TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

Archive for the ‘Hoàng Sa Trường Sa’ Category

Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam (Ngô Nhân Dụng)

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

“… Nước mắt, máu và mồ hôi của người Việt Nam đã thấm trên các hòn đảo này từ nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể để mất các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...”
Viện Viễn Ðông Bác Cổ của Pháp mới thực hiện một đĩa CD-Rom chụp hình toàn bộ các số Tập san Sử Ðịa, một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1969 đến năm 1975. Ðĩa này ra đời với sự hợp tác của Tòa Ðại Sứ Pháp ở Hà Nội và Hội Sử Học Việt Nam. Số sau cùng của Tập san Sử Ðịa đề ngày 1 tháng 3 năm 1975 gồm những bài nghiên cứu đặc biệt về Hoàng Sa và Trường Sa. Ðây là một nỗ lực của tư nhân ở miền Nam Việt Nam, của các sinh viên và giáo sư môn Sử; cho thấy trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa một xã hội công dân năng động đã thành hình. Khi được tự do, người dân tự động làm những việc công ích không chờ đợi guồng máy chính quyền cho phép.

Người chủ trương tạp chí này từ lúc là sinh viên mới ra trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, Tiến sĩ Nguyễn Nhã kể lại ông nảy ra ý định làm một số báo đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa một năm trước đó. Trong lúc ông Nhã và các bạn đồng môn đến chúc Tết thầy đầu năm 1974, Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục, thì nghe tin radio loan báo quân Trung Cộng đã tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa và chiếm một hòn đảo quan trọng trong quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến này đã được nhiều cựu chiến sĩ Cộng Hòa thuật lại, quân ta thua vì cô thế nhưng đã để lại những tấm gương dũng cảm đáng nhớ muôn đời. (Quý vị độc giả có thể tìm đọc các bài của các tác giả Vũ Hữu San, Trần Ðỗ Cẩm, và Hà Văn Ngạc về trận hải chiến Hoàng Sa, trên mạng lưới).

Thác Bản Giốc là của Việt Nam

Trong Tập san Sử Ðịa số 29 kể trên, các học giả đã nêu lên rất nhiều bằng chứng cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa là những quần đảo thuộc chủ quyền của nước Việt Nam từ lâu đời. Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa trong thời chiến tranh Việt Nam, sau đó lại tiếp tục chiếm nhiều đảo trong vùng Trường Sa. Những hành động có tính cách hung hăng, ngạo mạn, khinh thường luật pháp quốc tế của Trung Cộng là họ đã phát triển các phi trường, các khu du lịch ở Hoàng Sa. Và gần đây nhất, Trung Cộng cho Hạm Ðội Nam Hải tập trận ở vùng biển Hoàng Sa. Ðồng thời Bắc Kinh lập ra một huyện mới thuộc tỉnh Hải Nam, lấy tên là Tam Sa, trong đó có hai vùng của nước ta là Hoàng Sa (Trung Cộng gọi là quần đảo Tây Sa) và Trường Sa (họ gọi là quần đảo Nam Sa) cùng với quần đảo Trung Sa ở gần Phi Luật Tân.

Người Việt Nam không thể nhắm mắt trước những hành động có tính cách xâm lược rõ rệt này. Chúng ta đã mất Ải Nam Quan, mất thác Bản Giốc và nhiều vùng đất biên giới trên đất liền sau khi bị quân Trung Cộng chiếm từ năm 1979, nay lại tình trạng mất thêm các vùng quần đảo lại được Trung Quốc chính thức hóa trước con mắt thế giới. Trước nỗi phẫn nộ của đồng bào trong nước, nhất là giới thanh niên, chính quyền Hà Nội cũng phải lên tiếng phản đối.

Nhưng giọng nói của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội rất dè dặt. Cộng Sản Việt Nam gửi thư cho “Quốc Vụ Viện” Trung Quốc nhưng không dám phản đối thẳng chính phủ và đảng Cộng Sản Trung Quốc mà lại nhấn mạnh rằng hai hành động tập trận và lập huyện Nam Sa là “không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước.” Ý nói, đây chỉ là hành động sai lầm của cấp dưới! Nhưng “nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao” như thế nào? Cộng Sản Việt Nam khó nói ra, vì bất cứ lúc nào Trung Cộng cũng có thể trưng ra bằng cớ là giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã từng đồng ý hoàn toàn với chính sách của Trung Quốc! Nghĩa là, nếu căn cứ vào “nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước” thì Trung Cộng có thể nói rằng nhận thức chung đó là “Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ý với các quyết định về hải phận của Trung Quốc.” Ðiều này đã được ghi trên giấy trắng mực đen.

Hữn Nghị Quan (Ải Nam Quan) phải nằm
ở địa đầu Việt Nam

Từ năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã công bố lập trường là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng Tám năm đó, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã được gửi ra trấn giữ Hoàng Sa, nơi có đài khí tượng của Việt Nam được thiết lập từ thời Pháp thuộc vẫn được duy trì thường xuyên. Năm 1957, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã được gửi tới đóng trên nhiều hòn đảo trong vùng Trường Sa. Trong thời gian mấy năm đó, các nước trong vùng đều tuyên bố xác nhận chủ quyền trên hải phận những hòn đảo trong hai vùng này, trong đó có chính quyền Trung Cộng và chính phủ Trung Hoa Quốc Gia ở Ðài Loan.

Trong hoàn cảnh tranh chấp đó, Cộng Sản Việt Nam đã đứng về phía Trung Cộng. Một lá thư do Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 viết: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung Quốc.” Lá thư do một ông thủ tướng ký, nhưng gọi Tổng Lý (tức thủ tướng) Chu Ân Lai là “Ðồng Chí Tổng Lý.” Hai chữ đồng chí nêu lên mối liên quan ý thức hệ giữa hai đảng Cộng Sản, trong mặt trận vô sản quốc tế chống tư bản.

Với bản văn trên, ông Phạm Văn Ðồng đã ký giấy nhường tất cả vùng biển chung quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng ông Phạm Văn Ðồng không phải là người quyết định, chính sách của Cộng Sản Việt Nam lúc đó là do Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Bộ Chính Trị quyết định. Cho nên Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về lá thư này. Ðiều nguy hiểm nhất trong lá thư này là ông Phạm Văn Ðồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó nghĩ tới quyền lợi tổ quốc thì họ phải xác định rõ hơn, nói rõ họ đồng ý những điểm nào và không đồng ý với điểm nào, trong bản tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh.

Công hàm của Thủ tướng Bắc Việt gửi Tổng lý Trung Quốc
ngày 14/9/1958, ngầm công nhận chủ quyền TQ tại Hoàng Sa!

Trong bất cứ cuộc tranh chấp lãnh thổ và hải phận nào, một quốc gia bị xâm phạm có thể dùng quân đội chiếm lại những vùng đã bị nước khác chiếm đóng. Nhưng khi biết mình thế yếu, thì quốc gia bị thiệt thòi phải thưa kiện nước xâm lăng trước tòa án quốc tế. Trước tòa án, chúng ta phải dẫn chứng những bằng cớ trong lịch sử cho thấy vùng đất và vùng biển đã từng thuộc nước mình từ nhiều thế kỷ. Về mặt này thì Việt Nam có rất nhiều bằng cớ vững chắc, bắt đầu với những tài liệu ghi trong Tập san Sử Ðịa năm 1975. Lê Quý Ðôn từ thế kỷ 18 đã xác nhận Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Các nhà nghiên cứu Việt Nam sau này còn tìm ra nhiều bằng cớ khác. Tại thư viện Anh Quốc còn giữ những bản đồ của người Trung Quốc từ đời Thanh, công nhận các quần đảo Ðại Trường Sa và Tiểu Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam. Một giáo sư sử học khác đã tìm thấy ở văn khố nước Úc những tài liệu sách lịch sử địa lý của Trung Quốc chứng tỏ họ chỉ mới nói đến các quần đảo này từ đầu thế kỷ 20. Các ông Nguyễn Nhã và Dương Trung Quốc đã tìm đến đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) chiêm ngưỡng đền thờ những người “Lính Hoàng Sa” được lập ra từ thế kỷ 19. Nơi đây, những người lính Việt Nam được “tế sống” trước khi lên đường ra biển tới Hoàng Sa, vì biết chắc không có ngày về. Trên hòn đảo này còn đền thờ họ Phạm, thờ vị tổ Phạm Quang Ảnh, đội trưởng Ðội Hoàng Sa dưới thời vua Gia Long, năm 1815. Ðền thờ có câu đối: “Trung can huyền nhật nguyệt – Nghĩa khí quán càn khôn!”

Nước mắt, máu và mồ hôi của người Việt Nam đã thấm trên các hòn đảo này từ nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể để mất các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dù không đủ quân lực đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi phần đất do tổ tiên để lại, nước Việt Nam phải nêu vấn đề này trên công luận bằng cách kiện chính quyền Trung Cộng ra trước Tòa Án Quốc Tế.

Nếu muốn các bằng cớ của nước ta vững chắc trước dư luận quốc tế, chính phủ Hà Nội phải chính thức gửi một lá thư khác phủ nhận lá thư do ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai ngày 14 tháng 9 năm 1958. Nếu không thì khi ra trước dư luận cũng như trước tòa án quốc tế, Cộng Sản Trung Quốc có thể trưng bằng cớ là Cộng Sản Việt Nam đã tán thành các “quyết định về hải phận Trung Quốc” từ nửa thế kỷ nay rồi! Không thể nói chung chung về “nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp” để che lấp những lỗi lầm quá khứ và sự hèn nhát bây giờ mãi được. Nếu đảng Cộng Sản không can đảm rút lại lá thư đó, thì người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước phải lên tiếng phủ nhận. Người Việt Nam phải tự động gây nên phong trào này, các công dân có quyền và có bổn phận làm những việc công ích, không chờ đợi guồng máy chính quyền mớm lời cho phép. Giống như các sinh viên và giáo sư sử học ở miền Nam đã làm khi xuất bản Tập san Sử Ðịa mà Giáo Sư Phan Huy Lê ca ngợi là “tính khoa học và tính dân tộc là đặc điểm bao trùm tập san.”

Ngô Nhân Dụng
Nguồn: Người Việt, ngày 07/12/2007

————————————————————————————

Re: Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam (Ngô Nhân Dụng)

“Ðiều nguy hiểm nhất trong lá thư này là ông Phạm Văn Ðồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó nghĩ tới quyền lợi tổ quốc thì họ phải xác định rõ hơn, nói rõ họ đồng ý những điểm nào và không đồng ý với điểm nào, trong bản tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh.” (trích lời tác giả Ngô Nhân Dụng)

Tôi xin mạo muội không đồng ý với ông Ngô Nhân Dụng về đoạn trích dẫn trên đây rằng trong công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi ông Chu ân Lai ngày 14/9/1958 ông Đồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó.
Sự thật là theo các báo chí quốc tế đã tường trình (và chưa hề nghe đảng CSVN hoặc chính phủ nước CHXHCN Việt Nam phản đối) thì những “quyết định về hải phận Trung Quốc” ngày 4/9/1958 là rất rõ ràng, có kèm theo bản đồ 9 gạch, còn gọi là bản đồ “Lưỡi Rồng Trung Quốc” đã được gửi cho chính phủ VNDCCH của ông Hồ để yêu cầu phía VN cho biết ý kiến. Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tức là 10 ngày sau) đã trả lời cho quyết định của Trung Quốc về hải phận của họ rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thừa nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Quốc về lãnh hải ngày 4/9/1958”.
Thí dụ như trong bài “Paracels Islands Dispute” đăng trên Báo Kinh Tế Viễn Đông, Far Eastern Economic Review, ngày 10/03/1994, tác giả Frank Ching đã viết như sau:
“On September 4, 1958, the Chinese Government proclaimed the breadth of its territorial sea to be twelve nautical miles which applied to to all territories of the PRC, “including … the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands…” Ten days later, Pham Van Dong stated in his note to Zhou Enlai that “the Government of the Democratic Republic of Vietnam recognizes and supports the declaration of the Government of the People’s Republic of China on China’s territorial sea made on September 4, 1958.””
[Xin dịch như sau : Vào ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố về bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý và áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của CHND Trung Quốc, “kể cả…quần đảo Dongsha, quần đảo Xisha (tức Hoàng Sa), quần đảo Zhungsha, quần đảo Nansha (tức Trường Sa),…”. Mười ngày sau, Phạm Văn Đồng, trong một công hàm gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai, viết rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thừa nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Quốc về lãnh hải ngày 4/9/1958”].
Như thế rõ ràng là chính phủ VNDCCH của ông Hồ đã thừa nhận với Trung Quốc rằng cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa (và toàn bộ khu Biển Đông trên Bản Đồ Lưỡi Rồng do TQ ấn hành năm 1958 và tái bản mấy lần sau đó) đều thuộc lãnh thổ TQ. Đó là lý do tại sao TQ luôn luôn khẳng định là tất cả mọi hoạt động của TQ (như tuyên bố thành lập cơ quan hành chính cấp thành phố, thao dượt quân sự, tổ chức các tour du lịch, thăm dò khai thác kinh tế, v.v…) trên Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn không ra khỏi phạm vi lãnh thổ của chúng tôi”.
Theo tôi, cách tốt nhất đứng về khía cạnh công pháp quốc tế để vô hiệu hóa khẳng định của TQ rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về TQ, là chính phủ nước CHXHCN Việt Nam công khai tuyên bố với toàn thế giới phủ nhận giá trị pháp lý của công hàm 1958 của PVĐ với lý do rằng nước VNDCCH hoàn toàn không có chủ quyền pháp lý trên phần lãnh thổ và lãnh hải VN từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, do đó công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng PVĐ gửi TQ “tán thành” với TQ về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn vô giá trị, vì chủ quyền pháp lý vào lúc đó trên các quần đảo này thuộc về nước VHCH sau khi VN bị chia đôi thành hai nước theo sau Hiệp định Genève năm 1954. Thực tế là như vậy. Và số nước trên thế giới công nhận tư cách pháp lý của VNCH đông gấp hai số nước công nhận VNDCCH. Đây cũng chính là ý kiến đã được nữ giáo sư luật người Pháp là Monique Chevalier nêu ra khi bênh vực cho chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa và bác bỏ hoàn toàn các lý lẽ của TQ về chủ quyền của họ trên hai quần đảo này.

