịch như sau : Vào ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố về bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý và áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của CHND Trung Quốc, “kể cả…quần đảo Dongsha, quần đảo Xisha (tức Hoàng Sa), quần đảo Zhungsha, quần đảo Nansha (tức Trường Sa),…”. Mười ngày sau, Phạm Văn Đồng, trong một công hàm gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai, viết rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thừa nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Quốc về lãnh hải ngày 4/9/1958”].
Như thế rõ ràng là chính phủ VNDCCH của ông Hồ đã thừa nhận với Trung Quốc rằng cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa (và toàn bộ khu Biển Đông trên Bản Đồ Lưỡi Rồng do TQ ấn hành năm 1958 và tái bản mấy lần sau đó) đều thuộc lãnh thổ TQ. Đó là lý do tại sao TQ luôn luôn khẳng định là tất cả mọi hoạt động của TQ (như tuyên bố thành lập cơ quan hành chính cấp thành phố, thao dượt quân sự, tổ chức các tour du lịch, thăm dò khai thác kinh tế, v.v…) trên Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn không ra khỏi phạm vi lãnh thổ của chúng tôi”.
Theo tôi, cách tốt nhất đứng về khía cạnh công pháp quốc tế để vô hiệu hóa khẳng định của TQ rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về TQ, là chính phủ nước CHXHCN Việt Nam công khai tuyên bố với toàn thế giới phủ nhận giá trị pháp lý của công hàm 1958 của PVĐ với lý do rằng nước VNDCCH hoàn toàn không có chủ quyền pháp lý trên phần lãnh thổ và lãnh hải VN từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, do đó công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng PVĐ gửi TQ “tán thành” với TQ về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn vô giá trị, vì chủ quyền pháp lý vào lúc đó trên các quần đảo này thuộc về nước VHCH sau khi VN bị chia đôi thành hai nước theo sau Hiệp định Genève năm 1954. Thực tế là như vậy. Và số nước trên thế giới công nhận tư cách pháp lý của VNCH đông gấp hai số nước công nhận VNDCCH. Đây cũng chính là ý kiến đã được nữ giáo sư luật người Pháp là Monique Chevalier nêu ra khi bênh vực cho chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa và bác bỏ hoàn toàn các lý lẽ của TQ về chủ quyền của họ trên hai quần đảo này.

Trân kính,
Trúc Lê
(TLuan)

 

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới | Leave a Comment »

White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Republic of Vietnam
Ministry of Foreign Affairs  
Saigon, 1975

CHAPTER I

Foreword
    The Vietnamese archipelagoes of Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) are both situated in the South China Sea off the Republic of Vietnam’s shore. Their very modest size by no means lesser the importance given them by the Vietnamese: to Vietnamese hearts, these remote insular territories are as dear as could be any other part of the fatherland. The Hoang Sa Islands to the North were occupied by force of arms by the People’s Republic of China on January 20, 1974, following a brazen act of invasion which left the world extremely indignant. As for the Truong Sa Islands 500 km to the South, two other foreign powers are illegally stationing troops on four of the main islands in the archipelago.
    The Government of the Republic of Vietnam and the Vietnamese people, determined to defend their sovereignty and the territorial integrity of the country, solemnly denounce the occupation of these Vietnamese territories by foreign troops. Regarding the Hoang Sa (Paracel) Islands, not only was the gross violation of Vietnamese sovereignty by the People’s Republic of China a defiance of the law of nations and the Charter of the United Nations: in-as-much as this involved the use of force by a world power against a small country in Asia, it also constitutes a threat to peace and stability in South East Asia In the case of the Truong Sa (Spratly) Islands, although foreign occupation was not preceded by bloodshed, it nevertheless represents a grave violation of the territorial integrity of the Republic of Vietnam. The rights of the Vietnamese people over those islands have been as firmly established there as on the Hoang Sa archipelago.
    The Republic of Vietnam fulfils all the conditions required by international law to assert its claim to possession of these islands. Throughout the course of history, the Vietnamese had already accomplished the gradual consolidation of their rights on the Hoang Sa Islands. By the early 19th century, a systematic policy of effective occupation was implemented by Vietnamese emperors The Truong Sa Islands, known to and exploited by Vietnamese fishermen and laborers for many centuries, were formally incorporated into Vietnamese territory by France on behalf of Vietnam. On both archipelagoes, Vietnamese civil servants assured a peaceful and effective exercise of Vietnamese jurisdiction. The continuous display of state authority was coupled with the constant Vietnamese will to remain the owner of a legitimate title over those islands. Thus military defense of the archipelagoes and diplomatic activities were put forth in the face of false claims from other countries in the area. Vietnamese rights being indisputable, the People’s Republic of China chose to resort to military force in order to assert her sudden claims to the Hoang Sa (Paracel) Islands. Two other foreign powers took advantage of the war situation in Vietnam to militarily occupy some of the Truong Sa (Spratly) Islands over which they have no legal rights. Since both the Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes are situated below the 17th parallel, this is primarily a matter of concern for the Republic of Vietnam.
    This White Paper is designed to demonstrate the validity of the claims made by the Republic of Vietnam. It is also an appeal for justice to the conscience of all law-abiding and peace-loving nations in the world.

Proclamation by the Government of the Republic of Vietnam (1974)
    The noblest and most imperative task of a Government is to defend the sovereignty, independence and territorial integrity of the Nation. The Government of the Republic of Vietnam is determined to carry out this task, regardless of difficulties it may encounter and regardless of unfounded objections wherever they may come from.
    In the face of the illegal military occupation by Communist China of the Paracels Archipelago which is an integral part of the Republic of Vietnam, the Government of the Republic of Vietnam deems it necessary to solemnly declare before world opinion, to friends and foes alike, that :
    The Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagoes are an indivisible part of the territory of the Republic of Vietnam. The Government and People of the Republic of Vietnam shall not yield to force and renounce all or part of their sovereignty over those archipelagoes.
    As long as one single island of that part of the territory of the Republic of Vietnam is forcibly occupied by another country, the Government and People of the Republic will continue their struggle to recover their legitimate rights.
    The illegal occupant will have to bear all responsibility for any tension arising therefrom.
    On this occasion, the Government of the Republic of Vietnam also solemnly reaffirms the sovereignty of the Republic of Vietnam over the islands off the shores of Central and South Vietnam, which have been consistently accepted as a part of the territory of the Republic of Vietnam on the basis of undeniable geographic, historical and legal evidence and on account of realities.
    The Government of the Republic of Vietnam is determined to defend the sovereignty of the Nation over those islands by all and every means.
    In keeping with its traditionally peaceful policy, the Government of the Republic of Vietnam is disposed to solve, through negotiations, international disputes which may arise over those islands, but this does not mean that it shall renounce its sovereignty over any part of its national territory.

(Proclamation by the Government of the Republic of Vietnam dated February 14, 1974)

The Early Historical Rights of Vietnam
    The Vietnamese have had knowledge of the Hoang Sa Islands long before the arrival to the South China Sea of Westerners who publicized internationally the name of “Paracels” for this part of their territory. It has been scientifically determined that the Vietnamese presence on this archipelago started in the 15th century. The systematic exploitation of the islands’ resources started early and gradually developed Vietnamese interest in these territories, leading in the 18th century to official state decision such as the formation of the Hoang Sa Company to ensure a rational exploitation of those islands. As evidenced by reliable Vietnamese and foreign sources, Vietnam progressively asserted her rights and the Hoang Sa archipelago was formally taken possession of the Vietnamese authorities in the year 1816.

Geographic position.
    The Hoang Sa Archipelago is a string of islets off the Vietnamese coast between 111 and 113 degrees longitude East of Greenwich, and between 15045′ and 17015′ North latitude. The nearest island in the archipelago is roughly at equal distance from the coast of Vietnam and the southern shore of Hainan Island in China. Using Pattle Island (dao Hoang Sa), the largest of the group, as a point of reference, the distances are as follows:
            Pattle to the Vietnamese harbor of Danang: 200 nautical miles.
            Pattle to the closest shore on Hainan: 150 nautical miles.
            Pattle to the closest shore in the Philippines: 450 nautical miles.
            Pattle to the closest shore in Taiwan: 620 nautical miles.
    The Hoang Sa Islands are divided into two groups: to the East lies the Tuyen Duc (or Amphitrite) Group and to the West lies the Nguyet Thiem (or Crescent) Group. The main islands are:
            Tuyen Duc Group:
                Dao Bac-North Island
                Dao Trung – Middle Island
                Dao Nam – South Island
                Phu Lam-Wooded Island (French: Ile Boisee)
                Hon Da – Rocky Island
                Dao Linh Con -Lincoln Island
                Dao Cu Moc-Tree Island
                Con Nam – South Bank
            Nguyet Thiem Group:
                Dao Hoang Sa – Pattle Island
                Dao Cam Tuyen – Robert Island
                Dao Vinh Lac- Money Island
                Dao Quang Hoa – Duncan Island
                Dao Duy Mong – Drummond Island
                Dao Bach Qui – Passu Keah Island
                Dao Tri Ton – Triton Island.
    Apart from Pattle, the only other large island is Phu Lam or Wooded Island in the Amphitrite Group. The total surface area of the isles in both Groups barely exceeds 10 square kilometers or about 5 square miles. Most Islets were originally coral reefs and have the appearance of bare sand-banks, except for Wooded Island and Pattle Island, which is known for its coconut trees. The islands are surrounded by rings of reefs which make the approach by vessels very dangerous. An abundance of tortoises, sea slugs and other marine creatures are found there. Rich beds of phosphate have been produced by the interaction of the sea birds’ guano with tropical rains and the coral limestone. The climate on the archipelago is marked by constant humidity and little variation in mean temperatures. In economic terms, the Hoang Sa Islands have been frequented long ago by Vietnamese fishermen and in recent times have attracted many companies exploiting phosphate .

First Vietnamese document on the Hoang Sa Islands.
    Evidence showing Vietnamese sovereignty over the Hoang Sa Islands extends back over three hundred years. The oldest Vietnamese document on this part of the national heritage is the work done sometime between 1630 and 1653 by a scholar named Do Ba and also known under the penname of Dao Phu. It is a series of maps of Viet Nam which constitutes the third part of the “Hong Duc Atlas” (1): the Atlas started under the reign of Emperor Le Thanh Tong alias Hong Duc (1460-1497). Notes accompanying the maps clearly indicate that as far back as the early 17th century, Vietnamese authorities had been sending, on a regular basis, ships and men to these islands, which at that time were named ” Cat Vang ” (both ” Cat Vang” and “Hoang Sa” mean ” yellow sand “). These are the islands now known internationally by the name ” Paracels “.
    The following is the translation of Do Ba’s remarks:
          “At the village of Kim Ho, on both banks of the river, stand two mountains each containing a gold deposit exploited under government control. On the high sea, a 400-ly long and 200-ly large archipelago (2) called ” Bai Cat Vang ” (Yellow sand banks) emerges from the deep sea facing the coastline between the harbor of Dai Chiem and the harbor of Sa Vinh (3). During the South-West monsoon season, commercial ships from various countries sailing near the coasts often wreck on the insular territories. The same thing happens during the North-East monsoon season to those ships sailing on the high sea. All the people on board wrecked ships in this area would starve. Various kinds of wrecked cargoes are amassed on these islands. Each year during the last month of winter, the Nguyen rulers send to the islands an 18-junk flotilla in order to salvage them. They obtain big quantities of gold, silver, coins, rifles and ammunitions. From the harbor of Dai Chiem the archipelago is reached after a journey of one-and-a-half day, while one day suffices if one embarks from Sa Ky. (4) “
    Although geographical descriptions of former times are not as precise as they are now, it is clear from the above that the ” yellow sand” or Hoang Sa Islands have been part of the economic heritage of the Empire of Vietnam at least before 1653, the latest year when Do Ba could have completed his map drawing. Moreover, an eminent Vietnamese historian and scholar, Vo Long Te, has been able to determine that. taking into account other factors in the Do Ba’s text (e.g. historical references and linguistic style), the salvage expeditions described therein actually started in the 15th century (5).