Trân kính,
Trúc Lê
(TLuan)

 

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới | Leave a Comment »

White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Republic of Vietnam
Ministry of Foreign Affairs  
Saigon, 1975

CHAPTER I

Foreword
    The Vietnamese archipelagoes of Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) are both situated in the South China Sea off the Republic of Vietnam’s shore. Their very modest size by no means lesser the importance given them by the Vietnamese: to Vietnamese hearts, these remote insular territories are as dear as could be any other part of the fatherland. The Hoang Sa Islands to the North were occupied by force of arms by the People’s Republic of China on January 20, 1974, following a brazen act of invasion which left the world extremely indignant. As for the Truong Sa Islands 500 km to the South, two other foreign powers are illegally stationing troops on four of the main islands in the archipelago.
    The Government of the Republic of Vietnam and the Vietnamese people, determined to defend their sovereignty and the territorial integrity of the country, solemnly denounce the occupation of these Vietnamese territories by foreign troops. Regarding the Hoang Sa (Paracel) Islands, not only was the gross violation of Vietnamese sovereignty by the People’s Republic of China a defiance of the law of nations and the Charter of the United Nations: in-as-much as this involved the use of force by a world power against a small country in Asia, it also constitutes a threat to peace and stability in South East Asia In the case of the Truong Sa (Spratly) Islands, although foreign occupation was not preceded by bloodshed, it nevertheless represents a grave violation of the territorial integrity of the Republic of Vietnam. The rights of the Vietnamese people over those islands have been as firmly established there as on the Hoang Sa archipelago.
    The Republic of Vietnam fulfils all the conditions required by international law to assert its claim to possession of these islands. Throughout the course of history, the Vietnamese had already accomplished the gradual consolidation of their rights on the Hoang Sa Islands. By the early 19th century, a systematic policy of effective occupation was implemented by Vietnamese emperors The Truong Sa Islands, known to and exploited by Vietnamese fishermen and laborers for many centuries, were formally incorporated into Vietnamese territory by France on behalf of Vietnam. On both archipelagoes, Vietnamese civil servants assured a peaceful and effective exercise of Vietnamese jurisdiction. The continuous display of state authority was coupled with the constant Vietnamese will to remain the owner of a legitimate title over those islands. Thus military defense of the archipelagoes and diplomatic activities were put forth in the face of false claims from other countries in the area. Vietnamese rights being indisputable, the People’s Republic of China chose to resort to military force in order to assert her sudden claims to the Hoang Sa (Paracel) Islands. Two other foreign powers took advantage of the war situation in Vietnam to militarily occupy some of the Truong Sa (Spratly) Islands over which they have no legal rights. Since both the Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes are situated below the 17th parallel, this is primarily a matter of concern for the Republic of Vietnam.
    This White Paper is designed to demonstrate the validity of the claims made by the Republic of Vietnam. It is also an appeal for justice to the conscience of all law-abiding and peace-loving nations in the world.

Proclamation by the Government of the Republic of Vietnam (1974)
    The noblest and most imperative task of a Government is to defend the sovereignty, independence and territorial integrity of the Nation. The Government of the Republic of Vietnam is determined to carry out this task, regardless of difficulties it may encounter and regardless of unfounded objections wherever they may come from.
    In the face of the illegal military occupation by Communist China of the Paracels Archipelago which is an integral part of the Republic of Vietnam, the Government of the Republic of Vietnam deems it necessary to solemnly declare before world opinion, to friends and foes alike, that :
    The Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagoes are an indivisible part of the territory of the Republic of Vietnam. The Government and People of the Republic of Vietnam shall not yield to force and renounce all or part of their sovereignty over those archipelagoes.
    As long as one single island of that part of the territory of the Republic of Vietnam is forcibly occupied by another country, the Government and People of the Republic will continue their struggle to recover their legitimate rights.
    The illegal occupant will have to bear all responsibility for any tension arising therefrom.
    On this occasion, the Government of the Republic of Vietnam also solemnly reaffirms the sovereignty of the Republic of Vietnam over the islands off the shores of Central and South Vietnam, which have been consistently accepted as a part of the territory of the Republic of Vietnam on the basis of undeniable geographic, historical and legal evidence and on account of realities.
    The Government of the Republic of Vietnam is determined to defend the sovereignty of the Nation over those islands by all and every means.
    In keeping with its traditionally peaceful policy, the Government of the Republic of Vietnam is disposed to solve, through negotiations, international disputes which may arise over those islands, but this does not mean that it shall renounce its sovereignty over any part of its national territory.

(Proclamation by the Government of the Republic of Vietnam dated February 14, 1974)

The Early Historical Rights of Vietnam
    The Vietnamese have had knowledge of the Hoang Sa Islands long before the arrival to the South China Sea of Westerners who publicized internationally the name of “Paracels” for this part of their territory. It has been scientifically determined that the Vietnamese presence on this archipelago started in the 15th century. The systematic exploitation of the islands’ resources started early and gradually developed Vietnamese interest in these territories, leading in the 18th century to official state decision such as the formation of the Hoang Sa Company to ensure a rational exploitation of those islands. As evidenced by reliable Vietnamese and foreign sources, Vietnam progressively asserted her rights and the Hoang Sa archipelago was formally taken possession of the Vietnamese authorities in the year 1816.

Geographic position.
    The Hoang Sa Archipelago is a string of islets off the Vietnamese coast between 111 and 113 degrees longitude East of Greenwich, and between 15045′ and 17015′ North latitude. The nearest island in the archipelago is roughly at equal distance from the coast of Vietnam and the southern shore of Hainan Island in China. Using Pattle Island (dao Hoang Sa), the largest of the group, as a point of reference, the distances are as follows:
            Pattle to the Vietnamese harbor of Danang: 200 nautical miles.
            Pattle to the closest shore on Hainan: 150 nautical miles.
            Pattle to the closest shore in the Philippines: 450 nautical miles.
            Pattle to the closest shore in Taiwan: 620 nautical miles.
    The Hoang Sa Islands are divided into two groups: to the East lies the Tuyen Duc (or Amphitrite) Group and to the West lies the Nguyet Thiem (or Crescent) Group. The main islands are:
            Tuyen Duc Group:
                Dao Bac-North Island
                Dao Trung – Middle Island
                Dao Nam – South Island
                Phu Lam-Wooded Island (French: Ile Boisee)
                Hon Da – Rocky Island
                Dao Linh Con -Lincoln Island
                Dao Cu Moc-Tree Island
                Con Nam – South Bank
            Nguyet Thiem Group:
                Dao Hoang Sa – Pattle Island
                Dao Cam Tuyen – Robert Island
                Dao Vinh Lac- Money Island
                Dao Quang Hoa – Duncan Island
                Dao Duy Mong – Drummond Island
                Dao Bach Qui – Passu Keah Island
                Dao Tri Ton – Triton Island.
    Apart from Pattle, the only other large island is Phu Lam or Wooded Island in the Amphitrite Group. The total surface area of the isles in both Groups barely exceeds 10 square kilometers or about 5 square miles. Most Islets were originally coral reefs and have the appearance of bare sand-banks, except for Wooded Island and Pattle Island, which is known for its coconut trees. The islands are surrounded by rings of reefs which make the approach by vessels very dangerous. An abundance of tortoises, sea slugs and other marine creatures are found there. Rich beds of phosphate have been produced by the interaction of the sea birds’ guano with tropical rains and the coral limestone. The climate on the archipelago is marked by constant humidity and little variation in mean temperatures. In economic terms, the Hoang Sa Islands have been frequented long ago by Vietnamese fishermen and in recent times have attracted many companies exploiting phosphate .

First Vietnamese document on the Hoang Sa Islands.
    Evidence showing Vietnamese sovereignty over the Hoang Sa Islands extends back over three hundred years. The oldest Vietnamese document on this part of the national heritage is the work done sometime between 1630 and 1653 by a scholar named Do Ba and also known under the penname of Dao Phu. It is a series of maps of Viet Nam which constitutes the third part of the “Hong Duc Atlas” (1): the Atlas started under the reign of Emperor Le Thanh Tong alias Hong Duc (1460-1497). Notes accompanying the maps clearly indicate that as far back as the early 17th century, Vietnamese authorities had been sending, on a regular basis, ships and men to these islands, which at that time were named ” Cat Vang ” (both ” Cat Vang” and “Hoang Sa” mean ” yellow sand “). These are the islands now known internationally by the name ” Paracels “.
    The following is the translation of Do Ba’s remarks:
          “At the village of Kim Ho, on both banks of the river, stand two mountains each containing a gold deposit exploited under government control. On the high sea, a 400-ly long and 200-ly large archipelago (2) called ” Bai Cat Vang ” (Yellow sand banks) emerges from the deep sea facing the coastline between the harbor of Dai Chiem and the harbor of Sa Vinh (3). During the South-West monsoon season, commercial ships from various countries sailing near the coasts often wreck on the insular territories. The same thing happens during the North-East monsoon season to those ships sailing on the high sea. All the people on board wrecked ships in this area would starve. Various kinds of wrecked cargoes are amassed on these islands. Each year during the last month of winter, the Nguyen rulers send to the islands an 18-junk flotilla in order to salvage them. They obtain big quantities of gold, silver, coins, rifles and ammunitions. From the harbor of Dai Chiem the archipelago is reached after a journey of one-and-a-half day, while one day suffices if one embarks from Sa Ky. (4) “
    Although geographical descriptions of former times are not as precise as they are now, it is clear from the above that the ” yellow sand” or Hoang Sa Islands have been part of the economic heritage of the Empire of Vietnam at least before 1653, the latest year when Do Ba could have completed his map drawing. Moreover, an eminent Vietnamese historian and scholar, Vo Long Te, has been able to determine that. taking into account other factors in the Do Ba’s text (e.g. historical references and linguistic style), the salvage expeditions described therein actually started in the 15th century (5).

First evidence from foreign sources.
    Vietnamese scholars are not the only people to record that Vietnam, formerly known as the ‘empire of Annam’, had early displayed state authority over the Hoang Sa Islands. Actually, foreign sources have been even more accurate in regard to the dates concerning Vietnamese sovereignty. As presented above, on the basis of the Do Ba document, economic exploitation of the Hoang Sa Islands by Vietnamese started, at least, before 1653. However as early as 1634, the Journal of Batavia. Published by the Dutch East Indies Company, recorded incidents showing that Vietnamese jurisdiction was then already recognized by citizens of other countries.
    According to the Journal of Batavia published in 1634-1636, (6) on July 20, 1634, three Dutch ships named Veenhuizen, Schagen (7) and Grootebroek left Touron (present-day Da Nang) on their way to Formosa, after having come from Batavia (present-day Djakarta). On the 21st, the three ships were caught in a tempest and lost contact with one another. The Veenhuizen arrived in Formosa on August 2 and the Schagen. on August 10. But the Grootebroek capsized near the Paracel Islands, north of the 17th Parallel. Of the cargo estimated at 153,690 florins, only 82,995 florin-worth of goods severe recovered by the surviving crew; the rest went down to the bottom of the sea. Of the ship’s company nine men were also missing.
    After he had taken every disposition to have the remains of the cargo safely stored on the islands, under the guard of 50 sailors, the captain of the Grootebroek took to sea with another 12 sailors and headed toward the Vietnamese coast to seek help in the realm of the Nguyen Lords. However, when the group reached the mainland, they were taken prisoners by fishermen and their money was confiscated. This led to a dispute with the Vietnamese authorities. The dispute resulted in further visits by Dutch ships to the Vietnamese Court (and ultimately, to the granting of free trade rights to Dutchmen and the establishment of the first Dutch factory in Vietnam, headed by Abraham Duijcker). For our purposes here, however, the significant fact was that, when the Grootebroek sank, the sailors chose to go to Vietnam instead of China, although China was nearer. This is undoubtedly because they assumed the country exercising jurisdiction over the site of the wreckage would naturally provide rescue and be more responsive to their claims.

Testimony by Vietnamese historian Le Qui Don.
    Other references to the early historical rights of Vietnam over the Hoang Sa Islands (called ” Pracels” in the Journal of Batavia account) are made by the Encyclopedist Le Qui Don (1726-1784) in his history work Phu Bien Tap Luc (Miscellaneous Records on the Pacification of the Frontiers). Le Qui Don was a mandarin sent to the South by the Court in order to serve as administrator in the realm recently taken over by the Court from the Nguyen Lords (hence the appellation of “Frontier Provinces” for these lands in the title of the book).
    In his work, Le Qui Don recorded many of the things he saw or heard while on duty in the southern realm. As a consequence, there were several references to the islands belonging to the Nguyen realm. The most extensive and precise reference to the Paracel Islands occurs on pages where it is said:
    ” The village of An Vinh, Binh Son District, Quang Ngai Prefecture, is close by thc sea. To the northeast (of the village) there are many islands and miscellaneous rockheads jutting out of the sea, totaling 130 altogether. From the rockheads out to the islands, it sometimes takes a day (by sea) or at least a few watches. On top of the rocks there sometimes are freshwater springs. Linking the islands is a vast strip of yellow sand of over 30 ly in length, a flat and vast expanse where the water is clear and can be seen through to the bottom.”
    On a following page, the fauna and flora of the Paracels are described in detail, thus allowing one to compare them with later scientific descriptions made in the twentieth century: sea-swallows and their valuable nests (among the thousands of varieties of birds found on the islands), giant conches called “elephant-ear conches “, mother-of-pearls, giant tortoises and smaller varieties of turtles, sea urchins, and so forth.
    Regarding the usefulness of these islands and their exploitation, Le Qui Don has this to say: “When they encounter strong winds, large sea-going ships usually take shelter in these islands ,”.
    “In the past, the Nguyen had created a Hoang Sa Company of 70 men, made up of people from An Vinh village. Every year they take turns in going out to the sea, setting out during the first month of the lunar calendar in order to receive instructions regarding their mission. Each man in the company is given six months worth of dry food. They row in five fishing boats and it takes them three days before they reach the islands. They are free to collect anything they want, to catch the birds as they see fit and to fish for food. They (sometimes) find the wreckage of ships which yield such things as bronze swords and copper horses, silver decorations and money, silver rings and other copper products, tin ingots and lead, guns and ivory, golden bee-hive tallow, felt blankets, pottery and so forth. They also collect turtle shells, sea urchins and striped conches in huge quantities.
    “This Hoang Sa Company does not come home until the eighth month of the year. They go to Phu Xuan (present-day Hue) to turn in the goods they have collected in order to have them weighed and verified, then get an assessment before they can proceed to sell their striped conches, sea turtles and urchins. Only then is the Company issued a certificate with which they can go home. These annual collections sometimes can be very fruitful and at other times more disappointing, it depends on the year. It sometimes happens that the company can go out and return empty-handed.
    “I (Le Qui Don) have had the opportunity to check the records of the former Count of Thuyen Duc and found the following results:
            ” In the year of Nham Ngo (1702), the Hoang Sa Company collected 30 silver ingots.
            ” In the year of Giap Than (1704), 5,l00 catties of tin were brought in.
            ” In the year of At Dau (1704), 126 ingots of silver were collected.
            ” From the year of Ky Suu (1709) to the year of Quy Ti (1713) i.e. during five consecutive years, the company managed to collect only a few catties of tortoise shell and sea urchins. At one time, all they collected included a few bars of tin a few stone bowls and two bronze cannons “.
    It is clear from the above that in the eighteenth century at least, the Nguyen Lords of southern Vietnam were very much concerned with the economic possibilities of the Hoang Sa (Paracel Islands and in fact actually organized the annual exploitation of this archipelago. The fact that no counterclaims were made by any other nation is patent proof that the Nguyens’ sovereign rights over the islands were not challenged by any country.
    Elsewhere in the book, Le Qui Don also records an incident dating from 1753 which throws some light over the question of Chinese-Vietnamese relationships regarding the Paracel Islands. ” The shores of the Hoang Sa Islands are not far from Lien-chou Prefecture in Hainan Province, China. (For that reason) our ships sometimes meet with fishing boats from our Northern neighbor (China) on the high sea. Ship-mates from both countries inquire about one another in the midst of the ocean… On one occasion, there was a report coming from the hall officer in charge of sea traffic investigations in Wen-ch’ang District, Ch’iung-chou Prefecture (Hainan Island, China), which says: ” In the eighteenth year of Ch’ien-lung (1753), ten soldiers from An Binh Village belonging to the Cat Liem Company, District of Chuong Nghia, Quang Ngai Prefecture, Annam, set out during, the seventh month to go to the Van Ly Truong Sa (7) to collect sea products. Eight of the ten men went ashore for the collection of products, and two remained on the ship to watch it. A typhoon soon developed w which caused the anchor cord to split, and the two who remained in the ship were washed into the port of Ch’ing-lan. After investigation the Chinese officer found the story to be correct and consequently had the two Vietnamese escorted home to their native village . Lord Nguyen Phuc Chu subsequently had the Governor of Thuan Hoa (present-day Thua Thien) Province, the Count of Thuc Luong, write a courtesy note to the hall officer of Wen-ch’ang to acknowledge his help. “
    This story illustrates a number of points, besides the general civility of intercourse already evinced at the time between China and Vietnam. It is apparent from the story that the Chinese officer from Wen-ch’ang was not bothered by the fact that the Vietnamese were intruding into Chinese territorial waters when they went to the Van Ly Truong Sa. The only concern of the officer was to find out whether the statements made by the two Vietnamese sailors had any basis in fact. In other words, the Chinese officer was only worried about the possibility of the Vietnamese being spies sent into Hainan under the pretense of a storm encountered at sea. When this was disproved, the Chinese immediately had the Vietnamese released and dealt with them very kindly by having them escorted home. The whole incident clearly proves that Vietnamese exploitation of the economic resources on the Paracels in the eighteenth century was a very open activity, carried out peacefully and acknowledged by the Chinese to be an exercise of legitimate rights over the islands.
    A famous geography book written by Phan Huy Chu and printed in l834 by the name of Hoang Viet Dia Du Chi contains a text on the Hoang Sa Islands which does not present much that is new in comparison to the information in Le Qui Don’s work. Only two minor differences are found:
            -The Hoang Sa Company, according to this geographical work, was still composed of 70 men from An Vinh Village. However, they receive dry food and get instruction to go out to sea in the third month of the lunar calendar (rather than in the first, as recorded by Le Qui Don. They begin their return journey in the sixth month.
            -In the eight month, they arrive home through the port of Eo (Thuan An).
    From the above, it can be seen that exploitation of the Paracel Islands was becoming an operation of diminishing return in the early nineteenth century, thus necessitating an excursion of two months only, instead of the six-month excursion needed in the eighteenth century. However Vietnamese interests in the islands were not merely economic, as can be seen in the following testimonies.

Confirmation by other foreign sources.
    Various foreign authors confirmed that the Hoang Sa Islands were fully part of the Vietnamese territory as early as the 18th century. For instance, testimony in 1701 by a missionary travelling on the Amphitrite (reportedly the first French ship to enter South-China Sea late in the 17th century) describing frightening dangers experienced by ships in the vicinity of the Paracels, mentioned specifically that this archipelago be-longed to the Empire of Annam i.e., a former name for Vietnam (8).
    Another document dated April 10, 1768 and called “Note sur l’Asie demandee par M. de la Borde a M. d’Estaing” (now held in French archives) (9) provides evidence of intense patrol operations between the Paracels and the coast of Vietnam by Vietnamese naval units. When French Admiral d’Estaing was planning a raid against the Vietnamese city of Hue in order to set a French establishment in Indochina, he reported that Vietnamese vessels frequently cruised between the Paracels and the coast and thus, “would have reported about his approach “. This fact apparently caused him to cancel the raid planned against Vietnam. This demonstrates that as long as two centuries ago, the Hoang Sa Islands were already included in the Vietnamese system of defense and that the most evident acts in the exercise of state jurisdiction were regularly performed by Vietnamese authorities.
    In the same document, Admiral d’Estaing also gave various detailed descriptions of the defense installations on the shore. He wrote that “the Hue citadel contained 1,200 cannons, of which 800 were made of bronze, many bearing the arms of Portugal and the date 1661. There were also some smaller pieces (bearing the arms of Cambodia and the monogram of the British Company of India) that had been salvaged from driftwood of wrecked vessels in the Paracels.”
    In another proposal made in 1758-59 for a French attempt against Vietnam and presented in his Memoire pour une entreprise sur la Cochinchine proposee a M. de Magon par M. d’Estaing (10), admiral d’Estaing made another mention of the Hoang Sa Islands in his description of the defense of Lord Vo Vuong’s palace. Built on the bank of a river, he reported “the palace was surrounded by an 8 to 9-foot high wall without any kind of fortification. There were many cannons that were designed for decoration, rather than for use. Admiral d’Estaing put the number of cannons at 400, many being Portuguese pieces “taken here from ships wrecked on the Paracels. “
    In a book published in London in 1806: “a Voyage To Cochinchina”, John Barrow told the story of a British journey to Vietnam and indicated that the Paracels were part of the Vietnamese economic world. The journey described in the book was made by Count Maccartney, then British Envoy to the Chinese Court. Leaving England on September 2, 1792, Count Maccartney stopped in Tourane (Danang) between May 24 and June 16, 1793 in order to enter into contact with the King of Cochinchina. The 3-week long stay gave John Barrow leisure to study Vietnamese vessels. Therefore, he provided in his book a detailed description of different types of boats used by the Cochinchinese in order to reach, among other places, the Paracel Islands where they collected trepang and swallow nests (11).
    Thus Vietnamese and foreign sources agree that the Hoang Sa Islands have for centuries been included within the scope of Vietnamese interests and aims. These sources recognize the perfection of the sovereign title upheld by the Vietnamese in the course of time in relation to a growing number of states. The progressive intensification of Vietnamese control over the Hoang Sa Islands reached a decisive and irreversible point at the beginning of the 19th century, when the reigning Nguyen dynasty developed a systematic policy toward complete integration of the archipelago into the national community.  

CHAPTER II: THE EXERCISE OF VIETNAMESE SOVEREIGNTY OVER THE HOANG SA ISLANDS     Historical consolidation of the Vietnamese title to the Hoang Sa Islands continued under the Nguyen dynasty’ i.e., after 1802. From that date, it is possible to speak of a Paracel policy , by the successive emperors of Vietnam as manifested through systematic measures taken in the fields of administration, defense,. transports and economic exploitation.

Formal taking of possession by Emperor Gia Long.
    The first emperor of the Nguyen dynasty, Gia Long, consecrated the will of the Vietnamese to confirm their sovereignty over the Hoang Sa Islands by formally taking possession of the archipelago. According to various historic sources, in the year 1816 the Vietnamese flag was planted in a formal ceremony on the Paracels. In 1837 the Reverend, Jean-Louis Taberd, then Bishop of Isauropolis, wrote the following in his “Note on the Geography of Cochinchina printed in the Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, India, (12):
    “The Pracel or Paracels is a labyrinth of small islands, rocks and sand-banks, which appears to extend up to the 11st degree of north latitude, in the 107th parallel of longitude from Paris. Some navigators have traversed part of these shoals with a boldness more fortunate than prudent, but others have suffered in the attempt. The Cochin Chinese called them Con-Vang. Although this kind of archipelago presents nothing but rocks and great depths which promise more inconveniences than advantages, the king GIA LONG thought he had increased his dominions by this sorry addition. In 1816, he went with solemnity to plant his flag and take formal possession of these rocks, which it is not likely any body will dispute with him.”
    The Reverend Jean Louis Taberd was not the only one to give testimony in support of Vietnamese sovereignty over the Paracels. Another foreigner, a Frenchman who spent many years in the Far East and who was a contemporary eyewitness, wrote (13):
    “Cochinchina, of which the sovereign king today carries the title of Emperor, includes Cochinchina proper, Tonkin: a few scarcely inhabited islands not far from the coastline and the Paracel archipelago made up of islets, coral reefs and uninhabited rocks. It was in 1816 that the present Emperor (Gia Long) took possession of this archipelago.”

Consolidation of sovereignty under subsequent emperors.
    Numerous documents in Vietnamese archives give the most convincing facts about the display of the Nguyen dynasty’s authority over the Hoang Sa Islands. One of the striking facts was the order given in 1833 by Emperor Minh Mang to his minister of Public Work to plant trees on some of these islands because “trees will grow up and will offer a luxuriant vegetation that would allow navigators to reconnoiter these vicinities so to avoid having their ships being wrecked in these not very deep waters. This will be for the profit of ten thousand generations to come” (14). Considering the fact that most ships that sank in the area were foreign-owned, there is no doubt that the Vietnamese executed this act to meet their international responsibilities. Thus, by offering certain guarantees to other states and their nationals, by being an identifiable addressee of international claims regarding the Hoang Sa Islands, Vietnam further asserted her title to the property of these territories (15).
    One year later, in 1834, the same emperor Minh Mang sent Garrison Commander Truong Phuc Si and 20 other men to the Hoang Sa archipelago in order to make a map of the area (16). This mission apparently was not carried out to the satisfaction of officials in the Ministry of Public Works who, two years later, reported to the Emperor that because of the size of the area, ” only one island had been drawn on a map which is not as precise and detailed as we would wish “. The report added that since these islands were “of great strategic importance to our maritime borders”, it would be appropriate to send out missions each year in order to explore the whole archipelago and to get accustomed to the sea routes there.
    The report further pointed out that all the islands, islets and mere sand-banks must be surveyed in order to get a description of their relief and size, and to determine coordinates and distances. The Emperor approved the recommendations and sent a Navy team to the Hoang Sa Islands for the purposes set in the report (1836). Ten markers were taken along on the vessel to be planted on the islands which the team would reconnoiter. On each marker was the inscription: “In the year Binh Than, 17th Year of the reign of Minh Mang, Navy Commander Pham Huu Nhat, commissioned by the Emperor to Hoang Sa to conduct map surveyings, landed at this place and planted this marker so to perpetuate the memory of the event” (17). The data gathered in the survey were used in the drawing of the remarkable “Detailed map of the Dai Nam ” (see Fig. 8 ) (18) achieved circa 1838. Although not locating the two archipelagoes of Hoang Sa and Truong Sa at their proper place, the ” Detailed Map ” had the merit of mentioning these archipelagoes specifically by their names. The islands later known as Paracels and Spratlys were then clearly and indisputably considered parts of the Vietnamese territory.
    In other action lying within the normal display of state jurisdiction. Emperor Minh Mang ordered, in the 16th year of his reign (1835), the building of a temple on one of the Hoang Sa Islands. The following is recorded in Vietnamese annals ( 19) : “Among the Hoang Sa Islands located in the territorial waters of Quang Nghia (present day Quang Nam) Province, there exists the island of Bach Sa (white-sand island) where the vegetation is luxuriant. In the middle of the island is a well and in its South-West part, a temple with a sign on which is, engraved the sentence , “Van Ly Ba Binh” – ( the waves calm down over ten thousand leagues ). To the North of this isle is another one built with coral with a perimeter measuring 340 truong 2 xich and an altitude of 1 truong 3 thuoc (20). It is as high as the Island of White-Sand and called Ban Than Thach (21). Last year (1834), it was the intention of the Emperor to build there a temple and a stele, but the project was postponed because of unfavorable winds and waves. This year, the Emperor ordered Navy Commander Pham Van Nguyen to head an Elephant Garrison Detachment and boatmen hired in the provinces of Quang Nghia and Binh Dinh to transport materials for the purpose of building a temple on that island. This temple is 7 truong distant from the old one, and has a stonemark to its left and a brick screen in front. Upon completion of the work which lasted 10 days, the team returned home” (22). Another document indicates that the stonemark just mentioned was 1 thuoc 5 tac high and 1 thuoc 2 tac wide (23). Under the reign of Emperor Minh Mang, communications between the Hoang Sa islands and the mainland were intense enough to justify the construction of a temple dedicated to the Gods of Hoang Sa right on the beach of Quang Ngai in 1835. That city was a main harbour from which boats going to these islands originated (24).
    Time has probably erased traces of these works performed almost 140 years ago and for which light materials were largely used. But all the Vietnamese documents quoted are official publications kept until now in Vietnamese archives or prestigious foreign institutions. These reliable recordings of facts in Vietnam’s national life demonstrate clearly that one of the major concerns of the Nguyen emperors’ territorial policy was to consolidate sovereignty over the Hoang Sa Islands. As a result, Vietnamese jurisdiction became so obvious that contemporary foreign witnesses never thought of it as a contested matter. We already mentioned Bishop Jean-Louis Taberd’s and J.B. Chaigneau’s testimonies, but other foreign publications of the 19th Century also recognized the Vietnamese possession : a western map drawn in 1838 showed the – Paracel or Cat Vang Islands as part of the Annam Empire (5). A geography book written under the auspices of the (French) Ethnography Society mentioned the Paracels or Kat Vang as one of the very numerous islands and archipelagoes belonging to Vietnam (26). It must be stressed that all French works quoted had been produced at a time when the French did not yet control Vietnam and, therefore, had no interest in defending French claims to sovereignty over these islands.