First evidence from foreign sources.
    Vietnamese scholars are not the only people to record that Vietnam, formerly known as the ‘empire of Annam’, had early displayed state authority over the Hoang Sa Islands. Actually, foreign sources have been even more accurate in regard to the dates concerning Vietnamese sovereignty. As presented above, on the basis of the Do Ba document, economic exploitation of the Hoang Sa Islands by Vietnamese started, at least, before 1653. However as early as 1634, the Journal of Batavia. Published by the Dutch East Indies Company, recorded incidents showing that Vietnamese jurisdiction was then already recognized by citizens of other countries.
    According to the Journal of Batavia published in 1634-1636, (6) on July 20, 1634, three Dutch ships named Veenhuizen, Schagen (7) and Grootebroek left Touron (present-day Da Nang) on their way to Formosa, after having come from Batavia (present-day Djakarta). On the 21st, the three ships were caught in a tempest and lost contact with one another. The Veenhuizen arrived in Formosa on August 2 and the Schagen. on August 10. But the Grootebroek capsized near the Paracel Islands, north of the 17th Parallel. Of the cargo estimated at 153,690 florins, only 82,995 florin-worth of goods severe recovered by the surviving crew; the rest went down to the bottom of the sea. Of the ship’s company nine men were also missing.
    After he had taken every disposition to have the remains of the cargo safely stored on the islands, under the guard of 50 sailors, the captain of the Grootebroek took to sea with another 12 sailors and headed toward the Vietnamese coast to seek help in the realm of the Nguyen Lords. However, when the group reached the mainland, they were taken prisoners by fishermen and their money was confiscated. This led to a dispute with the Vietnamese authorities. The dispute resulted in further visits by Dutch ships to the Vietnamese Court (and ultimately, to the granting of free trade rights to Dutchmen and the establishment of the first Dutch factory in Vietnam, headed by Abraham Duijcker). For our purposes here, however, the significant fact was that, when the Grootebroek sank, the sailors chose to go to Vietnam instead of China, although China was nearer. This is undoubtedly because they assumed the country exercising jurisdiction over the site of the wreckage would naturally provide rescue and be more responsive to their claims.

Testimony by Vietnamese historian Le Qui Don.
    Other references to the early historical rights of Vietnam over the Hoang Sa Islands (called ” Pracels” in the Journal of Batavia account) are made by the Encyclopedist Le Qui Don (1726-1784) in his history work Phu Bien Tap Luc (Miscellaneous Records on the Pacification of the Frontiers). Le Qui Don was a mandarin sent to the South by the Court in order to serve as administrator in the realm recently taken over by the Court from the Nguyen Lords (hence the appellation of “Frontier Provinces” for these lands in the title of the book).
    In his work, Le Qui Don recorded many of the things he saw or heard while on duty in the southern realm. As a consequence, there were several references to the islands belonging to the Nguyen realm. The most extensive and precise reference to the Paracel Islands occurs on pages where it is said:
    ” The village of An Vinh, Binh Son District, Quang Ngai Prefecture, is close by thc sea. To the northeast (of the village) there are many islands and miscellaneous rockheads jutting out of the sea, totaling 130 altogether. From the rockheads out to the islands, it sometimes takes a day (by sea) or at least a few watches. On top of the rocks there sometimes are freshwater springs. Linking the islands is a vast strip of yellow sand of over 30 ly in length, a flat and vast expanse where the water is clear and can be seen through to the bottom.”
    On a following page, the fauna and flora of the Paracels are described in detail, thus allowing one to compare them with later scientific descriptions made in the twentieth century: sea-swallows and their valuable nests (among the thousands of varieties of birds found on the islands), giant conches called “elephant-ear conches “, mother-of-pearls, giant tortoises and smaller varieties of turtles, sea urchins, and so forth.
    Regarding the usefulness of these islands and their exploitation, Le Qui Don has this to say: “When they encounter strong winds, large sea-going ships usually take shelter in these islands ,”.
    “In the past, the Nguyen had created a Hoang Sa Company of 70 men, made up of people from An Vinh village. Every year they take turns in going out to the sea, setting out during the first month of the lunar calendar in order to receive instructions regarding their mission. Each man in the company is given six months worth of dry food. They row in five fishing boats and it takes them three days before they reach the islands. They are free to collect anything they want, to catch the birds as they see fit and to fish for food. They (sometimes) find the wreckage of ships which yield such things as bronze swords and copper horses, silver decorations and money, silver rings and other copper products, tin ingots and lead, guns and ivory, golden bee-hive tallow, felt blankets, pottery and so forth. They also collect turtle shells, sea urchins and striped conches in huge quantities.
    “This Hoang Sa Company does not come home until the eighth month of the year. They go to Phu Xuan (present-day Hue) to turn in the goods they have collected in order to have them weighed and verified, then get an assessment before they can proceed to sell their striped conches, sea turtles and urchins. Only then is the Company issued a certificate with which they can go home. These annual collections sometimes can be very fruitful and at other times more disappointing, it depends on the year. It sometimes happens that the company can go out and return empty-handed.
    “I (Le Qui Don) have had the opportunity to check the records of the former Count of Thuyen Duc and found the following results:
            ” In the year of Nham Ngo (1702), the Hoang Sa Company collected 30 silver ingots.
            ” In the year of Giap Than (1704), 5,l00 catties of tin were brought in.
            ” In the year of At Dau (1704), 126 ingots of silver were collected.
            ” From the year of Ky Suu (1709) to the year of Quy Ti (1713) i.e. during five consecutive years, the company managed to collect only a few catties of tortoise shell and sea urchins. At one time, all they collected included a few bars of tin a few stone bowls and two bronze cannons “.
    It is clear from the above that in the eighteenth century at least, the Nguyen Lords of southern Vietnam were very much concerned with the economic possibilities of the Hoang Sa (Paracel Islands and in fact actually organized the annual exploitation of this archipelago. The fact that no counterclaims were made by any other nation is patent proof that the Nguyens’ sovereign rights over the islands were not challenged by any country.
    Elsewhere in the book, Le Qui Don also records an incident dating from 1753 which throws some light over the question of Chinese-Vietnamese relationships regarding the Paracel Islands. ” The shores of the Hoang Sa Islands are not far from Lien-chou Prefecture in Hainan Province, China. (For that reason) our ships sometimes meet with fishing boats from our Northern neighbor (China) on the high sea. Ship-mates from both countries inquire about one another in the midst of the ocean… On one occasion, there was a report coming from the hall officer in charge of sea traffic investigations in Wen-ch’ang District, Ch’iung-chou Prefecture (Hainan Island, China), which says: ” In the eighteenth year of Ch’ien-lung (1753), ten soldiers from An Binh Village belonging to the Cat Liem Company, District of Chuong Nghia, Quang Ngai Prefecture, Annam, set out during, the seventh month to go to the Van Ly Truong Sa (7) to collect sea products. Eight of the ten men went ashore for the collection of products, and two remained on the ship to watch it. A typhoon soon developed w which caused the anchor cord to split, and the two who remained in the ship were washed into the port of Ch’ing-lan. After investigation the Chinese officer found the story to be correct and consequently had the two Vietnamese escorted home to their native village . Lord Nguyen Phuc Chu subsequently had the Governor of Thuan Hoa (present-day Thua Thien) Province, the Count of Thuc Luong, write a courtesy note to the hall officer of Wen-ch’ang to acknowledge his help. “
    This story illustrates a number of points, besides the general civility of intercourse already evinced at the time between China and Vietnam. It is apparent from the story that the Chinese officer from Wen-ch’ang was not bothered by the fact that the Vietnamese were intruding into Chinese territorial waters when they went to the Van Ly Truong Sa. The only concern of the officer was to find out whether the statements made by the two Vietnamese sailors had any basis in fact. In other words, the Chinese officer was only worried about the possibility of the Vietnamese being spies sent into Hainan under the pretense of a storm encountered at sea. When this was disproved, the Chinese immediately had the Vietnamese released and dealt with them very kindly by having them escorted home. The whole incident clearly proves that Vietnamese exploitation of the economic resources on the Paracels in the eighteenth century was a very open activity, carried out peacefully and acknowledged by the Chinese to be an exercise of legitimate rights over the islands.
    A famous geography book written by Phan Huy Chu and printed in l834 by the name of Hoang Viet Dia Du Chi contains a text on the Hoang Sa Islands which does not present much that is new in comparison to the information in Le Qui Don’s work. Only two minor differences are found:
            -The Hoang Sa Company, according to this geographical work, was still composed of 70 men from An Vinh Village. However, they receive dry food and get instruction to go out to sea in the third month of the lunar calendar (rather than in the first, as recorded by Le Qui Don. They begin their return journey in the sixth month.
            -In the eight month, they arrive home through the port of Eo (Thuan An).
    From the above, it can be seen that exploitation of the Paracel Islands was becoming an operation of diminishing return in the early nineteenth century, thus necessitating an excursion of two months only, instead of the six-month excursion needed in the eighteenth century. However Vietnamese interests in the islands were not merely economic, as can be seen in the following testimonies.

Confirmation by other foreign sources.
    Various foreign authors confirmed that the Hoang Sa Islands were fully part of the Vietnamese territory as early as the 18th century. For instance, testimony in 1701 by a missionary travelling on the Amphitrite (reportedly the first French ship to enter South-China Sea late in the 17th century) describing frightening dangers experienced by ships in the vicinity of the Paracels, mentioned specifically that this archipelago be-longed to the Empire of Annam i.e., a former name for Vietnam (8).
    Another document dated April 10, 1768 and called “Note sur l’Asie demandee par M. de la Borde a M. d’Estaing” (now held in French archives) (9) provides evidence of intense patrol operations between the Paracels and the coast of Vietnam by Vietnamese naval units. When French Admiral d’Estaing was planning a raid against the Vietnamese city of Hue in order to set a French establishment in Indochina, he reported that Vietnamese vessels frequently cruised between the Paracels and the coast and thus, “would have reported about his approach “. This fact apparently caused him to cancel the raid planned against Vietnam. This demonstrates that as long as two centuries ago, the Hoang Sa Islands were already included in the Vietnamese system of defense and that the most evident acts in the exercise of state jurisdiction were regularly performed by Vietnamese authorities.
    In the same document, Admiral d’Estaing also gave various detailed descriptions of the defense installations on the shore. He wrote that “the Hue citadel contained 1,200 cannons, of which 800 were made of bronze, many bearing the arms of Portugal and the date 1661. There were also some smaller pieces (bearing the arms of Cambodia and the monogram of the British Company of India) that had been salvaged from driftwood of wrecked vessels in the Paracels.”
    In another proposal made in 1758-59 for a French attempt against Vietnam and presented in his Memoire pour une entreprise sur la Cochinchine proposee a M. de Magon par M. d’Estaing (10), admiral d’Estaing made another mention of the Hoang Sa Islands in his description of the defense of Lord Vo Vuong’s palace. Built on the bank of a river, he reported “the palace was surrounded by an 8 to 9-foot high wall without any kind of fortification. There were many cannons that were designed for decoration, rather than for use. Admiral d’Estaing put the number of cannons at 400, many being Portuguese pieces “taken here from ships wrecked on the Paracels. “
    In a book published in London in 1806: “a Voyage To Cochinchina”, John Barrow told the story of a British journey to Vietnam and indicated that the Paracels were part of the Vietnamese economic world. The journey described in the book was made by Count Maccartney, then British Envoy to the Chinese Court. Leaving England on September 2, 1792, Count Maccartney stopped in Tourane (Danang) between May 24 and June 16, 1793 in order to enter into contact with the King of Cochinchina. The 3-week long stay gave John Barrow leisure to study Vietnamese vessels. Therefore, he provided in his book a detailed description of different types of boats used by the Cochinchinese in order to reach, among other places, the Paracel Islands where they collected trepang and swallow nests (11).
    Thus Vietnamese and foreign sources agree that the Hoang Sa Islands have for centuries been included within the scope of Vietnamese interests and aims. These sources recognize the perfection of the sovereign title upheld by the Vietnamese in the course of time in relation to a growing number of states. The progressive intensification of Vietnamese control over the Hoang Sa Islands reached a decisive and irreversible point at the beginning of the 19th century, when the reigning Nguyen dynasty developed a systematic policy toward complete integration of the archipelago into the national community.  

CHAPTER II: THE EXERCISE OF VIETNAMESE SOVEREIGNTY OVER THE HOANG SA ISLANDS     Historical consolidation of the Vietnamese title to the Hoang Sa Islands continued under the Nguyen dynasty’ i.e., after 1802. From that date, it is possible to speak of a Paracel policy , by the successive emperors of Vietnam as manifested through systematic measures taken in the fields of administration, defense,. transports and economic exploitation.

Formal taking of possession by Emperor Gia Long.
    The first emperor of the Nguyen dynasty, Gia Long, consecrated the will of the Vietnamese to confirm their sovereignty over the Hoang Sa Islands by formally taking possession of the archipelago. According to various historic sources, in the year 1816 the Vietnamese flag was planted in a formal ceremony on the Paracels. In 1837 the Reverend, Jean-Louis Taberd, then Bishop of Isauropolis, wrote the following in his “Note on the Geography of Cochinchina printed in the Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, India, (12):
    “The Pracel or Paracels is a labyrinth of small islands, rocks and sand-banks, which appears to extend up to the 11st degree of north latitude, in the 107th parallel of longitude from Paris. Some navigators have traversed part of these shoals with a boldness more fortunate than prudent, but others have suffered in the attempt. The Cochin Chinese called them Con-Vang. Although this kind of archipelago presents nothing but rocks and great depths which promise more inconveniences than advantages, the king GIA LONG thought he had increased his dominions by this sorry addition. In 1816, he went with solemnity to plant his flag and take formal possession of these rocks, which it is not likely any body will dispute with him.”
    The Reverend Jean Louis Taberd was not the only one to give testimony in support of Vietnamese sovereignty over the Paracels. Another foreigner, a Frenchman who spent many years in the Far East and who was a contemporary eyewitness, wrote (13):
    “Cochinchina, of which the sovereign king today carries the title of Emperor, includes Cochinchina proper, Tonkin: a few scarcely inhabited islands not far from the coastline and the Paracel archipelago made up of islets, coral reefs and uninhabited rocks. It was in 1816 that the present Emperor (Gia Long) took possession of this archipelago.”