Preservation of rights under French colonial rule.
    In the second half of the 19th century, the Southern part of Vietnam, named Cochinchina, became a French possession (1867). This was followed by the establishment of a French protectorate over the remaining Vietnamese territory (1883). Therefore the French temporarily took over the responsibility to defend the territorial integrity of the “Annam Empire”. On behalf of Vietnam, the French continued the normal exercise of sovereignty over the Hoang Sa Islands (Paracels).
    They did fulfil their responsibilities. Although kept busy by the task of strengthening their authority on the Indochina mainland, the French colonial government did not forget the far-off islands and took all the necessary measures to ensure an orderly administration, an adequate defense and a better knowledge of what a French author called in 1933 “the infinitely small Paracels of our colonial domain” (27). The Vietnamese title to sovereignty was not only preserved, it was reinforced. On the other hand, numerous scientific studies about the islands were produced which could only be conducted if the Paracels were firmly under French-Vietnamese control.
    The international responsibility that the Nguyen emperors had already accepted in regard to navigation of foreign vessels was not neglected by the French, who completed in 1899 a feasibility study for the construction of a lighthouse on one of the Hoang Sa Islands. Unfortunately, this project, which was supported by Indochina Governor General Paul Doumer, could not be realized for lack of funds. However, French patrol vessels assured the security of sea traffic and conducted many rescue operations for wrecked foreign ships in the Paracel. Beginning in 1920, apparently worried by the suspect presence of various kinds of vessels in the Hoang Sa area, the Indochinese customs authorities started making regular inspections to the islands for the purpose of checking illegal traffic. As early as the end of World War I, the French control was so evident that Japanese nationals called on French Indochina’s authorities for the exploitation of phosphate. This was the case of the Mitsui Bussan Kaisha Company, which extracted phosphates for many years from two islands, Ile Boisee (Phu Lam) and Ile Roberts (Cam Tuyen). The Japanese Government, on its part, implicitly recognized French jurisdiction in 1927. In a report to the Minister of Colonies in Paris dated March 20, 1930, the French Governor of Indochina wrote that in 1927, the Japanese consul in Hanoi, Mr. Kurosawa, was instructed by his government to inquire with the French authorities about the status of some groups of islands in the South China Sea. But the Consul declared that, according to instructions from the Japanese Government, the Paracels were expressly left outside of the discussions, the question of ownership of these islands not being a matter of dispute with France (Japan was then involved in controversies over the Truong Sa or Spratly Islands).
    The French jurisdiction was sufficiently firm and peaceful to permit such actions as the conduct of scientific surveys on the islands. An impressive list of superior-level scientific studies in all- fields was made available by colonial institutions or private authors. Starting in 1925, with the first recorded scientific mission on the vessel De Lanessan by scientists from the famed Oceanographic Institute of Nha Trang, knowledge about this part of Vietnamese territory increased. The trip by the De Lanessan confirmed the existence of rich beds of phosphate, which became the object of many detailed studies. For example:
            – Maurice Clerget, Contribution a l’etude des iles Paracels; les phosphates. Nhatrang, Vietnam 1932.
            – A. Lacroix, Les ressources minerales de la France d’Outre-Mer, tome IV (Paracels’ phosphate: p. 165), Paris 1935.
            – United Nations, ECAFE, Phosphate Resources of Mekong Basin Countries; 4. Vietnam, (1) : Paracel Islands; Bangkok 1972.
    The De Lanessan survey mission also proved the existence of a continental shelf which reaches out in platforms from the Vietnamese coast into the sea: the Paracels rest on one of these platforms, and thus are joined to the coast of Vietnam by a submarine plinth. In the following years, the names of many French ships have entered the history of both the Paracel and Spratly archipelagoes: the Alerte, Astrobale, Ingenieur-en-Chef Girod made other survey trips to the Hoang Sa Islands. The result was an increasing number of other scientific publications about these islands in all fields of human concern and activities. Some of these are:
           ·         A. Krempf, La forme des recifs coralliens et le regime des vents alternants, Saigon 1927.
           ·         J. Delacour and P. Jabouille, Oiseaux des iles Paracels, Nha-trang, 1928.
           ·         Numerous reports called Notes of the Oceanographic Institute of Indochina in Nhatrang containing valuable scientific data about the Paracels, for instance the “5th Note” (1925-26) and the “22nd Note” (1934).
    French scientists continued to work for Vietnam-in its early years of independence and continued to contribute to our knowledge of these Vietnamese islands. Among them was Mr. E. Saurin, the author of numerous studies of great scientific value:
            – Notes sur les iles Paracels (Geologic archives of Vietnam No. 3), Saigon 1955.
            – A propos des galets exotiques des iles Paracels (Geologic archives of Vietnam No. 4), Saigon 1957.
            – Faune Malacologique terrestre des iles Paracels (Journal de Conchiliologie, Vol. XCVIII), Paris 1958.
            – Gasteropodes marins des iles Paracels, Faculty of Sciences, Saigon, Vol. I: 1960; Vol. II: 1961.
    Another French scientist, H. Fontaine, produced, ‘m cooperation with a Vietnamese colleague a remarkable study of the islands’ flora called “Contribution de la connaissance de la flore des iles Paracels” (Faculty of Sciences, Saigon 1957). These scientific achievements, accomplished over a long period of time, could only have been achieved by a country exercising sovereignty over these islands to the fullest extent. As a matter of fact, Vietnam would not run any risk by challenging other countries having a pretense to sovereignty over the Hoang Sa Islands to show the list of scientific publications they had made available in the past.
    In their acts mentioned above, the French, who merely took over rights and responsibilities temporarily transferred to them by the people under their “protection”, simply assured a normal continuation of jurisdiction on behalf of the Vietnamese. However, in the face of unfounded Chinese claims over and illegal actions connected with, the Hoang Sa Islands in 1932, the French felt that it was necessary to take defensive measures. Since 1909, China has made sporadic claims over the islands. On one occasion during that year, the provincial authorities of Kuang Tung sent gun-boats to conduct a reconnaissance mission there. On March 20, 1921 the Governor of Kuang Tung, signed a peculiar decree annexing the Hoang Sa Islands to the Chinese Island of Hainan. However, his action went unnoticed because it is recorded only in the provincial records therefore, nobody could know about it in order to make comments or to protest. Although not followed by occupation of any sort, actions such as these were enough to cause some preemptive actions by the French. For instance. in 1930 crew-members of La Malicieuse landed on many of the Hoang Sa Islands to plant flags and set up “sovereignty columns “.
    More serious was the Chinese intention to invite bids for the exploitation of the islands’ phosphate. When the Chinese intent became known, the French Government protested to the Chinese Embassy in Paris by a note dated December 4, 1931. A few months later, when the Chinese effectively called for bids, the Paris Government renewed the protests by a Note dated April 24, 1932. This time the French strongly reaffirmed their rights with substantive supporting arguments, e.g. the former rights exercised by the emperors of Vietnam, the official taking of possession by Emperor Gia Long in 1816, and the sending of Indochinese troops to guard the islands, etc… On September 29, 1932, the Chinese Government rejected the French protest on the ground that at the time Gia Long took possession of the islands, Vietnam was a vassal state of China. It may be true that, as in other periods of its history, Vietnam was then a nominal vassal of China (although it was never quite clear when this situation started or ended),. but it is certain that by this reply China implicitly recognized that Vietnam had asserted its claim to the Hoang Sa Islands. The Chinese Government also appeared confused about the legal distinction between suzerainty and sovereignty : even if Vietnam was a vassal state of China in 1816, the formal relationship of suzerainty could not preclude such Vietnamese acts of sovereignty as the incorporation of new territories.
    Convinced of her legitimate rights in the dispute, France by a diplomatic note to China dated February 28, 1937, proposed that a settlement of the conflicting claims be reached through international arbitration. But China knew the risks involved in such a challenge and declined the offer. Thus, the Chinese government simply responded by reaffirming its claim to the islands. That negative attitude caused the French to send military units, composed of Vietnamese soldiers and called Garde Indochinoise, to many of the Hoang Sa Islands (28). These units built many – sovereignty colums -, of which there exists photographic records. The column on Pattle Island contained the following inscription in French:
Republique Francaise
Empire d’Annam
Archipel des Paracels
1816 – Ile de Pattle 1938
    These dates marked the taking of possession -by Emperor Gia Long and the year the column was erected (29).
    These troops, commanded by French officers, were to stay on the islands until 1956 with a brief interruption after 1941. Men the Japanese seized the Paracels (and the Spratlys) by force in -that year, France was the only power to officially protest against it. ‘ In 1946, shortly after their return to Indochina at the end of World War II, the French sent troops on. the vessel Savorgnan de Brazza to re-occupy the archipelago. However, events in the French-Vietminh war compelled these troops to withdraw from the Paracels in September, 1946. Informed that Chinese troops (who had supposedly arrived to disarm defeated Japanese troops pursuant to agreements between the Allied powers) continued to stay on the islands, the French issued a formal protest on January 13, 1947. Then they dispatched the warship Le Tonkinois to the area. Crewmembers found Boisee Island (Phu Lam) still occupied (January 17, 1947). The Chinese troops refused to leave and, being outnumbered, the French-Vietnamese soldiers left for Pattle Island where they established their headquarters. They also rebuilt the Weather Station which had operated for 6 years in the past, between 1938 and 1944. The new station became operative in late 1947 and, under international station code 48860, provided the world with meteorological data for 26 more years, until the day when Communist Chinese troops seized the Hoang Sa archipelago by force (January 20, 1974).
    Beginning in the 1930′s, these disputes, with China had already motivated the French authorities in Indochina to take stronger measures in administrative organization. By Decree No. 156-SC dated June 15, 1932 the Governor General of Indochina gave the Hoang Sa Islands the name of “Delegation des Paracels” – and the status of an administrative unit of Thua Thien Province. This decree was later confirmed by a Vietnamese imperial ordinance signed by Emperor Bao Dai on March 30, 1938 (the confirmation was necessary because, as the ordinance recalled, the Hoang Sa Islands had traditionally been part of Quang Nam and Quang Ngai provinces, from whence communications with the islands had originated). A subsequent Decree of May 5, 1939 by the French Governor General divided the archipelago into two Delegations: Crescent et Dependences, and Amphitrite et Dependences.
    These administrative measures were adequately completed by the organization of services on the islands. For instance, health checks were regularly made on the workers, called coolies by the French, during their stay there. Consequently, civil service officers were appointed on a regular basis. These officers had to stay permanently on either Pattle Island (for the Crescent and Dependences Group) or Boisee Island (for the Amphitrite and Dependences Group). However, because of the islands’ bad climate, they were allowed long vacations on the mainland and were relieved after short periods. One of these former civil servants is Mr. Mahamedbhay Mohsine. a French citizen of Indian origin who.. outraged by the Chinese invasion of 1974, has offered to testify anywhere on the legitimacy of Vietnamese rights. Between May 5, 1939 and March 13, 1942, Mr. Mohsine served as Administrative Officer or De1egue administratif for the Paracels. He was first posted on Pattle, then on July 16, 1941 was ordered to relieve a colleague, Deputy-Inspector Willaume, on Boisee. Later Mr. Mohsine was officially recommended for an award of distinction in consideration of his contribution to French colonial expansion in the remotest parts of Indochina (30).
    Mr. Mahamedbhay was only one of the many civil servants and military personnel who, by serving the French colonial cause on the Hoang Sa Islands, directly contributed to the preservation of Vietnamese rights which had only temporarily been exercised by the French. At an early stage,, French action had been only intermittent – intermittence which is not at all incompatible with the maintenance of the rights but in the last 30 years of their presence, the French did fulfill all the obligations of a holder of title. Thus the French accomplished a valuable conservator act in the safeguarding of legitimacy for the Vietnamese sovereignty over the Hoang Sa Islands.