Consolidation of sovereignty under subsequent emperors.
    Numerous documents in Vietnamese archives give the most convincing facts about the display of the Nguyen dynasty’s authority over the Hoang Sa Islands. One of the striking facts was the order given in 1833 by Emperor Minh Mang to his minister of Public Work to plant trees on some of these islands because “trees will grow up and will offer a luxuriant vegetation that would allow navigators to reconnoiter these vicinities so to avoid having their ships being wrecked in these not very deep waters. This will be for the profit of ten thousand generations to come” (14). Considering the fact that most ships that sank in the area were foreign-owned, there is no doubt that the Vietnamese executed this act to meet their international responsibilities. Thus, by offering certain guarantees to other states and their nationals, by being an identifiable addressee of international claims regarding the Hoang Sa Islands, Vietnam further asserted her title to the property of these territories (15).
    One year later, in 1834, the same emperor Minh Mang sent Garrison Commander Truong Phuc Si and 20 other men to the Hoang Sa archipelago in order to make a map of the area (16). This mission apparently was not carried out to the satisfaction of officials in the Ministry of Public Works who, two years later, reported to the Emperor that because of the size of the area, ” only one island had been drawn on a map which is not as precise and detailed as we would wish “. The report added that since these islands were “of great strategic importance to our maritime borders”, it would be appropriate to send out missions each year in order to explore the whole archipelago and to get accustomed to the sea routes there.
    The report further pointed out that all the islands, islets and mere sand-banks must be surveyed in order to get a description of their relief and size, and to determine coordinates and distances. The Emperor approved the recommendations and sent a Navy team to the Hoang Sa Islands for the purposes set in the report (1836). Ten markers were taken along on the vessel to be planted on the islands which the team would reconnoiter. On each marker was the inscription: “In the year Binh Than, 17th Year of the reign of Minh Mang, Navy Commander Pham Huu Nhat, commissioned by the Emperor to Hoang Sa to conduct map surveyings, landed at this place and planted this marker so to perpetuate the memory of the event” (17). The data gathered in the survey were used in the drawing of the remarkable “Detailed map of the Dai Nam ” (see Fig. 8 ) (18) achieved circa 1838. Although not locating the two archipelagoes of Hoang Sa and Truong Sa at their proper place, the ” Detailed Map ” had the merit of mentioning these archipelagoes specifically by their names. The islands later known as Paracels and Spratlys were then clearly and indisputably considered parts of the Vietnamese territory.
    In other action lying within the normal display of state jurisdiction. Emperor Minh Mang ordered, in the 16th year of his reign (1835), the building of a temple on one of the Hoang Sa Islands. The following is recorded in Vietnamese annals ( 19) : “Among the Hoang Sa Islands located in the territorial waters of Quang Nghia (present day Quang Nam) Province, there exists the island of Bach Sa (white-sand island) where the vegetation is luxuriant. In the middle of the island is a well and in its South-West part, a temple with a sign on which is, engraved the sentence , “Van Ly Ba Binh” – ( the waves calm down over ten thousand leagues ). To the North of this isle is another one built with coral with a perimeter measuring 340 truong 2 xich and an altitude of 1 truong 3 thuoc (20). It is as high as the Island of White-Sand and called Ban Than Thach (21). Last year (1834), it was the intention of the Emperor to build there a temple and a stele, but the project was postponed because of unfavorable winds and waves. This year, the Emperor ordered Navy Commander Pham Van Nguyen to head an Elephant Garrison Detachment and boatmen hired in the provinces of Quang Nghia and Binh Dinh to transport materials for the purpose of building a temple on that island. This temple is 7 truong distant from the old one, and has a stonemark to its left and a brick screen in front. Upon completion of the work which lasted 10 days, the team returned home” (22). Another document indicates that the stonemark just mentioned was 1 thuoc 5 tac high and 1 thuoc 2 tac wide (23). Under the reign of Emperor Minh Mang, communications between the Hoang Sa islands and the mainland were intense enough to justify the construction of a temple dedicated to the Gods of Hoang Sa right on the beach of Quang Ngai in 1835. That city was a main harbour from which boats going to these islands originated (24).
    Time has probably erased traces of these works performed almost 140 years ago and for which light materials were largely used. But all the Vietnamese documents quoted are official publications kept until now in Vietnamese archives or prestigious foreign institutions. These reliable recordings of facts in Vietnam’s national life demonstrate clearly that one of the major concerns of the Nguyen emperors’ territorial policy was to consolidate sovereignty over the Hoang Sa Islands. As a result, Vietnamese jurisdiction became so obvious that contemporary foreign witnesses never thought of it as a contested matter. We already mentioned Bishop Jean-Louis Taberd’s and J.B. Chaigneau’s testimonies, but other foreign publications of the 19th Century also recognized the Vietnamese possession : a western map drawn in 1838 showed the – Paracel or Cat Vang Islands as part of the Annam Empire (5). A geography book written under the auspices of the (French) Ethnography Society mentioned the Paracels or Kat Vang as one of the very numerous islands and archipelagoes belonging to Vietnam (26). It must be stressed that all French works quoted had been produced at a time when the French did not yet control Vietnam and, therefore, had no interest in defending French claims to sovereignty over these islands.

Preservation of rights under French colonial rule.
    In the second half of the 19th century, the Southern part of Vietnam, named Cochinchina, became a French possession (1867). This was followed by the establishment of a French protectorate over the remaining Vietnamese territory (1883). Therefore the French temporarily took over the responsibility to defend the territorial integrity of the “Annam Empire”. On behalf of Vietnam, the French continued the normal exercise of sovereignty over the Hoang Sa Islands (Paracels).
    They did fulfil their responsibilities. Although kept busy by the task of strengthening their authority on the Indochina mainland, the French colonial government did not forget the far-off islands and took all the necessary measures to ensure an orderly administration, an adequate defense and a better knowledge of what a French author called in 1933 “the infinitely small Paracels of our colonial domain” (27). The Vietnamese title to sovereignty was not only preserved, it was reinforced. On the other hand, numerous scientific studies about the islands were produced which could only be conducted if the Paracels were firmly under French-Vietnamese control.
    The international responsibility that the Nguyen emperors had already accepted in regard to navigation of foreign vessels was not neglected by the French, who completed in 1899 a feasibility study for the construction of a lighthouse on one of the Hoang Sa Islands. Unfortunately, this project, which was supported by Indochina Governor General Paul Doumer, could not be realized for lack of funds. However, French patrol vessels assured the security of sea traffic and conducted many rescue operations for wrecked foreign ships in the Paracel. Beginning in 1920, apparently worried by the suspect presence of various kinds of vessels in the Hoang Sa area, the Indochinese customs authorities started making regular inspections to the islands for the purpose of checking illegal traffic. As early as the end of World War I, the French control was so evident that Japanese nationals called on French Indochina’s authorities for the exploitation of phosphate. This was the case of the Mitsui Bussan Kaisha Company, which extracted phosphates for many years from two islands, Ile Boisee (Phu Lam) and Ile Roberts (Cam Tuyen). The Japanese Government, on its part, implicitly recognized French jurisdiction in 1927. In a report to the Minister of Colonies in Paris dated March 20, 1930, the French Governor of Indochina wrote that in 1927, the Japanese consul in Hanoi, Mr. Kurosawa, was instructed by his government to inquire with the French authorities about the status of some groups of islands in the South China Sea. But the Consul declared that, according to instructions from the Japanese Government, the Paracels were expressly left outside of the discussions, the question of ownership of these islands not being a matter of dispute with France (Japan was then involved in controversies over the Truong Sa or Spratly Islands).
    The French jurisdiction was sufficiently firm and peaceful to permit such actions as the conduct of scientific surveys on the islands. An impressive list of superior-level scientific studies in all- fields was made available by colonial institutions or private authors. Starting in 1925, with the first recorded scientific mission on the vessel De Lanessan by scientists from the famed Oceanographic Institute of Nha Trang, knowledge about this part of Vietnamese territory increased. The trip by the De Lanessan confirmed the existence of rich beds of phosphate, which became the object of many detailed studies. For example:
            – Maurice Clerget, Contribution a l’etude des iles Paracels; les phosphates. Nhatrang, Vietnam 1932.
            – A. Lacroix, Les ressources minerales de la France d’Outre-Mer, tome IV (Paracels’ phosphate: p. 165), Paris 1935.
            – United Nations, ECAFE, Phosphate Resources of Mekong Basin Countries; 4. Vietnam, (1) : Paracel Islands; Bangkok 1972.
    The De Lanessan survey mission also proved the existence of a continental shelf which reaches out in platforms from the Vietnamese coast into the sea: the Paracels rest on one of these platforms, and thus are joined to the coast of Vietnam by a submarine plinth. In the following years, the names of many French ships have entered the history of both the Paracel and Spratly archipelagoes: the Alerte, Astrobale, Ingenieur-en-Chef Girod made other survey trips to the Hoang Sa Islands. The result was an increasing number of other scientific publications about these islands in all fields of human concern and activities. Some of these are:
           ·         A. Krempf, La forme des recifs coralliens et le regime des vents alternants, Saigon 1927.
           ·         J. Delacour and P. Jabouille, Oiseaux des iles Paracels, Nha-trang, 1928.
           ·         Numerous reports called Notes of the Oceanographic Institute of Indochina in Nhatrang containing valuable scientific data about the Paracels, for instance the “5th Note” (1925-26) and the “22nd Note” (1934).
    French scientists continued to work for Vietnam-in its early years of independence and continued to contribute to our knowledge of these Vietnamese islands. Among them was Mr. E. Saurin, the author of numerous studies of great scientific value:
            – Notes sur les iles Paracels (Geologic archives of Vietnam No. 3), Saigon 1955.
            – A propos des galets exotiques des iles Paracels (Geologic archives of Vietnam No. 4), Saigon 1957.
            – Faune Malacologique terrestre des iles Paracels (Journal de Conchiliologie, Vol. XCVIII), Paris 1958.
            – Gasteropodes marins des iles Paracels, Faculty of Sciences, Saigon, Vol. I: 1960; Vol. II: 1961.
    Another French scientist, H. Fontaine, produced, ‘m cooperation with a Vietnamese colleague a remarkable study of the islands’ flora called “Contribution de la connaissance de la flore des iles Paracels” (Faculty of Sciences, Saigon 1957). These scientific achievements, accomplished over a long period of time, could only have been achieved by a country exercising sovereignty over these islands to the fullest extent. As a matter of fact, Vietnam would not run any risk by challenging other countries having a pretense to sovereignty over the Hoang Sa Islands to show the list of scientific publications they had made available in the past.
    In their acts mentioned above, the French, who merely took over rights and responsibilities temporarily transferred to them by the people under their “protection”, simply assured a normal continuation of jurisdiction on behalf of the Vietnamese. However, in the face of unfounded Chinese claims over and illegal actions connected with, the Hoang Sa Islands in 1932, the French felt that it was necessary to take defensive measures. Since 1909, China has made sporadic claims over the islands. On one occasion during that year, the provincial authorities of Kuang Tung sent gun-boats to conduct a reconnaissance mission there. On March 20, 1921 the Governor of Kuang Tung, signed a peculiar decree annexing the Hoang Sa Islands to the Chinese Island of Hainan. However, his action went unnoticed because it is recorded only in the provincial records therefore, nobody could know about it in order to make comments or to protest. Although not followed by occupation of any sort, actions such as these were enough to cause some preemptive actions by the French. For instance. in 1930 crew-members of La Malicieuse landed on many of the Hoang Sa Islands to plant flags and set up “sovereignty columns “.
    More serious was the Chinese intention to invite bids for the exploitation of the islands’ phosphate. When the Chinese intent became known, the French Government protested to the Chinese Embassy in Paris by a note dated December 4, 1931. A few months later, when the Chinese effectively called for bids, the Paris Government renewed the protests by a Note dated April 24, 1932. This time the French strongly reaffirmed their rights with substantive supporting arguments, e.g. the former rights exercised by the emperors of Vietnam, the official taking of possession by Emperor Gia Long in 1816, and the sending of Indochinese troops to guard the islands, etc… On September 29, 1932, the Chinese Government rejected the French protest on the ground that at the time Gia Long took possession of the islands, Vietnam was a vassal state of China. It may be true that, as in other periods of its history, Vietnam was then a nominal vassal of China (although it was never quite clear when this situation started or ended),. but it is certain that by this reply China implicitly recognized that Vietnam had asserted its claim to the Hoang Sa Islands. The Chinese Government also appeared confused about the legal distinction between suzerainty and sovereignty : even if Vietnam was a vassal state of China in 1816, the formal relationship of suzerainty could not preclude such Vietnamese acts of sovereignty as the incorporation of new territories.
    Convinced of her legitimate rights in the dispute, France by a diplomatic note to China dated February 28, 1937, proposed that a settlement of the conflicting claims be reached through international arbitration. But China knew the risks involved in such a challenge and declined the offer. Thus, the Chinese government simply responded by reaffirming its claim to the islands. That negative attitude caused the French to send military units, composed of Vietnamese soldiers and called Garde Indochinoise, to many of the Hoang Sa Islands (28). These units built many – sovereignty colums -, of which there exists photographic records. The column on Pattle Island contained the following inscription in French:
Republique Francaise
Empire d’Annam
Archipel des Paracels
1816 – Ile de Pattle 1938
    These dates marked the taking of possession -by Emperor Gia Long and the year the column was erected (29).
    These troops, commanded by French officers, were to stay on the islands until 1956 with a brief interruption after 1941. Men the Japanese seized the Paracels (and the Spratlys) by force in -that year, France was the only power to officially protest against it. ‘ In 1946, shortly after their return to Indochina at the end of World War II, the French sent troops on. the vessel Savorgnan de Brazza to re-occupy the archipelago. However, events in the French-Vietminh war compelled these troops to withdraw from the Paracels in September, 1946. Informed that Chinese troops (who had supposedly arrived to disarm defeated Japanese troops pursuant to agreements between the Allied powers) continued to stay on the islands, the French issued a formal protest on January 13, 1947. Then they dispatched the warship Le Tonkinois to the area. Crewmembers found Boisee Island (Phu Lam) still occupied (January 17, 1947). The Chinese troops refused to leave and, being outnumbered, the French-Vietnamese soldiers left for Pattle Island where they established their headquarters. They also rebuilt the Weather Station which had operated for 6 years in the past, between 1938 and 1944. The new station became operative in late 1947 and, under international station code 48860, provided the world with meteorological data for 26 more years, until the day when Communist Chinese troops seized the Hoang Sa archipelago by force (January 20, 1974).
    Beginning in the 1930’s, these disputes, with China had already motivated the French authorities in Indochina to take stronger measures in administrative organization. By Decree No. 156-SC dated June 15, 1932 the Governor General of Indochina gave the Hoang Sa Islands the name of “Delegation des Paracels” – and the status of an administrative unit of Thua Thien Province. This decree was later confirmed by a Vietnamese imperial ordinance signed by Emperor Bao Dai on March 30, 1938 (the confirmation was necessary because, as the ordinance recalled, the Hoang Sa Islands had traditionally been part of Quang Nam and Quang Ngai provinces, from whence communications with the islands had originated). A subsequent Decree of May 5, 1939 by the French Governor General divided the archipelago into two Delegations: Crescent et Dependences, and Amphitrite et Dependences.
    These administrative measures were adequately completed by the organization of services on the islands. For instance, health checks were regularly made on the workers, called coolies by the French, during their stay there. Consequently, civil service officers were appointed on a regular basis. These officers had to stay permanently on either Pattle Island (for the Crescent and Dependences Group) or Boisee Island (for the Amphitrite and Dependences Group). However, because of the islands’ bad climate, they were allowed long vacations on the mainland and were relieved after short periods. One of these former civil servants is Mr. Mahamedbhay Mohsine. a French citizen of Indian origin who.. outraged by the Chinese invasion of 1974, has offered to testify anywhere on the legitimacy of Vietnamese rights. Between May 5, 1939 and March 13, 1942, Mr. Mohsine served as Administrative Officer or De1egue administratif for the Paracels. He was first posted on Pattle, then on July 16, 1941 was ordered to relieve a colleague, Deputy-Inspector Willaume, on Boisee. Later Mr. Mohsine was officially recommended for an award of distinction in consideration of his contribution to French colonial expansion in the remotest parts of Indochina (30).
    Mr. Mahamedbhay was only one of the many civil servants and military personnel who, by serving the French colonial cause on the Hoang Sa Islands, directly contributed to the preservation of Vietnamese rights which had only temporarily been exercised by the French. At an early stage,, French action had been only intermittent – intermittence which is not at all incompatible with the maintenance of the rights but in the last 30 years of their presence, the French did fulfill all the obligations of a holder of title. Thus the French accomplished a valuable conservator act in the safeguarding of legitimacy for the Vietnamese sovereignty over the Hoang Sa Islands.

Return to Vietnamese sovereignty.
    After the French-Vietnamese Agreement of March 8, 1949, Vietnam gradually regained its independence. Although some French troops were intermittently stationed on some of the Hoang Sa Islands until 1956, it was on October 14, 1950 that the French formally turned over the defense of the archipelago to the Vietnamese. General Phan Van Gao, then Governor of Central Vietnam, went in person to Pattle Island to preside over the ceremony. The general made the trip to the remote and isolated island because, as he reported to Prime Minister Tran Van Huu in Saigon:
    “I was persuaded that my presence among the Viet Binh Doan (Regional Guard Unit) would have a comforting impact on its morale on the day the unit took over heavy responsibilities ” (31).
    No doubt Premier Tran Van Huu was pleased by the Govemor’s initiative, since in the following year (1951) he was to attend the San Francisco Peace Conference with Japan where he solemnly and unequivocally reaffirmed the rights of his country over both the Paracel and Spratly archipelagoes. After its defeat in 1945, Japan had relinquished all its claims to these islands that their forces had occupied. This matter will be discussed further in another chapter.
    Reassuming all responsibilities for the Hoang Sa archipelago, the Vietnamese felt that it was more practical to re-incorporate it as part of Quang Nam Province (as things were before the French decree of 1932) because links between these insular territories and the mainland had always originated from the Quang Nam provincial capital of Da Nang. A proposal to that end was made in 1951 by regional authorities in Hue (32), but it was a full ten years later that the President of the Republic, Ngo Dinh Diem, signed a Decree (33) transferring the Hoang Sa Islands from the jurisdiction of Thua Thien Province back to Quang Nam. The entire archipelago was given the status of a “Xa” (village on the mainland). Administrative organization was again perfected 8 years later: by a Prime Minister’s Decree (34) the islands became part of a village on the mainland of Quang Nam, the village of Hoa Long, Hoa Vang District.
    Most Vietnamese officials posted on the Hoang Sa Islands were thus from Quang Nam Province and usually detached for about a year from their regular position on the mainland. The first civilian officer to be appointed by an independent Vietnamese Government was M. Nguyen Ba Thuoc (appointed December 14, 1960 by Arrete No. 241-13NV/NV/3). After 1963 however, due to war conditions in the Republic of Vietnam, the administrative officers- assigned there have always been military men. They were usually NCOs in command of the Regional Forces stationed on Duncan Island. Thus they bore the title of “Duncan Island Chief”, concurrently in charge of Administrative affairs for the Hoang Sa Islands.
    Whether civilian or military, these officers helped ensure peaceful Vietnamese sovereignty over the islands. Scientific surveys continued, with Vietnamese scientists joining their French colleagues in order to deepen the knowledge about these remote territories. Manned by Vietnamese technicians, the Pattle Weather Station continued providing the world with meteorological data until its forced closure in 1974. The exploitation of phosphate resumed after 1956 with the following yields:
            1957-58-59:      8,000 metric tons
            1960:               1,570 metric tons
            1961:               2,654 metric tons
            1962 and after: 12,000 metric tons extracted, but left on the islands.
    In 1956 the Ministry of Economy granted the first license to exploit phosphate on the 3 islands of Vinh Lac (Money Island), Cam Tuyen (Roberts) and Hoang Sa (Pattle) to a Saigon businessman named Le Van Cang. In 1959, a license was issued to the “Vietnam Fertilizers Company ” which contracted actual extraction and transportation to a Singapore company Yew Huatt (4, New Bridge Road, Singapore 1). Among other clauses, the Vietnamese Company committed itself to obtain from the Government of the Republic of Vietnam the granting of fiscal exemptions and the privilege to use radio facilities 4 the Pattle Weather Station. After 1960, commercial exploitation of Pattle was granted to the Vietnam Phosphate Company, which stopped all operations in 1963 because of insufficient returns. Interests in phosphate exploitation surfaced again in 1973 when the Republic of Vietnam faced serious problems of fertilizer shortage.
    In August of that year, the ” Vietnam Fertilizer Industry Company” finished a feasibility study conducted jointly with a Japanese partner, Marubeni Corporation of Tokyo. The survey on the islands lasted two weeks, and Marubeni Corporation provided the engineers needed.
    It is no wonder that the exercise of normal sovereignty by the Republic of Vietnam has had to be coupled with actions which are more or less military-oriented. Confronting unfounded claims by China in the Hoang Sa Islands, the Armed Forces of the Republic have been required to display constant vigilance in the defense of this part of Vietnamese territory. As an example, when the Chinese nationalist troops which had refused to leave Phu Lam (Wooded or Boisee) Island in 1947 withdrew in 1950 following Marshall Chiang Kai Shek’s defeat, Communist Chinese troops landed there immediately to continue the illegal occupation. A Vietnamese Navy unit assumed responsibility for the defense of the archipelago in 1956. This unit was relieved the following year by a Marine Company. After 1959, the task was assigned to Regional Forces of Quang Nam Province. Vietnamese warships have patrolled the Hoang Sa waters regularly in order to check illegal occupants on the many islands. In this regard, the People’s Republic of China appears to have followed guerrilla-type tactics: it surreptitiously introduced first fishermen, then soldiers onto Vietnamese territory. They even built strong fortifications on the two islands of Phu Lam and Linh Con. On February 22, 1959, the Republic of Vietnam’s Navy thwarted this tactic by arresting 80 fishermen from mainland China who had landed on the three islands of Cam Tuyen, Duy Mong and Quang Hoa. These fishermen were humanely treated and promptly released with all their equipment after being taken to Da Nang.
    The broad range of actions by the Vietnamese authorities regarding the Hoang Sa Islands provides an undeniable evidence of Vietnamese sovereignty. These actions include, among others, the approval of international contracts connected with the islands’ economy ; police operations against aliens; extraction of natural resources ; the providing of guarantees to other states; and so forth. Vietnamese sovereignty was first built between the 15th and 18th centuries, consecrated by the Nguyen emperors, then temporarily assumed by the French, and finally continued in a normal manner by independent Vietnam. The exercise of Vietnamese jurisdiction was effectively displayed under a large variety of forms. It was open, peaceful, and not, like the Communist Chinese claim, asserted jure belli. Any interruption of Vietnamese sovereignty was due only to foreign powers’ illegal military actions against which Vietnam, or France on behalf of Vietnam, had always protested in a timely fashion. Convinced of their legitimate rights over the Hoang Sa Islands, the Vietnamese will never indulge in compromises in the defense of their territorial integrity (see Chapter IV).  

CHAPTER III: THE TRUONG SA (SPRATLY) ISLANDS BELONG TO THE VIETNAMESE

    The Vietnamese islands of Truong Sa, known internationally as the Spratly archipelago, are situated off the Republic of Vietnam’s coast between approximately 80 and 11040 North latitude. In. the course of history, the Vietnamese people have had intermittent contact with these islands known for their dangerous grounds and access. Unlike the case of the Hoang Sa (Paracel) Islands, the former emperors of Vietnam did not have the time to strengthen these contacts through the organization of an administrative jurisdiction. However, the French, who occupied the Southern part of Vietnam known as Cochinchina, took all those measures necessary for the establishment of the legal basis for possession of the Spratly Islands. In 1933, the Spratlys were incorporated into the French colony of Cochinchina and from that year forward have had an adequate administrative structure.
    It is true that French jurisdiction was disrupted by the Japanese invasion of 1941. However, shortly after the Japanese defeat in 1945, France returned Cochinchina to Vietnam, which then recovered all the rights attached to the former French colony. Immediately thereafter, Vietnamese sovereignty over the Truong Sa Islands faced groundless claims from other countries in the area which military occupied some of the islands of the archipelago.

Geographic and historic background.
    The Truong Sa archipelago is spread over hundreds of miles in the South China Sea. However, it only contains 9 islands of relatively significant:
            – Truong Sa or Spratly Island proper.
            – An Bang or Amboyna Cay.
            – Sinh Ton or Sin Cowe.
            – Nam Yet or Nam Yit.
            – Thai Binh or Itu-Aba.
            – Loai Ta.
            – Thi Tu.
            – Song Tu Tay or South West Cay.
            – Song Tu Dong or North East Cay.
    Because of the size of the area, the archipelago is divided into many groups. Using the main island of Spratly (which gave its name to the whole archipelago) as a point of reference, the distances to the shores of surrounding countries are as follows:
            – Spratly Island to Phan Thiet (Republic of Vietnam) 280 nautical miles
            – Spratly Island to the closest shore of Hainan Island (People’s Republic of China) 580 nm
            – Spratly Island to the closest shore on Palawan Island (Philippines) 310 nm
            – Spratly Island to the closest shore of Taiwan 900 nm
    Like the Hoang Sa Islands, the Truong Sa archipelago is composed of little coral islands which are often surrounded by smaller reefs. Because of their proximity to the coast of Vietnam, these islands have always been frequented by fishermen from the southern part of Vietnam. These fishermen made regular expeditions to the islands and sometimes stayed there for prolonged periods of time. Vietnamese history books often made reference to the ,Dai Truong Sa Dao-, a term used to designate both the Paracel and Spratly archipelagoes and, more generally, all insular possessions of the Vietnamese (50). The map published circa 1838 by Phan Huy Chu and called “Dai Nam Nhat Thong Toan Do” (fig. 8, page 32) expressly mentioned the Spratlys, under the name Van Ly Truong Sa, as part of Vietnamese territory, although the archipelago was not located at its proper place because of the use of ancient geographic techniques.
    These distant islands were often neglected by the Vietnamese authorities of the time. The emperors did not implement a systematic policy of occupation on the Truong Sa Islands as they had for the other archipelago, Hoang Sa. Furthermore, the Empire of Vietnam lost interest in the islands off the Cochinchinese shore as the French occupation of Cochinchina began in 1852. For their part, the French took some time before consolidating their rights to the Truong Sa archipelago. Their first recorded action was a scientific reconnaissance of the Spratlys by the vessel De Lanessan following its exploration of the Paracels (1927). This scientific mission was followed by an official expedition in 1930 on the sloop la Malicieuse, in the course of which the French flag was hoisted on the highest point of an island called Ile de la Tempete.