Return to Vietnamese sovereignty.
    After the French-Vietnamese Agreement of March 8, 1949, Vietnam gradually regained its independence. Although some French troops were intermittently stationed on some of the Hoang Sa Islands until 1956, it was on October 14, 1950 that the French formally turned over the defense of the archipelago to the Vietnamese. General Phan Van Gao, then Governor of Central Vietnam, went in person to Pattle Island to preside over the ceremony. The general made the trip to the remote and isolated island because, as he reported to Prime Minister Tran Van Huu in Saigon:
    “I was persuaded that my presence among the Viet Binh Doan (Regional Guard Unit) would have a comforting impact on its morale on the day the unit took over heavy responsibilities ” (31).
    No doubt Premier Tran Van Huu was pleased by the Govemor’s initiative, since in the following year (1951) he was to attend the San Francisco Peace Conference with Japan where he solemnly and unequivocally reaffirmed the rights of his country over both the Paracel and Spratly archipelagoes. After its defeat in 1945, Japan had relinquished all its claims to these islands that their forces had occupied. This matter will be discussed further in another chapter.
    Reassuming all responsibilities for the Hoang Sa archipelago, the Vietnamese felt that it was more practical to re-incorporate it as part of Quang Nam Province (as things were before the French decree of 1932) because links between these insular territories and the mainland had always originated from the Quang Nam provincial capital of Da Nang. A proposal to that end was made in 1951 by regional authorities in Hue (32), but it was a full ten years later that the President of the Republic, Ngo Dinh Diem, signed a Decree (33) transferring the Hoang Sa Islands from the jurisdiction of Thua Thien Province back to Quang Nam. The entire archipelago was given the status of a “Xa” (village on the mainland). Administrative organization was again perfected 8 years later: by a Prime Minister’s Decree (34) the islands became part of a village on the mainland of Quang Nam, the village of Hoa Long, Hoa Vang District.
    Most Vietnamese officials posted on the Hoang Sa Islands were thus from Quang Nam Province and usually detached for about a year from their regular position on the mainland. The first civilian officer to be appointed by an independent Vietnamese Government was M. Nguyen Ba Thuoc (appointed December 14, 1960 by Arrete No. 241-13NV/NV/3). After 1963 however, due to war conditions in the Republic of Vietnam, the administrative officers- assigned there have always been military men. They were usually NCOs in command of the Regional Forces stationed on Duncan Island. Thus they bore the title of “Duncan Island Chief”, concurrently in charge of Administrative affairs for the Hoang Sa Islands.
    Whether civilian or military, these officers helped ensure peaceful Vietnamese sovereignty over the islands. Scientific surveys continued, with Vietnamese scientists joining their French colleagues in order to deepen the knowledge about these remote territories. Manned by Vietnamese technicians, the Pattle Weather Station continued providing the world with meteorological data until its forced closure in 1974. The exploitation of phosphate resumed after 1956 with the following yields:
            1957-58-59:      8,000 metric tons
            1960:               1,570 metric tons
            1961:               2,654 metric tons
            1962 and after: 12,000 metric tons extracted, but left on the islands.
    In 1956 the Ministry of Economy granted the first license to exploit phosphate on the 3 islands of Vinh Lac (Money Island), Cam Tuyen (Roberts) and Hoang Sa (Pattle) to a Saigon businessman named Le Van Cang. In 1959, a license was issued to the “Vietnam Fertilizers Company ” which contracted actual extraction and transportation to a Singapore company Yew Huatt (4, New Bridge Road, Singapore 1). Among other clauses, the Vietnamese Company committed itself to obtain from the Government of the Republic of Vietnam the granting of fiscal exemptions and the privilege to use radio facilities 4 the Pattle Weather Station. After 1960, commercial exploitation of Pattle was granted to the Vietnam Phosphate Company, which stopped all operations in 1963 because of insufficient returns. Interests in phosphate exploitation surfaced again in 1973 when the Republic of Vietnam faced serious problems of fertilizer shortage.
    In August of that year, the ” Vietnam Fertilizer Industry Company” finished a feasibility study conducted jointly with a Japanese partner, Marubeni Corporation of Tokyo. The survey on the islands lasted two weeks, and Marubeni Corporation provided the engineers needed.
    It is no wonder that the exercise of normal sovereignty by the Republic of Vietnam has had to be coupled with actions which are more or less military-oriented. Confronting unfounded claims by China in the Hoang Sa Islands, the Armed Forces of the Republic have been required to display constant vigilance in the defense of this part of Vietnamese territory. As an example, when the Chinese nationalist troops which had refused to leave Phu Lam (Wooded or Boisee) Island in 1947 withdrew in 1950 following Marshall Chiang Kai Shek’s defeat, Communist Chinese troops landed there immediately to continue the illegal occupation. A Vietnamese Navy unit assumed responsibility for the defense of the archipelago in 1956. This unit was relieved the following year by a Marine Company. After 1959, the task was assigned to Regional Forces of Quang Nam Province. Vietnamese warships have patrolled the Hoang Sa waters regularly in order to check illegal occupants on the many islands. In this regard, the People’s Republic of China appears to have followed guerrilla-type tactics: it surreptitiously introduced first fishermen, then soldiers onto Vietnamese territory. They even built strong fortifications on the two islands of Phu Lam and Linh Con. On February 22, 1959, the Republic of Vietnam’s Navy thwarted this tactic by arresting 80 fishermen from mainland China who had landed on the three islands of Cam Tuyen, Duy Mong and Quang Hoa. These fishermen were humanely treated and promptly released with all their equipment after being taken to Da Nang.
    The broad range of actions by the Vietnamese authorities regarding the Hoang Sa Islands provides an undeniable evidence of Vietnamese sovereignty. These actions include, among others, the approval of international contracts connected with the islands’ economy ; police operations against aliens; extraction of natural resources ; the providing of guarantees to other states; and so forth. Vietnamese sovereignty was first built between the 15th and 18th centuries, consecrated by the Nguyen emperors, then temporarily assumed by the French, and finally continued in a normal manner by independent Vietnam. The exercise of Vietnamese jurisdiction was effectively displayed under a large variety of forms. It was open, peaceful, and not, like the Communist Chinese claim, asserted jure belli. Any interruption of Vietnamese sovereignty was due only to foreign powers’ illegal military actions against which Vietnam, or France on behalf of Vietnam, had always protested in a timely fashion. Convinced of their legitimate rights over the Hoang Sa Islands, the Vietnamese will never indulge in compromises in the defense of their territorial integrity (see Chapter IV).  

CHAPTER III: THE TRUONG SA (SPRATLY) ISLANDS BELONG TO THE VIETNAMESE

    The Vietnamese islands of Truong Sa, known internationally as the Spratly archipelago, are situated off the Republic of Vietnam’s coast between approximately 80 and 11040 North latitude. In. the course of history, the Vietnamese people have had intermittent contact with these islands known for their dangerous grounds and access. Unlike the case of the Hoang Sa (Paracel) Islands, the former emperors of Vietnam did not have the time to strengthen these contacts through the organization of an administrative jurisdiction. However, the French, who occupied the Southern part of Vietnam known as Cochinchina, took all those measures necessary for the establishment of the legal basis for possession of the Spratly Islands. In 1933, the Spratlys were incorporated into the French colony of Cochinchina and from that year forward have had an adequate administrative structure.
    It is true that French jurisdiction was disrupted by the Japanese invasion of 1941. However, shortly after the Japanese defeat in 1945, France returned Cochinchina to Vietnam, which then recovered all the rights attached to the former French colony. Immediately thereafter, Vietnamese sovereignty over the Truong Sa Islands faced groundless claims from other countries in the area which military occupied some of the islands of the archipelago.

Geographic and historic background.
    The Truong Sa archipelago is spread over hundreds of miles in the South China Sea. However, it only contains 9 islands of relatively significant:
            – Truong Sa or Spratly Island proper.
            – An Bang or Amboyna Cay.
            – Sinh Ton or Sin Cowe.
            – Nam Yet or Nam Yit.
            – Thai Binh or Itu-Aba.
            – Loai Ta.
            – Thi Tu.
            – Song Tu Tay or South West Cay.
            – Song Tu Dong or North East Cay.
    Because of the size of the area, the archipelago is divided into many groups. Using the main island of Spratly (which gave its name to the whole archipelago) as a point of reference, the distances to the shores of surrounding countries are as follows:
            – Spratly Island to Phan Thiet (Republic of Vietnam) 280 nautical miles
            – Spratly Island to the closest shore of Hainan Island (People’s Republic of China) 580 nm
            – Spratly Island to the closest shore on Palawan Island (Philippines) 310 nm
            – Spratly Island to the closest shore of Taiwan 900 nm
    Like the Hoang Sa Islands, the Truong Sa archipelago is composed of little coral islands which are often surrounded by smaller reefs. Because of their proximity to the coast of Vietnam, these islands have always been frequented by fishermen from the southern part of Vietnam. These fishermen made regular expeditions to the islands and sometimes stayed there for prolonged periods of time. Vietnamese history books often made reference to the ,Dai Truong Sa Dao-, a term used to designate both the Paracel and Spratly archipelagoes and, more generally, all insular possessions of the Vietnamese (50). The map published circa 1838 by Phan Huy Chu and called “Dai Nam Nhat Thong Toan Do” (fig. 8, page 32) expressly mentioned the Spratlys, under the name Van Ly Truong Sa, as part of Vietnamese territory, although the archipelago was not located at its proper place because of the use of ancient geographic techniques.
    These distant islands were often neglected by the Vietnamese authorities of the time. The emperors did not implement a systematic policy of occupation on the Truong Sa Islands as they had for the other archipelago, Hoang Sa. Furthermore, the Empire of Vietnam lost interest in the islands off the Cochinchinese shore as the French occupation of Cochinchina began in 1852. For their part, the French took some time before consolidating their rights to the Truong Sa archipelago. Their first recorded action was a scientific reconnaissance of the Spratlys by the vessel De Lanessan following its exploration of the Paracels (1927). This scientific mission was followed by an official expedition in 1930 on the sloop la Malicieuse, in the course of which the French flag was hoisted on the highest point of an island called Ile de la Tempete.

Legal basis of Vietnamese possession.
    In 1933, the French Government decided to take official possession of the islands. Three ships, the Alerte, the Astrobale and the De Lanessan took part in the expedition. The following are relevant quotations from an account given by H. Cucherousset in L’Eveil economique de l’Indochine (No. 790 of May 28, 1933) :
    “The three vessels first of all visited Spratley and confirmed French possession by means of a document drawn up by the Captains, and placed in a bottle which was subsequently embedded in cement.
    ” Then the Astrolabe sailed south west to a point 70 miles from Spratley and 200 miles from Borneo, and arrived at the caye (sandy island) of Amboine, at the northern extremity of the Bombay Castle Shallows. Possession was taken of the island in the manner related above. This cave protrudes two meters 40 cm above the sea at high tide.
    ” Two-thirds of the rock which forms the caye is covered with a thick layer of guano, which the Japanese do not seem to have completely exploited.
    ” Meanwhile, the Alerte sailed towards the atoll Fiery Cross (or Investigation) at a point about 80 miles north-west of Spratly and equidistant from Cape Padaran and the southern point of Palawan Island. The whole of this vast reef protrudes only at a few points above the surface of the sea.
    At the same time the De Lanessan proceeded towards the London reefs, at about 20 miles north-east of Spratly. There it discovered the wreckage of the Francois Xavier, which was wrecked there in 1927 while on its way from Noumea to Indochina via this part of the China Sea, in which, in spite of its great depth, navigators are not advised to sail too boldly.
    “Itu Aba. which is surrounded by a reef, is mentioned in the naval instructions of 1919 as being covered with bushes and thickets with the nests of many sea birds, and a number of banana and coconut trees growing around a well….
    “The De Lanessan and Astrolabe later sailed north where, about 20 miles from the Tizard bank, is situated the Loaita bank, an atoll of the same kind. The two vessels took formal possession of the main island, on which are also to be found the remains of plantations and an unexhausted phosphate working. Loaita Island is a sandy isle, low, covered with bush, and a bare 300 metres in diameter.
    “The Alerte for its part visited the Thi-Thu reef, at about 20 miles north of the Loaita bank, and took possession of an island and of this atoll. still by means of the same ritual. This little low and sandy isle possesses a well, a few bushes, and some stunted coconut trees. A fair anchorage is to be found on the southern bank.”
    Further north still, at the level of Nhatrang, is the atoll named “North Danger” , the Alerte took possession of two sandy islands (cayes) where it found some Japanese fishing. The De Lanessan went there too and explored the little island. The latter is perceptibly higher than the others, the highest point reaching 5 metres. The phosphate beds are considerable and were much exploited by the Japanese.
    After possession had been taken, the French Ministry of Foreign Affairs published the following notice in the French Journal Officiel dated July 26, 1933 (page 7837)
    “Notice concerning the occupation of certain islands by French naval units.
    The French government has caused the under mentioned isles and islets to be occupied by French naval units:
        1. Spratley Island, situated 8o39′ latitude north and 111o55′ longitude east of Greenwich, with its dependent isles (Possession taken April 13, 1930).
        2. Islet caye of Amboine, situated at 7o52′ latitude north and 112o55′ longitude east of Greenwich, with its dependent isles (Posssession taken April 7, 1933).
        3. Itu Aba Island situated at latitude 10o2′ north and longitude 114o21′ east of Greenwich, with its dependent isles (Possession taken April 10, 1933).
        4. Group of two islands situated at latitude 111o29′ north and longitude 114o21′ east of Greenwich, with their dependent isles (36) (Possession taken April 10, 1933).
        5. Loaita island, situated at latitude 10o42′ north and longitude 114o25′ east of Greenwith, with its dependent islands (Possession taken April 12, 1933).
       6. Thi Tu Island. situated at latitude 11o7′ north and longitude 114ol6′ east of Greenwich, with its dependent islands (Possession taken April 12, 1933).
    The above-mentioned isles and islets henceforward come under French sovereignty (this notice cancels the previous notice inserted in the Official Journal dated July 25, 1933, page 7784).
    Notification of the occupation was made by France to interested countries between July 24 and September 25, 1933. With the exception of Japan, no State which could have had an interest in the matter raised any protest against this act. Three powers in the area remained silent and unconcerned: the United States (then occupying the Philippines), China, and the Netherlands (then occupying Indonesia). In Britain, Foreign Under-secretary Butter declared 6 years later that France exercised full sovereignty over the Spratly archipelago and that all matters relevant to these islands were primarily a French concern (37).
    The Japanese protested the French occupation on the ground that, in the past, Japanese subjects had carried out exploitation of phosphate on some of these islands. It was true that Japanese companies had operated on the Spratlys without the permission and knowledge of French authorities. But Japan had never made any attempt toward taking possession of these islands. In 1939., claims by the Japanese militarist government then in power assumed a tougher tone: Japan declared that she had decided to – place the Spratly or Tempest Islands off the coast of Indoch’na under Japanese jurisdiction -. The decision first appeared merely on paper, but was followed two years later by forcible military occupation of the archipelago (1941). In any case, in the San Francisco Peace Treaty of 1951, Japan relinquished all titles and claims to the Paracel and Spratly Islands.
    It should also be noted that the French occupation of the Spratly Islands in 1933 did not arouse any protest from the United States government, which was then acting on behalf of the Philippines. Five years earlier, the United States did engage in a dispute with the Netherlands over the island of Palmas off the Philippine coast (38). Since the United States did not act where a Philippine claim could have been made, this indicates that there was no ground for a challenge of French rights on behalf of the Philippines. It was only 35 years after the French took possession of the Spratly Islands that Philippine troops, taking advantage of the war situation in the Republic of Vietnam, surreptitiously occupied some islands in the Vietnamese archipelago:
        Loai Ta 10o41′N – 114o25′E
        Thi Tu 11o03′N – 114ol7′E
        Song Tu Dong 11o27′N – 114o21′E
    All of these three islands are in the list of islands published in the French Official Journal of July 26, 1933 which recorded the possession of the Spratlys by French naval units. The present position of the Philippine government that these islands are not part of the Spratly archipelago but only res nuilius when Philippine troops occupied them is, therefore, obviously erroneous. All three islands (which were artificially given Malayo-Spanish sounding names) are an integral part of the Vietnamese Truong Sa archipelago. Moreover, it remains to be determined in a common and friendly spirit whether or not some other, smaller, islands occupied by Philippine soldiers are dependent islets of these Vietnamese main islands. In this regard, it should be recalled here that when the French took possession of the Spratlys, they only listed the major islands in the official act and indicated that these islands were incorporated – with their dependent islets.
    The Philippine government has also argued that the remaining islands of the Spratly archipelago (i.e., those not occupied by Philippine troops) are still -subject to the disposition of Allies in the past world war-. According to this theory, when Japan relinquished its rights over the Spratlys by the San Francisco Peace Treaty, its jurisdiction was assumed by the Allied powers who have,not yet ceded the archipelago to any particular country. No reasoning can be more disputable, since the Spratlys were already and fully part of Vietnamese territory before World War II. These islands were merely seized militarily by Japan and, just like Mindoro or Guam, must simplv return to their legitimate owner. It is obvious that military occupation by Japan could not result in any transfer of sovereignty over those islands and that Vietnam was ipso facto reinstated in her lawful rights after the defeat of Japan. In the San Francisco Peace Treaty, it was simply said that:
        ” Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.”
    Previously, the Cairo Declaration (1943) the Yalta Agreement and the Potsdam Declaration (1945), which are the basic documents for postwar territorial settlements, contained no clause contrary to the sovereignty of Vietnam over both archipelagoes. There have not been any other legal texts that attribute these territories to any country – as was correctly pointed out by the Philippine government. Thus, all sovereign rights must be returned to their legal titular, i.e., Vietnam which, since 1949 had inherited (or rather retaken) all of the former French rights over these territories. Therefore, the short clause about the Paracels and Spratlys in the San Francisco Peace Treaty was merely designed to confirm that Japan withdrew all her claims in earlier disputes with France.
    It is to the credit of the Philippine government that it has not associated itself with the burlesque adventure of one of its private citizens, Mr. Tomas Cloma, who has prt,ended to – discover – the Vietnamese Truong Sa islands in 1956 and has proclaimed an independent – Freedomland – covering most of this archipelago (39). But the fact remains that Philippine troops are presently stationed on some of the islands described by Mr. Cloma as part of K Freedomland v. This matter must be settled in accordance with international law and the Charter of the United Nations. The Vietnamese people are entirely confident that the legal and peaceful channels available to solve such disputes will confirm the legitimacy of their rights.
    Regarding China, it must be stressed that few people have had knowledge of any Chinese claims over the Spratlys in the past (40). In a sudden move on August. 24, 1951, Netv China in Peking attacked both French and Philippine claims regarding these islands and stated that they must be considered to be – outposts of Chinese national territory -. Subsequently, the People’s Republic of China continued to issue statements filled with threats to use force in order to seize the Truong Sa archipelago (41). But it was the Republic of China’s government which took the initiative and sent troops from Taiwan to occupy Thai Binh Island (Itu-Aba) on June 8, 1956. Itu-Aba is the largest island of the Spratlys and thus was a kind of – capital – where all French services were centered. As late as December 1973, the Far Eastern Economic Review of Hongkong reported that a marker still stood there with the inscription: (France – Ile ItuAba et Dependances – 10 Aouit 1933 – (42).