Legal basis of Vietnamese possession.
    In 1933, the French Government decided to take official possession of the islands. Three ships, the Alerte, the Astrobale and the De Lanessan took part in the expedition. The following are relevant quotations from an account given by H. Cucherousset in L’Eveil economique de l’Indochine (No. 790 of May 28, 1933) :
    “The three vessels first of all visited Spratley and confirmed French possession by means of a document drawn up by the Captains, and placed in a bottle which was subsequently embedded in cement.
    ” Then the Astrolabe sailed south west to a point 70 miles from Spratley and 200 miles from Borneo, and arrived at the caye (sandy island) of Amboine, at the northern extremity of the Bombay Castle Shallows. Possession was taken of the island in the manner related above. This cave protrudes two meters 40 cm above the sea at high tide.
    ” Two-thirds of the rock which forms the caye is covered with a thick layer of guano, which the Japanese do not seem to have completely exploited.
    ” Meanwhile, the Alerte sailed towards the atoll Fiery Cross (or Investigation) at a point about 80 miles north-west of Spratly and equidistant from Cape Padaran and the southern point of Palawan Island. The whole of this vast reef protrudes only at a few points above the surface of the sea.
    At the same time the De Lanessan proceeded towards the London reefs, at about 20 miles north-east of Spratly. There it discovered the wreckage of the Francois Xavier, which was wrecked there in 1927 while on its way from Noumea to Indochina via this part of the China Sea, in which, in spite of its great depth, navigators are not advised to sail too boldly.
    “Itu Aba. which is surrounded by a reef, is mentioned in the naval instructions of 1919 as being covered with bushes and thickets with the nests of many sea birds, and a number of banana and coconut trees growing around a well….
    “The De Lanessan and Astrolabe later sailed north where, about 20 miles from the Tizard bank, is situated the Loaita bank, an atoll of the same kind. The two vessels took formal possession of the main island, on which are also to be found the remains of plantations and an unexhausted phosphate working. Loaita Island is a sandy isle, low, covered with bush, and a bare 300 metres in diameter.
    “The Alerte for its part visited the Thi-Thu reef, at about 20 miles north of the Loaita bank, and took possession of an island and of this atoll. still by means of the same ritual. This little low and sandy isle possesses a well, a few bushes, and some stunted coconut trees. A fair anchorage is to be found on the southern bank.”
    Further north still, at the level of Nhatrang, is the atoll named “North Danger” , the Alerte took possession of two sandy islands (cayes) where it found some Japanese fishing. The De Lanessan went there too and explored the little island. The latter is perceptibly higher than the others, the highest point reaching 5 metres. The phosphate beds are considerable and were much exploited by the Japanese.
    After possession had been taken, the French Ministry of Foreign Affairs published the following notice in the French Journal Officiel dated July 26, 1933 (page 7837)
    “Notice concerning the occupation of certain islands by French naval units.
    The French government has caused the under mentioned isles and islets to be occupied by French naval units:
        1. Spratley Island, situated 8o39′ latitude north and 111o55′ longitude east of Greenwich, with its dependent isles (Possession taken April 13, 1930).
        2. Islet caye of Amboine, situated at 7o52′ latitude north and 112o55′ longitude east of Greenwich, with its dependent isles (Posssession taken April 7, 1933).
        3. Itu Aba Island situated at latitude 10o2′ north and longitude 114o21′ east of Greenwich, with its dependent isles (Possession taken April 10, 1933).
        4. Group of two islands situated at latitude 111o29′ north and longitude 114o21′ east of Greenwich, with their dependent isles (36) (Possession taken April 10, 1933).
        5. Loaita island, situated at latitude 10o42′ north and longitude 114o25′ east of Greenwith, with its dependent islands (Possession taken April 12, 1933).
       6. Thi Tu Island. situated at latitude 11o7′ north and longitude 114ol6′ east of Greenwich, with its dependent islands (Possession taken April 12, 1933).
    The above-mentioned isles and islets henceforward come under French sovereignty (this notice cancels the previous notice inserted in the Official Journal dated July 25, 1933, page 7784).
    Notification of the occupation was made by France to interested countries between July 24 and September 25, 1933. With the exception of Japan, no State which could have had an interest in the matter raised any protest against this act. Three powers in the area remained silent and unconcerned: the United States (then occupying the Philippines), China, and the Netherlands (then occupying Indonesia). In Britain, Foreign Under-secretary Butter declared 6 years later that France exercised full sovereignty over the Spratly archipelago and that all matters relevant to these islands were primarily a French concern (37).
    The Japanese protested the French occupation on the ground that, in the past, Japanese subjects had carried out exploitation of phosphate on some of these islands. It was true that Japanese companies had operated on the Spratlys without the permission and knowledge of French authorities. But Japan had never made any attempt toward taking possession of these islands. In 1939., claims by the Japanese militarist government then in power assumed a tougher tone: Japan declared that she had decided to – place the Spratly or Tempest Islands off the coast of Indoch’na under Japanese jurisdiction -. The decision first appeared merely on paper, but was followed two years later by forcible military occupation of the archipelago (1941). In any case, in the San Francisco Peace Treaty of 1951, Japan relinquished all titles and claims to the Paracel and Spratly Islands.
    It should also be noted that the French occupation of the Spratly Islands in 1933 did not arouse any protest from the United States government, which was then acting on behalf of the Philippines. Five years earlier, the United States did engage in a dispute with the Netherlands over the island of Palmas off the Philippine coast (38). Since the United States did not act where a Philippine claim could have been made, this indicates that there was no ground for a challenge of French rights on behalf of the Philippines. It was only 35 years after the French took possession of the Spratly Islands that Philippine troops, taking advantage of the war situation in the Republic of Vietnam, surreptitiously occupied some islands in the Vietnamese archipelago:
        Loai Ta 10o41′N – 114o25′E
        Thi Tu 11o03′N – 114ol7′E
        Song Tu Dong 11o27′N – 114o21′E
    All of these three islands are in the list of islands published in the French Official Journal of July 26, 1933 which recorded the possession of the Spratlys by French naval units. The present position of the Philippine government that these islands are not part of the Spratly archipelago but only res nuilius when Philippine troops occupied them is, therefore, obviously erroneous. All three islands (which were artificially given Malayo-Spanish sounding names) are an integral part of the Vietnamese Truong Sa archipelago. Moreover, it remains to be determined in a common and friendly spirit whether or not some other, smaller, islands occupied by Philippine soldiers are dependent islets of these Vietnamese main islands. In this regard, it should be recalled here that when the French took possession of the Spratlys, they only listed the major islands in the official act and indicated that these islands were incorporated – with their dependent islets.
    The Philippine government has also argued that the remaining islands of the Spratly archipelago (i.e., those not occupied by Philippine troops) are still -subject to the disposition of Allies in the past world war-. According to this theory, when Japan relinquished its rights over the Spratlys by the San Francisco Peace Treaty, its jurisdiction was assumed by the Allied powers who have,not yet ceded the archipelago to any particular country. No reasoning can be more disputable, since the Spratlys were already and fully part of Vietnamese territory before World War II. These islands were merely seized militarily by Japan and, just like Mindoro or Guam, must simplv return to their legitimate owner. It is obvious that military occupation by Japan could not result in any transfer of sovereignty over those islands and that Vietnam was ipso facto reinstated in her lawful rights after the defeat of Japan. In the San Francisco Peace Treaty, it was simply said that:
        ” Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.”
    Previously, the Cairo Declaration (1943) the Yalta Agreement and the Potsdam Declaration (1945), which are the basic documents for postwar territorial settlements, contained no clause contrary to the sovereignty of Vietnam over both archipelagoes. There have not been any other legal texts that attribute these territories to any country – as was correctly pointed out by the Philippine government. Thus, all sovereign rights must be returned to their legal titular, i.e., Vietnam which, since 1949 had inherited (or rather retaken) all of the former French rights over these territories. Therefore, the short clause about the Paracels and Spratlys in the San Francisco Peace Treaty was merely designed to confirm that Japan withdrew all her claims in earlier disputes with France.
    It is to the credit of the Philippine government that it has not associated itself with the burlesque adventure of one of its private citizens, Mr. Tomas Cloma, who has prt,ended to – discover – the Vietnamese Truong Sa islands in 1956 and has proclaimed an independent – Freedomland – covering most of this archipelago (39). But the fact remains that Philippine troops are presently stationed on some of the islands described by Mr. Cloma as part of K Freedomland v. This matter must be settled in accordance with international law and the Charter of the United Nations. The Vietnamese people are entirely confident that the legal and peaceful channels available to solve such disputes will confirm the legitimacy of their rights.
    Regarding China, it must be stressed that few people have had knowledge of any Chinese claims over the Spratlys in the past (40). In a sudden move on August. 24, 1951, Netv China in Peking attacked both French and Philippine claims regarding these islands and stated that they must be considered to be – outposts of Chinese national territory -. Subsequently, the People’s Republic of China continued to issue statements filled with threats to use force in order to seize the Truong Sa archipelago (41). But it was the Republic of China’s government which took the initiative and sent troops from Taiwan to occupy Thai Binh Island (Itu-Aba) on June 8, 1956. Itu-Aba is the largest island of the Spratlys and thus was a kind of – capital – where all French services were centered. As late as December 1973, the Far Eastern Economic Review of Hongkong reported that a marker still stood there with the inscription: (France – Ile ItuAba et Dependances – 10 Aouit 1933 – (42).

Exercise of normal state authority.
    The headquarters of a French administrative officer, who also commanded a guard detachment ‘ was located on Itu Aba Island. Because of the isolation and the hard living conditions on the island, only volunteers to the post were sent there. Sometimes, no government official would volunteer, so the Indochinese authorities had to recruit private citizens by means of contracts which lasted one year. These contracts contained generous allowances and other largesses in an attempt to retain volunteers on the island. One of the a “contract officials,” was Mr. Burollaud who held out for 2 years (1938-1940). It was apparently difficult to find a successor for Mr. Burollaud, since the Governor General in Hanoi had to send a note dated August 22, 1940 throughout Indochina (and to the French possession of Kouang-Tcheou-Wan in ichina) to look for a volunteer – who must be a European. The official finally recruited turned-out to be most unlucky, since, according to an eyewitness named Tran Van Manh who was serving at that time with the Itu-Aba Meteorological Station, he was seized and tied to the flag pole by Japanese troops occupying the Spratlys in 1941 (43). Regarding administrative organization, 3 months after the official incorporation of the Spratlys, the Governor General of Indochina signed Decree No. 4762-CP dated December 21, 1933 making the archipelago a part of the Cochinchinese province of Ba-Ria. After Cochinchina was returned to Vietnam, this organization was confirmed in 1956 bv a Decree of the President of the Republic of Vietnam (44). Seventeen years later, the Spratlys were attached to a village of the same province (the name of which had in the meantime changed to Phuoc Tuy), the village of Phuoc Hai, Dat Do district (45). State activities on the Spratlys were necessarily restricted because the islands were uninhabited and situated too far away from the mainland. In 1938, the Indochina Meteorological Service set up a weather station on Itu-Aba, which was considered the best place in the South China Sea to provide meteorological data for neigbouring countries. The Station functioned in French hands for over 3 years after which it was reported to have continued operations under Japanese military occupation. Before the Japanese seizure, the Itu-Aba station was important enough to be given an international code number: 48919. Data provided by the Station were recorded all over the world qnd were listed under – French Indochina – Cochinchina,,. The French also continued scientific surveys of the Spratlys after 1933. For instance, a valuable geographic and aeologic study of the Spratlys was made available in the 22nd Report of the Oceanographic Institute of Indochina (46).
    Thus, on behalf of Vietnam, the French conducted various kinds of activities which substantiate the right to sovereignty over a territory. These also include diplomatic activities to ensure the protection of possession by the authority in control. France defended with success the Spratlys against Japanese aims. The Ministry of Foreign Affairs in Paris protested energetically on April 4, 1939 when Japan announced that she had “placed the islands under her jurisdiction”. France remained active right until 1956, the year when all her troops finished their withdrawal from Indochina. ‘ As late as May 1956, after Mr. Tomas Cloma created his so-called “Freedomland”, the French Charge d’Affaires in Manila was reported to have reminded the Philippine government of the French rights resulting from the 1933 occupation (47). At the same period, the French Navy vessel Dumont d’Urville made a visit to Itu-Aba in a demonstration of French – Vietnamese interest in the archipelago. The Republic of Vietnam’s Ministry of Foreign Affairs, for its part, issued a statement on June 1, 1956 recalling the Vietnamese rights. Two weeks later, Foreign Minister Vu Van Mau of the Republic of Vietnam reaffirmed at length the rightful position of his country (48). He recalled, among other facts, that five years earlier the head of the Vietnamese Delegation at the San Francisco Peace Conference had solemnly reaffirmed Vietnamese sovereignty over the Truong Sa archipelago and that the statement was not challenged by any participating country, including China and the Philippines.
    From 1956 on, in the face of Chinese and Philippine groundless pretenses, the Republic of Vietnam’s Navy began to launch various operations to reassert control over the Truong Sa Islands. Crewmembers erected sovereignty steles on almost all of them and built poles to hoist the Vietnamese flag. The cruiser Tuy Dong (HQ-04) was assigned these missions in August 1956. In 1961, the two cruisers Van Kiep and Van Don landed on the islands of Song Tu Tay (South-West Cay) Thi Tu, Loai Ta and An Bang. Two other islands, Truong Sa (Spratly proper) and Nam Ai (Nam Yit) were visited the following year by the cruisers Tuy Dong and Tay Ket. Finally, in 1963, all of the sovereignty steles on the main islands were systematically rebuilt by crew members of the three vessels Huong Giang, Chi Lang and Ky Hoa:
            May 19, 1963 steles on Truong Sa Island (Spratly proper)
            May 20, 1963 steles on An Bang Island
            May 22, 1963 steles on Thi Tu and Loai Ta Islands
            May 24, 1963 steles on Song Tu Dong (North East Cay) and Song Tu Tay (South West Cay).
    The pace of these patrol and control operations were reduced after 1963 due to the war situation in the Republic of Vietnam. That does not mean, however, that Vietnamese rights on the Truong Sa archipelago have been diminished, even if foreign powers were then able to take advantage of the situation to commit illegal intrusion in some of these islands. These rights had been openly established in the name of Vietnam when the French incorporated the archipelago into Indochina. Moreover, these territories were traditionally known and frequented by Vietnamese in the past. The French action of 1933 was entirely in conformity with international rule and practice. It was challenged by no one except Japan, who later relinquished all her claims. An effective presence and a peaceful exercise of sovereignty have been firmly assured. This has only been interrupted once and temporarily when Japan seized the Truong Sa Islands by force in 1941. As in the case of the Hoang Sa Islands, a foreign military presence has not and will not break the will of the Vietnamese to remain as the owner of all their territories. Therefore, let it be reminded that the islands now illegally occupied by foreign troops are indivisible parts of the Truong Sa archipelago which belong to the Vietnamese people.  

CHAPTER IV: THE DEFENSE OF THE LEGITIMATE RIGHTS OF VIETNAM
    In preceding Chapters, it has been mentioned that the Vietnamese have always assured an appropriate defense of their rights over the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands. Vietnamese or French troops were stationed permanently on both archipelagoes in a display of authority that is inherent to rightful sovereignty. In the diplomatic field, it has been recalled that France remained active until 1956 in the defense of the legitimate title it held on behalf of Vietnam. In 1932, then again in 1939, France issued particularly strong protests against pretenses from China concerning the Paracels and from Japan concerning the Spratlys.
    Independent Vietnam had later to confront serious challenges to her sovereignty over these islands. At the San Francisco Peace Conference of 1951, Vietnam unequivocally reaffirmed its rights over both archipelagoes. The Vietnamese chief delegate dearly stated the position that, in settlement of territorial problems resulting from World War II, only Vietnam was entitled to recover the Hoang Sa and Truong Sa Islands from Japan. The defense of this cause continued actively during the following years. In response to the Chinese invasion of January 19-20, 1974, the Republic of Vietnam’s soldiers fought heroically in the face of superior military force. Backed by all segments of the population, they kept alive the Vietnamese tradition that the temporary loss of physical control over a territory does not mean the relinquishing of a legitimate right.

From the San Francisco Peace Conference to 1973.
    When Japanese military control ended in 1945, the Hoang Sa and Truong Sa Islands returned ipso facto to their legitimate owners. H ever, the confusion resulting from the war allowed other countries make bolder moves toward asserting their groundless claims. Specifically, the Republic of China illegally continued to station on some of the Hoang Sa Islands the troops that had been sent there to disarm Japanese soldiers in implementation of the Potsdam agreement. Thus the successive governments of newly independent Vietnam assumed the task of doing their utmost to protect the territorial integrity of the country. The first opportunity to do so was at the San Francisco Conference held in 1951 to work out a peace treaty with Japan. The gathering was attended by delegates from 51 countries. According to agreements reached, Japan renounced all rights and claims to the Paracel and Spratly Islands. The head of the Vietnamese delegation to this Conference was Prime Minister Tran Van Huu, who was also Minister of Foreign Affairs. On September 7, 1951, during the seventh plenary session of the Conference, the Vietnamese delegate made the following statement:
    “…as we must frankly profit from all the opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam “.
    The statement aroused no objections from any of the 51 countries attending the Conference. This must be considered as having been the universal recognition of Vietnamese sovereignty over these islands. The declaration by Premier Huu was designed to reaffirm an existing right, therefore it has an effect erga omnes, i.e., even vis-a-vis those countries not represented at the Conference (for instance, the People’s Republic of China).
    On the other hand, the full text of Article 2 of the Peace Treaty shows that the two archipelagoes were considered as one single entity in the settlement of territorial matters:
            Chapter II Territory
            Article 2
            a) Japan, recognizing the independence of Korea renounces all right, and claim to Korea,                 including the islands of Quelpart, Port Hamilton and Dagelet.
           (b) Japan renounces all right, title and claim to Formosa and the Pescadores.
           (c) Japan renounces all right, title and claim to the Kurile Islands, and to that portion of                 Sakhalin and the islands adjacent to it over which Japan acquired sovereignty as a                 consequence of the Treaty of Portsmouth of September 5, 1905. (d) Japan renounces all                 right, title and claim in connection with the League of Nations Mandate System, and accepts                 the action of the United Nation Security Council of April 2, 1947, extending the trusteeship                 system to the Pacific Islands formerly under mandate to Japan.
           (e) Japan renounces all claim to any right or title to or interest in connection with any part of                the Antarctic area, whether deriving from the activities of Japanese nationals or otherwise.
           (f) Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.
    The Treaty does not specify which countries were to recover which specific territories renounced by Japan. However, from the above, it is clear that each sub-paragraph is relevant to the rights of one particular country, for example:
            sub-paragraph (b) : rights of China.
            sub-paragraph (c) : rights of the USSR.
            sub-paragraph (d) : rights subsequently conferred upon the United States.
            sub-paragraph (f) : rights of Vietnam.
    This interpretation was confirmed by the refusal by the Conference to consider a Soviet amendment that would include the Paracels and Spratlys into the sphere of Chinese rights. The Soviet amendment reads as follows:
            “1. To Article 2.
            “(a) To include, instead of paragraphs (b) and (f), a paragraph reading follows: Japan recognizes full sovereignty of the Chinese People’s Republic over Manchuria, the Island of Taiwan (Formosa) with all the islands adjacent to it, the Penlinletao Islands (the Pescadores), the Tunshatsuntao Islands (the Pratas Islands), as well as over the Islands of Sishatsuntao and Chunshatsuntao (the Paracel Islands, the group of Amphitrites, the shoal of Maxfield) and Nanshatsuntao Islands including tile Spratly, and renounces all right, title and claim to the territories named here in.
    The Soviet Amendment was defeated during the 8th plenary session of the Conference. The President of the Conference ruled it out of order, the ruling being sustained by a vote of 46 to 3 with 1 abstention (49). Chinese claims to the Paracels and Spratlys were thus overwhelmingly disregarded.
     At a later date, the government of the Republic of China restated its claims based on the separate peace treaty between it and Japan (April 28, 1952). Actually, the provision concerning the Paracels and Spratlys in that treaty was an exact restatement of Article 2 (f) of the San Francisco Treaty. Once again, Japan declined to specify in favor of which country it renounced its occupied territories. In any case, it must be stressed again that there exists an elementary principle of law that a state (in this case Japan) cannot transfer more rights than it itself possesses, in accordance with the maxim Nemo dat quod non habet. Generally speaking, the illegitimacy of China’s claims over the Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes is due to the lack of animus occupandi on Chinese’s part. It is true that fishermen from Hainan Island have frequented these islands in the past and that Chinese travelers occasionally stopped there. But unlike what has been done by Vietnam, activities by private Chinese citizens were never followed by governmental action. As late as 1943, although Marshall Chiang Kai Shek represented the only country having claims to the Paracels and Spratlys at the Cairo Conference, he did not have any reference to these islands included in the final Declaration (which did state that Manchuria, Formosa and the Pescadores must be returned to China). Because of the weakness of its argument, China has always declined all suggestions, repeatedly made, in the past by France, that the dispute be settled before international courts.
    For the same reason, the People’s Republic of China had to resort to gratuitous affirmations, threats and violence to assert her claims to the Vietnamese Hoang Sa and Truong Sa Islands. These claims are a mere revival of the old Chinese imperialistic drive known to all South-East Asia nations. The islands, islets, shoals and banks that the People’s Republic of China claims as a the outposts of Chinese territory)) cover the entire South China Sea, and would virtually convert the whole sea into a communist Chinese lake.
    After the San Francisco Peace Conference, successive Vietnamese Governments have assured a systematic defense of the Hoang Sa and Truong Sa islands by all means available to a sovereign state. After 1956, when stability had returned to the Republic of Vietnam following the Geneva Agreement of 1954, military and diplomatic activities became more intense. As mentioned before, navy patrols were conducted on a regular basis. When deemed necessary, the government of the Republic of Vietnam solemnly reiterated its rights over the islands (statements by the Ministry of Foreign Affairs on June 1, 1956 and July 15, 1971). Necessary steps were also taken vis-a-vis foreign governments in order to assert the Vietnamese title. For instance, a note to the Malaysian Government dated April 20, 1971 contained all the convincing arguments in support of Vietnamese sovereignty. This sovereignty was so evident that it could only be contested through military actions.

The Chinese invasion of January 19-20, 1974.
    Before 1974, the People’s Republic of China had aired sporadic claims to the Hoang Sa and Truong Sa Islands. Occasionally, it conducted secret actions against the islands, such as the intrusion of – fishermen , into Vietnamese uninhabited territories. However, at the beginning of 1974, the People’s Republic of China resorted to blatantly aggressive tactics in order to militarily seize the Hoang Sa archipelago. The following is an account of the invasion made by the Minister of Foreign Affairs of the Republic of Vietnam. In the face of the extremely grave situation created by the PRC’s imperialistic action, RVN Foreign Minister Vuong Van Bac summoned the heads of all diplomatic missions in Saigon on January 21st, 1974 and made the following statement:
Excellencies,

Gentlemen,

” I have invited you to gather here today to inform you of recent events which have taken place in the area of the Hoang Sa (Paracel) archipelago off the central coast of Vietnam. These events have created an emergency situation susceptible of endangering peace and stability in South East Asia and the world.

” The Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagoes are a part of the territory of the Republic of Vietnam. The sovereignty of our country over these archipelagoes based on historical, geographical and legal grounds as well as on effective administration and possession, is an undeniable fact.

” On the 11th of January 1974, the Ministry of Foreign Affairs of Red China suddenly claimed sovereignty over these archipelagoes. Our Ministry of Foreign Affairs immediately rejected those unfounded pretensions.

” From then on, Communist China chose to use force to seize that portion of our national territory. It sent men and warships into the area of the islands of Cam Tuyen (Robert), Quang Hoa (Duncan) and Duy Mong (Drumond) of the Hoang Sa (Paracel) archipelago, and landed troops on these islands.

” On January 16, 1974, the Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Vietnam issued a statement to denounce these unlawful acts.

” In the meantime, in accordance with international regulations, naval units of the Republic of Vietnam instructed those men and ships violating the land and sea territory of the Republic of Vietnam to leave the area.

“The Red Chinese authorities not only refused to put an end to their unlawful incursions but also sent in additional reinforcements in troops and warships. They opened fire on the troops and naval units of the Republic of Vietnam, causing causalities and material damages. The Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Vietnam issued a communiqué on the 19th of January alerting world public opinion on these serious acts of hostility.

” On the 20th of January 1974, the Red Chinese authorities escalate further in the use of force against an independent and sovereign country. They sent their warplanes to bomb three islands : Cam Tuyen (Robert), Vinh Lac (Money) and Hoang Sa (Pattle) where units of the Armed Forces of the Republic of Vietnam were stationing, and also ‘landed their troops -with the aim of capturing these islands.