Exercise of normal state authority.
    The headquarters of a French administrative officer, who also commanded a guard detachment ‘ was located on Itu Aba Island. Because of the isolation and the hard living conditions on the island, only volunteers to the post were sent there. Sometimes, no government official would volunteer, so the Indochinese authorities had to recruit private citizens by means of contracts which lasted one year. These contracts contained generous allowances and other largesses in an attempt to retain volunteers on the island. One of the a “contract officials,” was Mr. Burollaud who held out for 2 years (1938-1940). It was apparently difficult to find a successor for Mr. Burollaud, since the Governor General in Hanoi had to send a note dated August 22, 1940 throughout Indochina (and to the French possession of Kouang-Tcheou-Wan in ichina) to look for a volunteer – who must be a European. The official finally recruited turned-out to be most unlucky, since, according to an eyewitness named Tran Van Manh who was serving at that time with the Itu-Aba Meteorological Station, he was seized and tied to the flag pole by Japanese troops occupying the Spratlys in 1941 (43). Regarding administrative organization, 3 months after the official incorporation of the Spratlys, the Governor General of Indochina signed Decree No. 4762-CP dated December 21, 1933 making the archipelago a part of the Cochinchinese province of Ba-Ria. After Cochinchina was returned to Vietnam, this organization was confirmed in 1956 bv a Decree of the President of the Republic of Vietnam (44). Seventeen years later, the Spratlys were attached to a village of the same province (the name of which had in the meantime changed to Phuoc Tuy), the village of Phuoc Hai, Dat Do district (45). State activities on the Spratlys were necessarily restricted because the islands were uninhabited and situated too far away from the mainland. In 1938, the Indochina Meteorological Service set up a weather station on Itu-Aba, which was considered the best place in the South China Sea to provide meteorological data for neigbouring countries. The Station functioned in French hands for over 3 years after which it was reported to have continued operations under Japanese military occupation. Before the Japanese seizure, the Itu-Aba station was important enough to be given an international code number: 48919. Data provided by the Station were recorded all over the world qnd were listed under – French Indochina – Cochinchina,,. The French also continued scientific surveys of the Spratlys after 1933. For instance, a valuable geographic and aeologic study of the Spratlys was made available in the 22nd Report of the Oceanographic Institute of Indochina (46).
    Thus, on behalf of Vietnam, the French conducted various kinds of activities which substantiate the right to sovereignty over a territory. These also include diplomatic activities to ensure the protection of possession by the authority in control. France defended with success the Spratlys against Japanese aims. The Ministry of Foreign Affairs in Paris protested energetically on April 4, 1939 when Japan announced that she had “placed the islands under her jurisdiction”. France remained active right until 1956, the year when all her troops finished their withdrawal from Indochina. ‘ As late as May 1956, after Mr. Tomas Cloma created his so-called “Freedomland”, the French Charge d’Affaires in Manila was reported to have reminded the Philippine government of the French rights resulting from the 1933 occupation (47). At the same period, the French Navy vessel Dumont d’Urville made a visit to Itu-Aba in a demonstration of French – Vietnamese interest in the archipelago. The Republic of Vietnam’s Ministry of Foreign Affairs, for its part, issued a statement on June 1, 1956 recalling the Vietnamese rights. Two weeks later, Foreign Minister Vu Van Mau of the Republic of Vietnam reaffirmed at length the rightful position of his country (48). He recalled, among other facts, that five years earlier the head of the Vietnamese Delegation at the San Francisco Peace Conference had solemnly reaffirmed Vietnamese sovereignty over the Truong Sa archipelago and that the statement was not challenged by any participating country, including China and the Philippines.
    From 1956 on, in the face of Chinese and Philippine groundless pretenses, the Republic of Vietnam’s Navy began to launch various operations to reassert control over the Truong Sa Islands. Crewmembers erected sovereignty steles on almost all of them and built poles to hoist the Vietnamese flag. The cruiser Tuy Dong (HQ-04) was assigned these missions in August 1956. In 1961, the two cruisers Van Kiep and Van Don landed on the islands of Song Tu Tay (South-West Cay) Thi Tu, Loai Ta and An Bang. Two other islands, Truong Sa (Spratly proper) and Nam Ai (Nam Yit) were visited the following year by the cruisers Tuy Dong and Tay Ket. Finally, in 1963, all of the sovereignty steles on the main islands were systematically rebuilt by crew members of the three vessels Huong Giang, Chi Lang and Ky Hoa:
            May 19, 1963 steles on Truong Sa Island (Spratly proper)
            May 20, 1963 steles on An Bang Island
            May 22, 1963 steles on Thi Tu and Loai Ta Islands
            May 24, 1963 steles on Song Tu Dong (North East Cay) and Song Tu Tay (South West Cay).
    The pace of these patrol and control operations were reduced after 1963 due to the war situation in the Republic of Vietnam. That does not mean, however, that Vietnamese rights on the Truong Sa archipelago have been diminished, even if foreign powers were then able to take advantage of the situation to commit illegal intrusion in some of these islands. These rights had been openly established in the name of Vietnam when the French incorporated the archipelago into Indochina. Moreover, these territories were traditionally known and frequented by Vietnamese in the past. The French action of 1933 was entirely in conformity with international rule and practice. It was challenged by no one except Japan, who later relinquished all her claims. An effective presence and a peaceful exercise of sovereignty have been firmly assured. This has only been interrupted once and temporarily when Japan seized the Truong Sa Islands by force in 1941. As in the case of the Hoang Sa Islands, a foreign military presence has not and will not break the will of the Vietnamese to remain as the owner of all their territories. Therefore, let it be reminded that the islands now illegally occupied by foreign troops are indivisible parts of the Truong Sa archipelago which belong to the Vietnamese people.  

CHAPTER IV: THE DEFENSE OF THE LEGITIMATE RIGHTS OF VIETNAM
    In preceding Chapters, it has been mentioned that the Vietnamese have always assured an appropriate defense of their rights over the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands. Vietnamese or French troops were stationed permanently on both archipelagoes in a display of authority that is inherent to rightful sovereignty. In the diplomatic field, it has been recalled that France remained active until 1956 in the defense of the legitimate title it held on behalf of Vietnam. In 1932, then again in 1939, France issued particularly strong protests against pretenses from China concerning the Paracels and from Japan concerning the Spratlys.
    Independent Vietnam had later to confront serious challenges to her sovereignty over these islands. At the San Francisco Peace Conference of 1951, Vietnam unequivocally reaffirmed its rights over both archipelagoes. The Vietnamese chief delegate dearly stated the position that, in settlement of territorial problems resulting from World War II, only Vietnam was entitled to recover the Hoang Sa and Truong Sa Islands from Japan. The defense of this cause continued actively during the following years. In response to the Chinese invasion of January 19-20, 1974, the Republic of Vietnam’s soldiers fought heroically in the face of superior military force. Backed by all segments of the population, they kept alive the Vietnamese tradition that the temporary loss of physical control over a territory does not mean the relinquishing of a legitimate right.

From the San Francisco Peace Conference to 1973.
    When Japanese military control ended in 1945, the Hoang Sa and Truong Sa Islands returned ipso facto to their legitimate owners. H ever, the confusion resulting from the war allowed other countries make bolder moves toward asserting their groundless claims. Specifically, the Republic of China illegally continued to station on some of the Hoang Sa Islands the troops that had been sent there to disarm Japanese soldiers in implementation of the Potsdam agreement. Thus the successive governments of newly independent Vietnam assumed the task of doing their utmost to protect the territorial integrity of the country. The first opportunity to do so was at the San Francisco Conference held in 1951 to work out a peace treaty with Japan. The gathering was attended by delegates from 51 countries. According to agreements reached, Japan renounced all rights and claims to the Paracel and Spratly Islands. The head of the Vietnamese delegation to this Conference was Prime Minister Tran Van Huu, who was also Minister of Foreign Affairs. On September 7, 1951, during the seventh plenary session of the Conference, the Vietnamese delegate made the following statement:
    “…as we must frankly profit from all the opportunities offered to us to stifle the germs of discord, we affirm our right to the Spratly and Paracel Islands, which have always belonged to Vietnam “.
    The statement aroused no objections from any of the 51 countries attending the Conference. This must be considered as having been the universal recognition of Vietnamese sovereignty over these islands. The declaration by Premier Huu was designed to reaffirm an existing right, therefore it has an effect erga omnes, i.e., even vis-a-vis those countries not represented at the Conference (for instance, the People’s Republic of China).
    On the other hand, the full text of Article 2 of the Peace Treaty shows that the two archipelagoes were considered as one single entity in the settlement of territorial matters:
            Chapter II Territory
            Article 2
            a) Japan, recognizing the independence of Korea renounces all right, and claim to Korea,                 including the islands of Quelpart, Port Hamilton and Dagelet.
           (b) Japan renounces all right, title and claim to Formosa and the Pescadores.
           (c) Japan renounces all right, title and claim to the Kurile Islands, and to that portion of                 Sakhalin and the islands adjacent to it over which Japan acquired sovereignty as a                 consequence of the Treaty of Portsmouth of September 5, 1905. (d) Japan renounces all                 right, title and claim in connection with the League of Nations Mandate System, and accepts                 the action of the United Nation Security Council of April 2, 1947, extending the trusteeship                 system to the Pacific Islands formerly under mandate to Japan.
           (e) Japan renounces all claim to any right or title to or interest in connection with any part of                the Antarctic area, whether deriving from the activities of Japanese nationals or otherwise.
           (f) Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands.
    The Treaty does not specify which countries were to recover which specific territories renounced by Japan. However, from the above, it is clear that each sub-paragraph is relevant to the rights of one particular country, for example:
            sub-paragraph (b) : rights of China.
            sub-paragraph (c) : rights of the USSR.
            sub-paragraph (d) : rights subsequently conferred upon the United States.
            sub-paragraph (f) : rights of Vietnam.
    This interpretation was confirmed by the refusal by the Conference to consider a Soviet amendment that would include the Paracels and Spratlys into the sphere of Chinese rights. The Soviet amendment reads as follows:
            “1. To Article 2.
            “(a) To include, instead of paragraphs (b) and (f), a paragraph reading follows: Japan recognizes full sovereignty of the Chinese People’s Republic over Manchuria, the Island of Taiwan (Formosa) with all the islands adjacent to it, the Penlinletao Islands (the Pescadores), the Tunshatsuntao Islands (the Pratas Islands), as well as over the Islands of Sishatsuntao and Chunshatsuntao (the Paracel Islands, the group of Amphitrites, the shoal of Maxfield) and Nanshatsuntao Islands including tile Spratly, and renounces all right, title and claim to the territories named here in.
    The Soviet Amendment was defeated during the 8th plenary session of the Conference. The President of the Conference ruled it out of order, the ruling being sustained by a vote of 46 to 3 with 1 abstention (49). Chinese claims to the Paracels and Spratlys were thus overwhelmingly disregarded.
     At a later date, the government of the Republic of China restated its claims based on the separate peace treaty between it and Japan (April 28, 1952). Actually, the provision concerning the Paracels and Spratlys in that treaty was an exact restatement of Article 2 (f) of the San Francisco Treaty. Once again, Japan declined to specify in favor of which country it renounced its occupied territories. In any case, it must be stressed again that there exists an elementary principle of law that a state (in this case Japan) cannot transfer more rights than it itself possesses, in accordance with the maxim Nemo dat quod non habet. Generally speaking, the illegitimacy of China’s claims over the Hoang Sa and Truong Sa archipelagoes is due to the lack of animus occupandi on Chinese’s part. It is true that fishermen from Hainan Island have frequented these islands in the past and that Chinese travelers occasionally stopped there. But unlike what has been done by Vietnam, activities by private Chinese citizens were never followed by governmental action. As late as 1943, although Marshall Chiang Kai Shek represented the only country having claims to the Paracels and Spratlys at the Cairo Conference, he did not have any reference to these islands included in the final Declaration (which did state that Manchuria, Formosa and the Pescadores must be returned to China). Because of the weakness of its argument, China has always declined all suggestions, repeatedly made, in the past by France, that the dispute be settled before international courts.
    For the same reason, the People’s Republic of China had to resort to gratuitous affirmations, threats and violence to assert her claims to the Vietnamese Hoang Sa and Truong Sa Islands. These claims are a mere revival of the old Chinese imperialistic drive known to all South-East Asia nations. The islands, islets, shoals and banks that the People’s Republic of China claims as a the outposts of Chinese territory)) cover the entire South China Sea, and would virtually convert the whole sea into a communist Chinese lake.
    After the San Francisco Peace Conference, successive Vietnamese Governments have assured a systematic defense of the Hoang Sa and Truong Sa islands by all means available to a sovereign state. After 1956, when stability had returned to the Republic of Vietnam following the Geneva Agreement of 1954, military and diplomatic activities became more intense. As mentioned before, navy patrols were conducted on a regular basis. When deemed necessary, the government of the Republic of Vietnam solemnly reiterated its rights over the islands (statements by the Ministry of Foreign Affairs on June 1, 1956 and July 15, 1971). Necessary steps were also taken vis-a-vis foreign governments in order to assert the Vietnamese title. For instance, a note to the Malaysian Government dated April 20, 1971 contained all the convincing arguments in support of Vietnamese sovereignty. This sovereignty was so evident that it could only be contested through military actions.

The Chinese invasion of January 19-20, 1974.
    Before 1974, the People’s Republic of China had aired sporadic claims to the Hoang Sa and Truong Sa Islands. Occasionally, it conducted secret actions against the islands, such as the intrusion of – fishermen , into Vietnamese uninhabited territories. However, at the beginning of 1974, the People’s Republic of China resorted to blatantly aggressive tactics in order to militarily seize the Hoang Sa archipelago. The following is an account of the invasion made by the Minister of Foreign Affairs of the Republic of Vietnam. In the face of the extremely grave situation created by the PRC’s imperialistic action, RVN Foreign Minister Vuong Van Bac summoned the heads of all diplomatic missions in Saigon on January 21st, 1974 and made the following statement:
Excellencies,

Gentlemen,

” I have invited you to gather here today to inform you of recent events which have taken place in the area of the Hoang Sa (Paracel) archipelago off the central coast of Vietnam. These events have created an emergency situation susceptible of endangering peace and stability in South East Asia and the world.

” The Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagoes are a part of the territory of the Republic of Vietnam. The sovereignty of our country over these archipelagoes based on historical, geographical and legal grounds as well as on effective administration and possession, is an undeniable fact.

” On the 11th of January 1974, the Ministry of Foreign Affairs of Red China suddenly claimed sovereignty over these archipelagoes. Our Ministry of Foreign Affairs immediately rejected those unfounded pretensions.

” From then on, Communist China chose to use force to seize that portion of our national territory. It sent men and warships into the area of the islands of Cam Tuyen (Robert), Quang Hoa (Duncan) and Duy Mong (Drumond) of the Hoang Sa (Paracel) archipelago, and landed troops on these islands.

” On January 16, 1974, the Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Vietnam issued a statement to denounce these unlawful acts.

” In the meantime, in accordance with international regulations, naval units of the Republic of Vietnam instructed those men and ships violating the land and sea territory of the Republic of Vietnam to leave the area.

“The Red Chinese authorities not only refused to put an end to their unlawful incursions but also sent in additional reinforcements in troops and warships. They opened fire on the troops and naval units of the Republic of Vietnam, causing causalities and material damages. The Ministry of Foreign Affairs of the Republic of Vietnam issued a communiqué on the 19th of January alerting world public opinion on these serious acts of hostility.

” On the 20th of January 1974, the Red Chinese authorities escalate further in the use of force against an independent and sovereign country. They sent their warplanes to bomb three islands : Cam Tuyen (Robert), Vinh Lac (Money) and Hoang Sa (Pattle) where units of the Armed Forces of the Republic of Vietnam were stationing, and also ‘landed their troops -with the aim of capturing these islands.

” Communist China is therefore openly using force to invade a portion of the Republic of Vietnam’s territory in violation of international law, of the Charter of the United Nations, of the Paris Agreement of January 27, 1973 which it pledged to respect and of the Final Act of March 2, 1973 of the International Conference on Vietnam to which it is a signatory.

” The Government and people of the Republic of Vietnam shall not yield to such brazen acts of aggression. They are determined to safeguard their national territory.

” I kindly request you to report to your Governments on this grave situation. The Government of the Republic of Vietnam also wishes that your Governments would adopt an appropriate attitude and take appropriate action in view of those acts committed recently by the Communist Chinese authorities in the Hoang Sa (Paracels) archipelago, in complete disregard for international law and the sovereignty of other nations.

Thank you.

    In the naval battle, the soldiers of the Republic of Vietnam fought heroically although they were outnumbered and outgunned. They suffered 18 deaths and 43 wounded, and, in addition, 48 Vietnamese personnel were illegally detained by the PRC’s invaders. Among those were four civilian employees of the Pattle Meteorological Station: this is an evidence that Vietnamese authorities were conducting peaceful activities on the islands before troops had to be sent in to cope with PRC’s provocations. Strongly condemned by world opinion, the PRC government had to release these personnel within 3 weeks in an attempt to appease the indignation caused by its blatant violation of the law of nations. Opinions sympathetic to the Republic of Vietnam were expressed everywhere in the world, especially in Asia where Vietnam was often hailed as the nation resisting communist Chinese expansionism. Even the Soviet newspaper Pravda accused the PRC a not to hesitate to resort to arms in order to impose its will in Southeast Asia, specifically on the Paracel and Spratly Islands – (50). Also in Moscow, Tass provided a summary of an article from “New Times – (a Soviet political weekly). The article quoted the PRC’s support of separatist movements in Burma, Bangladesh and India among other Peking’s provocations in order to – intensify pressures on independent countries of Asia)-. According to -New Times,, this coincided with Peking’s military actions on the Paracels (51).
    Convinced of its rightful position, the Republic of Vietnam appealed to world opinion and seeked the intervention of all bodies that could contribute to a peaceful settlement. As early as January 16, 1974 its Minister for Foreign Affairs sent a note to the President of the Security Council of the United Nations to bring to his attention the grave tensions created by the PRC’s false claims. After he had presented arguments in support of Vietnamese’ sovereignty over the Hoang Sa Islands, Minister Vuong Van Bac wrote: “In view of all the Precise facts listed above,, the sudden challenge by Communist China of the Republic of Vietnam’s sovereignty over the Paracels archipelago and its violation of the Republic of Vietnamese sovereignty are unacceptable. They constitute a threat to the peace and security of this region.
    ” The Government and people of the Republic of Vietnam are determined to defend their sovereignty and their territorial integrity and reserve the right to take all appropriate measures to this end.
    “The Republic of Vietnam considers the situation created by the above People’s Republic of China’s action as one which is likely to endanger international peace and security. Therefore the Government of the Republic of Vietnam wishes to request the Security Council to take all appropriate measures that the Council deems necessary to correct that situation.”. The Minister addressed the United Nations again on January 20. .1974, while troops of the Republic of Vietnam were still fighting back the PRC’s invaders in the Hoang Sa waters. He wrote to the Secretary General of the U.N. to inform him of the hostilities that started on January 19, 1974 when the Chinese landing party opened fire on Vietnamese defenders. After denouncing the clear case of c aggression across international borders, against an independent and sovereign state,,. Minister Vuong Van Bac requested that the Secretary General, in accordance with Article 99 of the Charter of the United Nations, draw the attention of the Security Council on the grave situation. For its part, K the Government of the Republic of Vietnam accepts in advance the obligations of pacific settlement provided in the Charter of the United Nations, and – reaffirms its faith on the United Nations and its acceptance of the purposes and principles enunciated in the Charter of the Organization . Although the Government of the Republic of Vietnam was fully aware that the PRC, as a permanent member of the Security Council had the power of veto (a fact which left little hope for any constructive debate or positive action), it chose to request an immediate meeting of the Security Council. The attention of the Council must be drawn on the grave situation resulting from the PRC’s aggression because, as Minister Bac pointed out in has note of January 24, 1974 to the Council’s President (Ambassador Gondola Facio) : “It behooves the Security Council and its members to fulfill their responsibilities and to decide on what to be done to correct that situation “. Indeed, the PRC promptly tried to justify its blatant act of invasion by presenting a completely distorted version of the facts. A PRC’s statement referred to c actions by the Saigon authorities in South Vietnam which sent naval and air forces to encroach on the Yungle Islands of China’s Hsisha Islands , (!).
    In a press conference on January 25, 1974, the President of the Security Council stated that the Vietnamese request had all legal grounds to deserve consideration, therefore he regretted that a Council meeting could not be convened for that purpose.
    The legitimacy of its rights motivated the Republic of Vietnam to use all available means of action to defend its just stand. A recourse to the International Court of Justice has been contemplated. On January 22, 1974 the President of the Republic of Vietnam wrote personal letters to the Heads of State in all friendly countries. After he had presented how the PRC’s violation of Vietnamese sovereignty created a threat to peace in South East Asia, President Nguyen Van Thieu concluded:
    “I am therefore writing to you…. to kindly request that you raise your voice in defense of peace and stability in this area of the world and resolutely condemn the violation by the PRC of the sovereignty of the Republic of Vietnam over the archipelago of Hoang Sa”. In other actions taken in defense of Vietnamese sovereignty, the Minister for Foreign Affairs of the Republic of Vietnam solemnly reaffirmed before the 3rd United Nations Conference on the Law of the Sea in Caracas that the Vietnamese people will not yield to the PRC’s act of violence and that they will never renounce any part of their insular territories (June 28, 1974). The Government of the Republic of Vietnam also sent a note on January 21, 1974 to the. signatories of the Act of the International Conference on Vietnam (March 2, 1973). This document, signed in Paris by 12 countries including the PRC and in the presence of the Secretary General of the United Nations acknowledged, and provided guarantees for, the provisions of the agreement to end the war signed on January 27, 1973. First the Vietnamese note presented the facts related to the PRC’s aggression, then it pointed out that:
    “It is clear from these developments that the government of the People’s Republic of China is deliberately resorting to the use of force as a means of acquiring territories, which is a gross violation of… the Agreement to End the War and Restore Peace in Vietnam signed in Paris on January 27, 1973 and the Act of the International Conference on Vietnam signed at Paris on March 2nd, 1973.
    “The Government of the Republic of Vietnam wishes to call the particular attention of the Parties to Article 1 of the Paris Agreement and Article 4 of the Act of the Paris International Conference, which both solemnly recognize that the territorial integrity of Vietnam must be strictly respected by all states and especially by the signatories of the Final Act.
    “In view of the seriousness of the present situation, the Government of the Republic of Vietnam appeals to the Parties, in the interest of peace and stability in the Western Pacific area, to take all measures which the Parties deem appropriate as provided in Article 7 of the Act of the international Conference on Vietnam – (52). The PRC’s aggressive aims is not limited to the Hoang Sa Islands. There were indications that Chinese troops were preparing to head for the Truong Sa (Spratly) archipelago after they had seized the Paracels on January 20, 1974 (53). On the other hand, in February 1974, the Philippines and the Republic of China also restated their claims to the Truong Sa Islands. The Republic of Vietnam rejected these unfounded claims by separate notes to the Republic of China (January 29, 1974) and to the Philippines (February 12, 1974). But the Government of the Republic of Vietnam also deemed it necessary to make its position clear to x friends and foes alike , and to reiterate its right before an universal audience. Thus, a solemn proclamation at the governmental level was issued on February 14, 1974. This declaration is the text reproduced at the beginning as an introduction to this White Paper.

CONCLUSION
UNANIMITY OF THE PEOPLE OF THE REPUBLIC OF VIETNAM AGAINST AGGRESSION

    The events of January 1974 had the effect of cementing the entire Vietnamese nation into a bloc resolutely united in order to defend the national sovereignty. After the invasion by troops of the People’s Republic of China, all newspapers (including those of the Opposition) and other media in Saigon unanimously backed the Government of the Republic of Vietnam in its determination to fight for the Hoang Sa Islands. The media’s opinion and the feeling of the people can be summarized by the following editorial in the Dan Chu daily: ” In the middle of a difficult battle to repulse 400,000 North Vietnamese back to the North and a struggle for economic development, the Paracels battle is another burden on our shoulder. The naval battle between us and China has temporarily ceased with both sides suffering heavy casualties and material damages. But in reality, it was only just a beginning. The method to carry on the fight will be flexible depending on the development of the situation but the goal remains the same. The South Vietnamese will not stay idle, crossing their arms, to see their ancestral inheritance stolen away.” Although the Vietnamese are known to be war-weary, enthusiastic mass rallies were held in virtually every city and town to condemn the PRC’s aggression. Everywhere the people unanimously adopted resolutions denouncing before public opinion the violation of Vietnamese sovereignty. Most of these resolutions also asked the Government and Armed Forces of the Republic of Vietnam to take appropriate measures against the invaders. The warship Ly Thuong Kiet received a hero welcome by an overwhelmingly enthusiastic crowd upon its return from the Hoang Sa battle. On January 21, 1974 the Vietnamese Confederation of Labor stated that Communist China committed a an extremely serious act infringing on the Republic of Vietnam’s sovereignty and crudely challenging the national spirit of the Vietnamese people living from Nam Quan Pass (54) to Ca Mau Cape. , The Saigon Students Union issued a declaration which vehemently denounced the invasion to University students over the world. The War Veterans Association made a solemn proclamation to condemn the – Red China’s violation of intemational law – and expressing deep gratitude to the Vietnamese combatants or their heroic fight against the aggressors. Abroad, Vietnamese students and residents in several countries demonstrated in an attempt to alert world opinion: in Tokyo, Ottawa, New York etc…. Vietnamese students marched against the PRC’s diplomatic mission; in Geneva, Vietnamese students went on a hunger strike to draw attention on the PRC’s violation of international public order. The indignation of the entire Vietnamese people at home and abroad was reflected in a true manner in the declaration of the National Assembly (Senate and House of Representatives) of the Republic of Vietnam. This declaration says, in part, that c Communist China… has clearly demonstrated her scheme of invasion and expansion, (and) poses a serious threat to peace in the Pacific Region. Therefore, the National Assembly denounces to the public opinion at home and abroad Communist China’s brutal act of invasion, seriously infringing upon the territorial sovereignty of the Republic of Vietnam and – urgently appeals to the United Nations Security Council, the International Court of Justice and peace-loving countries in the world to take positive actions to put an end to the above-mentioned brutal act…” The people of the Republic of Vietnam are thus unanimous in their determination to defend the integrity of their territory. On behalf of the Vietnamese nation, the Republic of Vietnam resolutely demands that all portions of her territory that are illegally occupied be restored to Vietnamese sovereignty. The Government of the Republic of Vietnam solemnly condemns the brazen act of invasion of the Hoang Sa Islands by troops of the People’s Republic of China in January, 1974. It strongly denounces illegal actions against its Truong Sa territories by any other country. It rejects all claims by any power over these Islands and regards attempts to occupy them as violations of international law and of Vietnamese sovereignty. Although deeply committed to the cause of peace, the Republic of Vietnam must reserve the right to consider all means of action if occupying powers decline to follow the lawful and peaceful channels of settlement to restore Vietnamese rights.
    The Hoang Sa archipelago and some of the Truong Sa Islands have temporarily been lost. But these insular territories will live for ever in Vietnamese hearts and will some day be restored to the Fatherland.