” Communist China is therefore openly using force to invade a portion of the Republic of Vietnam’s territory in violation of international law, of the Charter of the United Nations, of the Paris Agreement of January 27, 1973 which it pledged to respect and of the Final Act of March 2, 1973 of the International Conference on Vietnam to which it is a signatory.

” The Government and people of the Republic of Vietnam shall not yield to such brazen acts of aggression. They are determined to safeguard their national territory.

” I kindly request you to report to your Governments on this grave situation. The Government of the Republic of Vietnam also wishes that your Governments would adopt an appropriate attitude and take appropriate action in view of those acts committed recently by the Communist Chinese authorities in the Hoang Sa (Paracels) archipelago, in complete disregard for international law and the sovereignty of other nations.

Thank you.

    In the naval battle, the soldiers of the Republic of Vietnam fought heroically although they were outnumbered and outgunned. They suffered 18 deaths and 43 wounded, and, in addition, 48 Vietnamese personnel were illegally detained by the PRC’s invaders. Among those were four civilian employees of the Pattle Meteorological Station: this is an evidence that Vietnamese authorities were conducting peaceful activities on the islands before troops had to be sent in to cope with PRC’s provocations. Strongly condemned by world opinion, the PRC government had to release these personnel within 3 weeks in an attempt to appease the indignation caused by its blatant violation of the law of nations. Opinions sympathetic to the Republic of Vietnam were expressed everywhere in the world, especially in Asia where Vietnam was often hailed as the nation resisting communist Chinese expansionism. Even the Soviet newspaper Pravda accused the PRC a not to hesitate to resort to arms in order to impose its will in Southeast Asia, specifically on the Paracel and Spratly Islands – (50). Also in Moscow, Tass provided a summary of an article from “New Times – (a Soviet political weekly). The article quoted the PRC’s support of separatist movements in Burma, Bangladesh and India among other Peking’s provocations in order to – intensify pressures on independent countries of Asia)-. According to -New Times,, this coincided with Peking’s military actions on the Paracels (51).
    Convinced of its rightful position, the Republic of Vietnam appealed to world opinion and seeked the intervention of all bodies that could contribute to a peaceful settlement. As early as January 16, 1974 its Minister for Foreign Affairs sent a note to the President of the Security Council of the United Nations to bring to his attention the grave tensions created by the PRC’s false claims. After he had presented arguments in support of Vietnamese’ sovereignty over the Hoang Sa Islands, Minister Vuong Van Bac wrote: “In view of all the Precise facts listed above,, the sudden challenge by Communist China of the Republic of Vietnam’s sovereignty over the Paracels archipelago and its violation of the Republic of Vietnamese sovereignty are unacceptable. They constitute a threat to the peace and security of this region.
    ” The Government and people of the Republic of Vietnam are determined to defend their sovereignty and their territorial integrity and reserve the right to take all appropriate measures to this end.
    “The Republic of Vietnam considers the situation created by the above People’s Republic of China’s action as one which is likely to endanger international peace and security. Therefore the Government of the Republic of Vietnam wishes to request the Security Council to take all appropriate measures that the Council deems necessary to correct that situation.”. The Minister addressed the United Nations again on January 20. .1974, while troops of the Republic of Vietnam were still fighting back the PRC’s invaders in the Hoang Sa waters. He wrote to the Secretary General of the U.N. to inform him of the hostilities that started on January 19, 1974 when the Chinese landing party opened fire on Vietnamese defenders. After denouncing the clear case of c aggression across international borders, against an independent and sovereign state,,. Minister Vuong Van Bac requested that the Secretary General, in accordance with Article 99 of the Charter of the United Nations, draw the attention of the Security Council on the grave situation. For its part, K the Government of the Republic of Vietnam accepts in advance the obligations of pacific settlement provided in the Charter of the United Nations, and – reaffirms its faith on the United Nations and its acceptance of the purposes and principles enunciated in the Charter of the Organization . Although the Government of the Republic of Vietnam was fully aware that the PRC, as a permanent member of the Security Council had the power of veto (a fact which left little hope for any constructive debate or positive action), it chose to request an immediate meeting of the Security Council. The attention of the Council must be drawn on the grave situation resulting from the PRC’s aggression because, as Minister Bac pointed out in has note of January 24, 1974 to the Council’s President (Ambassador Gondola Facio) : “It behooves the Security Council and its members to fulfill their responsibilities and to decide on what to be done to correct that situation “. Indeed, the PRC promptly tried to justify its blatant act of invasion by presenting a completely distorted version of the facts. A PRC’s statement referred to c actions by the Saigon authorities in South Vietnam which sent naval and air forces to encroach on the Yungle Islands of China’s Hsisha Islands , (!).
    In a press conference on January 25, 1974, the President of the Security Council stated that the Vietnamese request had all legal grounds to deserve consideration, therefore he regretted that a Council meeting could not be convened for that purpose.
    The legitimacy of its rights motivated the Republic of Vietnam to use all available means of action to defend its just stand. A recourse to the International Court of Justice has been contemplated. On January 22, 1974 the President of the Republic of Vietnam wrote personal letters to the Heads of State in all friendly countries. After he had presented how the PRC’s violation of Vietnamese sovereignty created a threat to peace in South East Asia, President Nguyen Van Thieu concluded:
    “I am therefore writing to you…. to kindly request that you raise your voice in defense of peace and stability in this area of the world and resolutely condemn the violation by the PRC of the sovereignty of the Republic of Vietnam over the archipelago of Hoang Sa”. In other actions taken in defense of Vietnamese sovereignty, the Minister for Foreign Affairs of the Republic of Vietnam solemnly reaffirmed before the 3rd United Nations Conference on the Law of the Sea in Caracas that the Vietnamese people will not yield to the PRC’s act of violence and that they will never renounce any part of their insular territories (June 28, 1974). The Government of the Republic of Vietnam also sent a note on January 21, 1974 to the. signatories of the Act of the International Conference on Vietnam (March 2, 1973). This document, signed in Paris by 12 countries including the PRC and in the presence of the Secretary General of the United Nations acknowledged, and provided guarantees for, the provisions of the agreement to end the war signed on January 27, 1973. First the Vietnamese note presented the facts related to the PRC’s aggression, then it pointed out that:
    “It is clear from these developments that the government of the People’s Republic of China is deliberately resorting to the use of force as a means of acquiring territories, which is a gross violation of… the Agreement to End the War and Restore Peace in Vietnam signed in Paris on January 27, 1973 and the Act of the International Conference on Vietnam signed at Paris on March 2nd, 1973.
    “The Government of the Republic of Vietnam wishes to call the particular attention of the Parties to Article 1 of the Paris Agreement and Article 4 of the Act of the Paris International Conference, which both solemnly recognize that the territorial integrity of Vietnam must be strictly respected by all states and especially by the signatories of the Final Act.
    “In view of the seriousness of the present situation, the Government of the Republic of Vietnam appeals to the Parties, in the interest of peace and stability in the Western Pacific area, to take all measures which the Parties deem appropriate as provided in Article 7 of the Act of the international Conference on Vietnam – (52). The PRC’s aggressive aims is not limited to the Hoang Sa Islands. There were indications that Chinese troops were preparing to head for the Truong Sa (Spratly) archipelago after they had seized the Paracels on January 20, 1974 (53). On the other hand, in February 1974, the Philippines and the Republic of China also restated their claims to the Truong Sa Islands. The Republic of Vietnam rejected these unfounded claims by separate notes to the Republic of China (January 29, 1974) and to the Philippines (February 12, 1974). But the Government of the Republic of Vietnam also deemed it necessary to make its position clear to x friends and foes alike , and to reiterate its right before an universal audience. Thus, a solemn proclamation at the governmental level was issued on February 14, 1974. This declaration is the text reproduced at the beginning as an introduction to this White Paper.

CONCLUSION
UNANIMITY OF THE PEOPLE OF THE REPUBLIC OF VIETNAM AGAINST AGGRESSION

    The events of January 1974 had the effect of cementing the entire Vietnamese nation into a bloc resolutely united in order to defend the national sovereignty. After the invasion by troops of the People’s Republic of China, all newspapers (including those of the Opposition) and other media in Saigon unanimously backed the Government of the Republic of Vietnam in its determination to fight for the Hoang Sa Islands. The media’s opinion and the feeling of the people can be summarized by the following editorial in the Dan Chu daily: ” In the middle of a difficult battle to repulse 400,000 North Vietnamese back to the North and a struggle for economic development, the Paracels battle is another burden on our shoulder. The naval battle between us and China has temporarily ceased with both sides suffering heavy casualties and material damages. But in reality, it was only just a beginning. The method to carry on the fight will be flexible depending on the development of the situation but the goal remains the same. The South Vietnamese will not stay idle, crossing their arms, to see their ancestral inheritance stolen away.” Although the Vietnamese are known to be war-weary, enthusiastic mass rallies were held in virtually every city and town to condemn the PRC’s aggression. Everywhere the people unanimously adopted resolutions denouncing before public opinion the violation of Vietnamese sovereignty. Most of these resolutions also asked the Government and Armed Forces of the Republic of Vietnam to take appropriate measures against the invaders. The warship Ly Thuong Kiet received a hero welcome by an overwhelmingly enthusiastic crowd upon its return from the Hoang Sa battle. On January 21, 1974 the Vietnamese Confederation of Labor stated that Communist China committed a an extremely serious act infringing on the Republic of Vietnam’s sovereignty and crudely challenging the national spirit of the Vietnamese people living from Nam Quan Pass (54) to Ca Mau Cape. , The Saigon Students Union issued a declaration which vehemently denounced the invasion to University students over the world. The War Veterans Association made a solemn proclamation to condemn the – Red China’s violation of intemational law – and expressing deep gratitude to the Vietnamese combatants or their heroic fight against the aggressors. Abroad, Vietnamese students and residents in several countries demonstrated in an attempt to alert world opinion: in Tokyo, Ottawa, New York etc…. Vietnamese students marched against the PRC’s diplomatic mission; in Geneva, Vietnamese students went on a hunger strike to draw attention on the PRC’s violation of international public order. The indignation of the entire Vietnamese people at home and abroad was reflected in a true manner in the declaration of the National Assembly (Senate and House of Representatives) of the Republic of Vietnam. This declaration says, in part, that c Communist China… has clearly demonstrated her scheme of invasion and expansion, (and) poses a serious threat to peace in the Pacific Region. Therefore, the National Assembly denounces to the public opinion at home and abroad Communist China’s brutal act of invasion, seriously infringing upon the territorial sovereignty of the Republic of Vietnam and – urgently appeals to the United Nations Security Council, the International Court of Justice and peace-loving countries in the world to take positive actions to put an end to the above-mentioned brutal act…” The people of the Republic of Vietnam are thus unanimous in their determination to defend the integrity of their territory. On behalf of the Vietnamese nation, the Republic of Vietnam resolutely demands that all portions of her territory that are illegally occupied be restored to Vietnamese sovereignty. The Government of the Republic of Vietnam solemnly condemns the brazen act of invasion of the Hoang Sa Islands by troops of the People’s Republic of China in January, 1974. It strongly denounces illegal actions against its Truong Sa territories by any other country. It rejects all claims by any power over these Islands and regards attempts to occupy them as violations of international law and of Vietnamese sovereignty. Although deeply committed to the cause of peace, the Republic of Vietnam must reserve the right to consider all means of action if occupying powers decline to follow the lawful and peaceful channels of settlement to restore Vietnamese rights.
    The Hoang Sa archipelago and some of the Truong Sa Islands have temporarily been lost. But these insular territories will live for ever in Vietnamese hearts and will some day be restored to the Fatherland.

——————————————————————–

SELECTED BIBLIOGRAPHY

1. GOVERNMENT PUBLICATIONS.
    – State History Academy (Quoc Su Quan). Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien Volumes L, LII, CIV, CLIV and CLXV; printed in 1848.- Ministry of Public Works. Kham Dinh Dai Nam Hoi Dien Su Le, section 204; 1851.- State History Academy. Dai Nam Nhat Thong Chi (6th Volume: Quang Nghia Province); last edition: 1910 original work in Chinese characters, translated into modern Vietnamese by Cao Xuan Duc Saigon 1964.- State History Academy. Quoc Trieu Chinh Bien Toat Yeu, 3rd Volume. Last edition: 1925S; originally in Chinese characters ,translated into modern Vietnamese by the ” History and Geography Research Group ., Saigon 1972.
    – Protectorate of Annam Bulletin Administratif de l’Annam, Hue, Years: 1932 and 1938 through 1945.
    -Ministry of Economy, Republic of Vietnam, Mineral Distribution Map of the Republic of Vietnam; Tectonic Map of the RVN; Preliminary Metallogenic Map of the RVN; Saigon
    – Ministry of Information and Open Arms, RVN. Hoang Sa, Lanh tho VNCH, Saigon 1974.

2. OTHER WORKS PUBLISHED IN VIETNAM.
Books originally in Chinese characters.
    – Do Ba. Toan Tap Thien Nam Tu Chi Lo Do Thu, published circa 1653. Map of Quang Ngai Province and accompanying notes translated by Truong Buu Lam in Hong Duc Ban Do, a publication of the Historical Research Institute, Saigon 1962.
    – Le Qui Don. Phu Bien Tap Luc, 1776; translation into modern Vietnamese by Le Xuan Giao, Saigon 1972.
    – Phan Huy Chu. Lich Trieu Hien Chuong Loai Chi; year of original publication uncertain; translation into modern Vietnamese by Nguyen Tho Duc Saigon 1971
Modern publications
    – Claeys, Jean Yves. ” The Vietnamians and the Sea . in Asia Quarterly of Culture, Volume III. June 1953, Saigon.
    – Dinh Phan Cu Chu Quyen Quan Dao Hoang Sa va Truong Sa, National School of Administration, Saigon 1972.
    – Cucherousset, Henri:
        La Question des iles Paracels . In L’Eveil Economic de l’Indochine, Hanoi issues of January 27, 1929; May 19, 1929; May 26, 1929: February 26, 1933.
        Les iles Paracels et la securite de l’Indochine ., ibid, May 10, 1931. L’lndochine aux Paracels ., ibid., May 31. 1931. Histoire moderne des iles Paracels ., ibid., July 3, 1932 and July 17, 1932.
        A la conquete des iles a phosphates (Spratley) ., ibid., May 28, 1933.
        Les Annamites et la Mer ., ibid., February 25, 1934
    – Lacombe, A.E. “Histoire moderne des iles Paracels., ibid., May 22,1933.
    – Lam Giang. “Nhung su lieu Tay phuong chung minh chu-quyen Viet Narn ve quan dao Hoang Sa, Truong Sa “, in Su Dia review, n° 29, January-March 1975, Saigon.
    – Le Thanh Khe. ‘Chu quyen Viet Nam Cong Hoa tren hai quan dao Truong- Sa va Hoang Sa in the review Chinh Tri va Cong Dan, issue of Jan. 1, 1972′.
    – Malleret, Louis. Une tentative ignoree d’etablissement francais en Indochine au 18e siecle . in Bulletin de la Societe des etudes indochinoises, no. 1, Hanoi, 1942.
    – Pasquier, P. Histoire moderne des iles Paracels . in L’Eveil economique de 1′Indochine, issue of June 12, 1932.
    – Pham Quang Duong. Van de chu quyen tren dao Hoang Sa in Su Dia, Dalat, issue of November 1970; ” Cuoc tranh chap chu quyen tai quan dao Truong Sa , ibid; issue of November 1971.
    – Sale, Gustave. Les iles Paracels . in Avenir du Tonkin, Hanoi, issue of April 17, 1931.
    – Salles, A. Le Memoire sur la Cochinchine de J.B. Chaigneau ., Bulletin des amis du Vieux Hue, Hanoi, isisue of April-June 1923.
    – Tran Dang Dai, Mr. and Mrs. ‘ Hoang Sa qua vai tai lieu van kho cua Hoi Truyen-giao Ba Le in Su Dia issue of January-March 1975.
    – Tu Minh. Cuoc tranh chap chu quyen tren cac quan dao Hoang Sa vi Truong Sa, in Bach Khoa, issue of February 9, 1914
    – Vo Long Te. Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d’histoire et de geographie, Saigon 1974.
Scientific Studies
    – Chevey, Pierre. Temperature et salinite de l’eau de mer de surface des iles Paracels, (43rd Report of the Indochina Oceanographie Institute), Saigon
    – Chevey, Pierre. Iles et recifs de la mer de Chine, in Bulletin de la Societe des Etudes Indochinoises, May 1934.
    – Clerget, Maurice. Contribution a l’etude des iles Paracels Les phosphates.
    – Delacour, J. and Jabouille, P. Oiseaux des iles Paracels, Saigon 1930.
    – Fontaine, Henri and Le Van Hoi. Contribuhon a la connaissance de la ftore des iles Paracels. Faculty of Sciences, Saigon 1957.
    – Krempf, A. La forme des recifs coralliens et le regime des vents alternants Saigon 1921,
    – Kunst, J. Die strittigen Inseln in Südchinesischen Meer, in Zeitschrift für Geopolitik, Berlin / Heidelberg, 1933.
    – Saurin. E. ” Notes sur les iles Paracels . in Archives geologiques du Vietnam, Saigon 1955; ” Faune malacologique des iles Paracels . in Journal de Conchiliologie, volume XCVIII, Paris 1958; Gasteropodes marins des iles Paracels, Faculty of Science, Saigon 1960 (I), l961 (II); Lamellibranches des iles Paracels, Saigon 1962,

3. FOREIGN PUBLICATIONS
    – Barrow, John. A Voyage to Cochinchina, London 1806.
    – Boudet. Paul and Masson, Andre. Iconoraphie historique de L’lndochine francaise, Paris 1907.
    – D’Estaing (Admiral). Note su- l’Asie demandee par M. de la Borde a M. d’Estaing, manuscript (1768), archives of the French Government.
    – Government of the French Republic. Journai Officiel, July 26, 1933, Ministere de la Marine: Depot des cartes et plans. Les Paracels, Paris.
    – Manguin, Pierre Yves. Les Portugais sur les cotes du Vietnam et du Campa PEFEO, Paris 1972.
    – Rousseau, Charles. Le differend concernsnt rappartenance des lles Spratly et Paracels, in Revue generale de Droit international public, July-September, 1972, p. 826, Paris
    – Saix, Olivier. · Iles Paracels, in La Geographie, issue of November-December 1933, Paris.
    – Sauvaire, Jourdan. ” Les Paracels infiniment petits de notre domaine colonial, in La Nature, issue of November 1, 1933, Paris.
    – Serene, R. ” Petite histoire des iles Paracels,· in Sud Est Asiatique, issue January 19, l9S1, Brussels.
    – Silvestre, Jules. L’Empire d’Annam et le peuple annamite, Paris 1889
    – Taberd, Jean Louis. ” Note on the Geography of Cochinchina, in Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, India, issue of April 1837.
    – United Nations. ECAFE. Phosphate Resources of Mekong Basin Countries, Bangkok 1972.
    – United States Government. The Spratly / Paracels Islands Dispute, U.S. Army Analysis Q1066; Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace with Japan, Dept. of State Publication 4392; Washington D.C.- Vivielle, J. ” Les llots des mers de Chine, in Monde colonial iZZustre, September 1933, Paris.

——————————————————————–

Notes:
We are sorry! Due to the printing difficulties, we can not complete the auditing this paper.
    1. The Atlas is being kept at the ” Ecole Francaise d’Extreme Orient”, Tokyo Bunko Library in Tokyo, Japan, has a microfilm of it under reference number 100891.
    2. Ly is an ancient unit of measure (1 ly: 483 meters or 528 yards).
    3. Dai Chiem: present-day Cua Dai, province of Quang Nam; Sa Vinh: present-day Sa Huynh, province of Quang Ngai.
    4. The author assumedly included in three Hoang Sa archipelagoes main islands and reefs closer to the Vietnamese shore than the islands desigated as the Paracels in the 20th century…
    5. Internationally-known Vietnamese historians have, directly or indirectly, contributed to the task of determining the date of the Do Ba document. Among them are Prof. Hoang Xuan Han and historian Truong Buu Lam, who has been associated with many American universities. Details on this question can be found in Vo Long Te, Les Archipels de Hoang Sa et Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Geographie. – Saigon. 1974.
    6. Summarized and commented in Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extreme Orient, Vol. XXXVI, 1936.
    7. This term is often used to designate all the distant insular posseessions of Vietnam.
    8. Lettres edifiantes et curieuses des Missionnaires de Chine, quoted in the Revue Indochine, No. 46, p. 7.
    9. The document was reprinted in Bulletin des etudes indochinoises, tome XVII, No. l Hanoi, 1942.
    10.  Archives of the French Navy, Ministere de la Marine, Paris. The document was reprinted in Bulletin de la Societe des Etudes indochinoises, tome XVIII, No. 1, Hanoi, 1942.
    11. Translation into French from Arrow’s book is available in Paul Boudet and Andre Masson. Iconographie historique de l’Indochine Francaise, p. 250-300. Paris, editions G. Van Oest. 1907.
    12. Issue of April 1837. pp. 737-745.
    13. Jean Baptiste Chaigneau, Notice sur la Cochinchine, presented and commented by A. Salles in Bulletin des amis du Vieux Hue, No. 2, April – June 1923, p. 253-283.
    14. History annals called – Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 1833, 104th Volume).
    15. Principle of international law established after the Palmas Island dispute (1928). See United Nations – Reports of International Arbitral Awards, pp. 829-855.
    16. History annals Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien
    17. History annals Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 165th volume.
    18. In Vietnamese: – Dai Nam Nhat Thong Toan Do – Dai Nam is a former name for Vietnam.
    19. Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 154th Volume. The same description is given by the Dai Nam Nhat Thong Chi (Dai Nam Comprehensive Encyclopedia). 6th Volume devoted to Quang Nghia, present day Quang Nam, Province.
    20. Truong, xich, thuoc are ancient units of measure (1 truong: 3.91 yards or 3.51 meters ; I xich or thuoc : 14.1 inches or 0.36 m.).
    21. This isle is erroneously named Ban-Na in other publications, for example Sauvaire Jourdan “Les Paracels infiniment petits de notre domaine colonial.
    22. Annals Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 154th Volume.
    23. Kham Dinh Dai Nam Hoi Dien Su Le, or Administrative records of the Dai Nam, Ministry of Public Works, p. 25.
    24. History Annals Su Quoc trieu chanh bien toat yeu; Year of original publication unknown. Reprinted in 1935.
    25. Map named Tabula Geographica Imperii Annamitici 1838, reprinted in J. Silvestre, I’Empire d’Annam et le peuple annamite, Paris 1889., Felix Alean, editeur
    26. E. Cortambert and L. de Rosny, Tableau de la Cochinchine, Paris 1862.-Armand.
    27. Sauvaire Jourdan “Les Paracels infiniment petite de notre domains colonial” in La Nature, issue of November 1, 1933, Paris.
    28. Reported by the French Daily…
    29. The French engineer who supervised the work, Mr. Andre Faucheux, is presently 75 years old and lives in Paris.
    30.     …
    31. Memorandum No. l104 VP/CT/M dated October 30, 1950.
    32. Memorandum No. 1220-VP/CT/M dated September 17, 1951 and signed by the Director of Political and Legal Affairs, Government Delegation to Central Vietnam
    33. Decree No. 174-NV dated July 13, 1961.
    34. Decree No. 709-BNV/HCDP/26 dated October 21, 1969 signed by Mr. Tran Thien Khiem.
    35.     …
    36. The coordinates correspond to those of S6ng Tu D6ng (North East Cay) and Shira Island.
    37.     …
    38. It may be noted that the principles established by the intemational Court of Justice in the Palmas decision (1928) cannot but reinforce Vietnamese rights, for instance, the emphasis given to the actual exercise of sovereignty over mere geographic contiguity (see Reports of International Arbitral Awards, United Nations. p. 829).
    39. The lack of seriousness in this undertaking does not deserve further comments. Mr. Tomas Cloma was reported arrested by the Philippine police in November 1974 on charge of committing acts detrimental to state authority on insular territories.
    40. For instance, a comprehensive study of the Spratlys question by Professor Charles Rousseau in Revue Generale de Droit International Public, July-September 1972, does not mention any sort of Chinese claims to this archipelago prior to 1951.
    41. New China; bulletin dated February 4, 1974.
    42. Far-Eastern Economic Review, HongKong, Dec 21, 1973
    43. Mr. Tran Van Manh is presently the Chief of Tuy Hoa Meteorological Service, Republic of Vietnam.
    44. Decree No. 143-NV signed on October 22, 1956 by the laie President Ngo Dinh Diem.
    45. Arrete No. 420-BNV/HCDP/25X signed on September 6, 1973 by the Minister of the Interior.
    46. Rapport sur le fonctionnement de l’Institut Oceanographique de l’Indochine, 22, Note, Saigon 1934.
    47. Reported by Prof. Charles Rousseau in Revue General de Droit International Public July-September 1972, p.830.
    48. Vietnam Press
    49. Conference for the Conclusion and Signature of the Peace Treaty with Japan – Record of Proceedings : U.S. Dept. of State Publication 4392, December 1951. page 292.
    50. Agence France Presse news dispatch sent from Moscow, February 10, 1974.
    51. Reuter news dispatch from Moscow, February 21, 1974.
    52. Article 7 (a) : In the event of a violation of the Agreement or the Protocols which threaten the peace, the independence, sovereignty, unity or territorial integrity of Vietnam, or the right of the South Vietnamese people to self-determination, the parties signatory to the Agreement and the protocols shall, either individually or jointly, consult with the other Parties to this Act with a view of determining necessary remedial measures.
    53. As presented in Chapter III. on February 4, 1974 the PRC issued a particularly aggressive statement on the Truong Sa archipelago.
    54. The Nam Quan pass marks the border between Vietnam and China. 
 

http://www.hqvnch.net/default.asp?id=404&lstid=178

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Tài liệu | Leave a Comment »