——————————————————————–

SELECTED BIBLIOGRAPHY

1. GOVERNMENT PUBLICATIONS.
    – State History Academy (Quoc Su Quan). Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien Volumes L, LII, CIV, CLIV and CLXV; printed in 1848.- Ministry of Public Works. Kham Dinh Dai Nam Hoi Dien Su Le, section 204; 1851.- State History Academy. Dai Nam Nhat Thong Chi (6th Volume: Quang Nghia Province); last edition: 1910 original work in Chinese characters, translated into modern Vietnamese by Cao Xuan Duc Saigon 1964.- State History Academy. Quoc Trieu Chinh Bien Toat Yeu, 3rd Volume. Last edition: 1925S; originally in Chinese characters ,translated into modern Vietnamese by the ” History and Geography Research Group ., Saigon 1972.
    – Protectorate of Annam Bulletin Administratif de l’Annam, Hue, Years: 1932 and 1938 through 1945.
    -Ministry of Economy, Republic of Vietnam, Mineral Distribution Map of the Republic of Vietnam; Tectonic Map of the RVN; Preliminary Metallogenic Map of the RVN; Saigon
    – Ministry of Information and Open Arms, RVN. Hoang Sa, Lanh tho VNCH, Saigon 1974.

2. OTHER WORKS PUBLISHED IN VIETNAM.
Books originally in Chinese characters.
    – Do Ba. Toan Tap Thien Nam Tu Chi Lo Do Thu, published circa 1653. Map of Quang Ngai Province and accompanying notes translated by Truong Buu Lam in Hong Duc Ban Do, a publication of the Historical Research Institute, Saigon 1962.
    – Le Qui Don. Phu Bien Tap Luc, 1776; translation into modern Vietnamese by Le Xuan Giao, Saigon 1972.
    – Phan Huy Chu. Lich Trieu Hien Chuong Loai Chi; year of original publication uncertain; translation into modern Vietnamese by Nguyen Tho Duc Saigon 1971
Modern publications
    – Claeys, Jean Yves. ” The Vietnamians and the Sea . in Asia Quarterly of Culture, Volume III. June 1953, Saigon.
    – Dinh Phan Cu Chu Quyen Quan Dao Hoang Sa va Truong Sa, National School of Administration, Saigon 1972.
    – Cucherousset, Henri:
        La Question des iles Paracels . In L’Eveil Economic de l’Indochine, Hanoi issues of January 27, 1929; May 19, 1929; May 26, 1929: February 26, 1933.
        Les iles Paracels et la securite de l’Indochine ., ibid, May 10, 1931. L’lndochine aux Paracels ., ibid., May 31. 1931. Histoire moderne des iles Paracels ., ibid., July 3, 1932 and July 17, 1932.
        A la conquete des iles a phosphates (Spratley) ., ibid., May 28, 1933.
        Les Annamites et la Mer ., ibid., February 25, 1934
    – Lacombe, A.E. “Histoire moderne des iles Paracels., ibid., May 22,1933.
    – Lam Giang. “Nhung su lieu Tay phuong chung minh chu-quyen Viet Narn ve quan dao Hoang Sa, Truong Sa “, in Su Dia review, n° 29, January-March 1975, Saigon.
    – Le Thanh Khe. ‘Chu quyen Viet Nam Cong Hoa tren hai quan dao Truong- Sa va Hoang Sa in the review Chinh Tri va Cong Dan, issue of Jan. 1, 1972′.
    – Malleret, Louis. Une tentative ignoree d’etablissement francais en Indochine au 18e siecle . in Bulletin de la Societe des etudes indochinoises, no. 1, Hanoi, 1942.
    – Pasquier, P. Histoire moderne des iles Paracels . in L’Eveil economique de 1′Indochine, issue of June 12, 1932.
    – Pham Quang Duong. Van de chu quyen tren dao Hoang Sa in Su Dia, Dalat, issue of November 1970; ” Cuoc tranh chap chu quyen tai quan dao Truong Sa , ibid; issue of November 1971.
    – Sale, Gustave. Les iles Paracels . in Avenir du Tonkin, Hanoi, issue of April 17, 1931.
    – Salles, A. Le Memoire sur la Cochinchine de J.B. Chaigneau ., Bulletin des amis du Vieux Hue, Hanoi, isisue of April-June 1923.
    – Tran Dang Dai, Mr. and Mrs. ‘ Hoang Sa qua vai tai lieu van kho cua Hoi Truyen-giao Ba Le in Su Dia issue of January-March 1975.
    – Tu Minh. Cuoc tranh chap chu quyen tren cac quan dao Hoang Sa vi Truong Sa, in Bach Khoa, issue of February 9, 1914
    – Vo Long Te. Les archipels de Hoang Sa et de Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d’histoire et de geographie, Saigon 1974.
Scientific Studies
    – Chevey, Pierre. Temperature et salinite de l’eau de mer de surface des iles Paracels, (43rd Report of the Indochina Oceanographie Institute), Saigon
    – Chevey, Pierre. Iles et recifs de la mer de Chine, in Bulletin de la Societe des Etudes Indochinoises, May 1934.
    – Clerget, Maurice. Contribution a l’etude des iles Paracels Les phosphates.
    – Delacour, J. and Jabouille, P. Oiseaux des iles Paracels, Saigon 1930.
    – Fontaine, Henri and Le Van Hoi. Contribuhon a la connaissance de la ftore des iles Paracels. Faculty of Sciences, Saigon 1957.
    – Krempf, A. La forme des recifs coralliens et le regime des vents alternants Saigon 1921,
    – Kunst, J. Die strittigen Inseln in Südchinesischen Meer, in Zeitschrift für Geopolitik, Berlin / Heidelberg, 1933.
    – Saurin. E. ” Notes sur les iles Paracels . in Archives geologiques du Vietnam, Saigon 1955; ” Faune malacologique des iles Paracels . in Journal de Conchiliologie, volume XCVIII, Paris 1958; Gasteropodes marins des iles Paracels, Faculty of Science, Saigon 1960 (I), l961 (II); Lamellibranches des iles Paracels, Saigon 1962,

3. FOREIGN PUBLICATIONS
    – Barrow, John. A Voyage to Cochinchina, London 1806.
    – Boudet. Paul and Masson, Andre. Iconoraphie historique de L’lndochine francaise, Paris 1907.
    – D’Estaing (Admiral). Note su- l’Asie demandee par M. de la Borde a M. d’Estaing, manuscript (1768), archives of the French Government.
    – Government of the French Republic. Journai Officiel, July 26, 1933, Ministere de la Marine: Depot des cartes et plans. Les Paracels, Paris.
    – Manguin, Pierre Yves. Les Portugais sur les cotes du Vietnam et du Campa PEFEO, Paris 1972.
    – Rousseau, Charles. Le differend concernsnt rappartenance des lles Spratly et Paracels, in Revue generale de Droit international public, July-September, 1972, p. 826, Paris
    – Saix, Olivier. · Iles Paracels, in La Geographie, issue of November-December 1933, Paris.
    – Sauvaire, Jourdan. ” Les Paracels infiniment petits de notre domaine colonial, in La Nature, issue of November 1, 1933, Paris.
    – Serene, R. ” Petite histoire des iles Paracels,· in Sud Est Asiatique, issue January 19, l9S1, Brussels.
    – Silvestre, Jules. L’Empire d’Annam et le peuple annamite, Paris 1889
    – Taberd, Jean Louis. ” Note on the Geography of Cochinchina, in Journal of the Royal Asiatic Society of Bengal, India, issue of April 1837.
    – United Nations. ECAFE. Phosphate Resources of Mekong Basin Countries, Bangkok 1972.
    – United States Government. The Spratly / Paracels Islands Dispute, U.S. Army Analysis Q1066; Conference for the Conclusion and Signature of the Treaty of Peace with Japan, Dept. of State Publication 4392; Washington D.C.- Vivielle, J. ” Les llots des mers de Chine, in Monde colonial iZZustre, September 1933, Paris.

——————————————————————–

Notes:
We are sorry! Due to the printing difficulties, we can not complete the auditing this paper.
    1. The Atlas is being kept at the ” Ecole Francaise d’Extreme Orient”, Tokyo Bunko Library in Tokyo, Japan, has a microfilm of it under reference number 100891.
    2. Ly is an ancient unit of measure (1 ly: 483 meters or 528 yards).
    3. Dai Chiem: present-day Cua Dai, province of Quang Nam; Sa Vinh: present-day Sa Huynh, province of Quang Ngai.
    4. The author assumedly included in three Hoang Sa archipelagoes main islands and reefs closer to the Vietnamese shore than the islands desigated as the Paracels in the 20th century…
    5. Internationally-known Vietnamese historians have, directly or indirectly, contributed to the task of determining the date of the Do Ba document. Among them are Prof. Hoang Xuan Han and historian Truong Buu Lam, who has been associated with many American universities. Details on this question can be found in Vo Long Te, Les Archipels de Hoang Sa et Truong Sa selon les anciens ouvrages Vietnamiens d’Histoire et de Geographie. – Saigon. 1974.
    6. Summarized and commented in Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extreme Orient, Vol. XXXVI, 1936.
    7. This term is often used to designate all the distant insular posseessions of Vietnam.
    8. Lettres edifiantes et curieuses des Missionnaires de Chine, quoted in the Revue Indochine, No. 46, p. 7.
    9. The document was reprinted in Bulletin des etudes indochinoises, tome XVII, No. l Hanoi, 1942.
    10.  Archives of the French Navy, Ministere de la Marine, Paris. The document was reprinted in Bulletin de la Societe des Etudes indochinoises, tome XVIII, No. 1, Hanoi, 1942.
    11. Translation into French from Arrow’s book is available in Paul Boudet and Andre Masson. Iconographie historique de l’Indochine Francaise, p. 250-300. Paris, editions G. Van Oest. 1907.
    12. Issue of April 1837. pp. 737-745.
    13. Jean Baptiste Chaigneau, Notice sur la Cochinchine, presented and commented by A. Salles in Bulletin des amis du Vieux Hue, No. 2, April – June 1923, p. 253-283.
    14. History annals called – Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 1833, 104th Volume).
    15. Principle of international law established after the Palmas Island dispute (1928). See United Nations – Reports of International Arbitral Awards, pp. 829-855.
    16. History annals Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien
    17. History annals Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 165th volume.
    18. In Vietnamese: – Dai Nam Nhat Thong Toan Do – Dai Nam is a former name for Vietnam.
    19. Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 154th Volume. The same description is given by the Dai Nam Nhat Thong Chi (Dai Nam Comprehensive Encyclopedia). 6th Volume devoted to Quang Nghia, present day Quang Nam, Province.
    20. Truong, xich, thuoc are ancient units of measure (1 truong: 3.91 yards or 3.51 meters ; I xich or thuoc : 14.1 inches or 0.36 m.).
    21. This isle is erroneously named Ban-Na in other publications, for example Sauvaire Jourdan “Les Paracels infiniment petits de notre domaine colonial.
    22. Annals Dai Nam Thuc Luc Chinh Bien, 154th Volume.
    23. Kham Dinh Dai Nam Hoi Dien Su Le, or Administrative records of the Dai Nam, Ministry of Public Works, p. 25.
    24. History Annals Su Quoc trieu chanh bien toat yeu; Year of original publication unknown. Reprinted in 1935.
    25. Map named Tabula Geographica Imperii Annamitici 1838, reprinted in J. Silvestre, I’Empire d’Annam et le peuple annamite, Paris 1889., Felix Alean, editeur
    26. E. Cortambert and L. de Rosny, Tableau de la Cochinchine, Paris 1862.-Armand.
    27. Sauvaire Jourdan “Les Paracels infiniment petite de notre domains colonial” in La Nature, issue of November 1, 1933, Paris.
    28. Reported by the French Daily…
    29. The French engineer who supervised the work, Mr. Andre Faucheux, is presently 75 years old and lives in Paris.
    30.     …
    31. Memorandum No. l104 VP/CT/M dated October 30, 1950.
    32. Memorandum No. 1220-VP/CT/M dated September 17, 1951 and signed by the Director of Political and Legal Affairs, Government Delegation to Central Vietnam
    33. Decree No. 174-NV dated July 13, 1961.
    34. Decree No. 709-BNV/HCDP/26 dated October 21, 1969 signed by Mr. Tran Thien Khiem.
    35.     …
    36. The coordinates correspond to those of S6ng Tu D6ng (North East Cay) and Shira Island.
    37.     …
    38. It may be noted that the principles established by the intemational Court of Justice in the Palmas decision (1928) cannot but reinforce Vietnamese rights, for instance, the emphasis given to the actual exercise of sovereignty over mere geographic contiguity (see Reports of International Arbitral Awards, United Nations. p. 829).
    39. The lack of seriousness in this undertaking does not deserve further comments. Mr. Tomas Cloma was reported arrested by the Philippine police in November 1974 on charge of committing acts detrimental to state authority on insular territories.
    40. For instance, a comprehensive study of the Spratlys question by Professor Charles Rousseau in Revue Generale de Droit International Public, July-September 1972, does not mention any sort of Chinese claims to this archipelago prior to 1951.
    41. New China; bulletin dated February 4, 1974.
    42. Far-Eastern Economic Review, HongKong, Dec 21, 1973
    43. Mr. Tran Van Manh is presently the Chief of Tuy Hoa Meteorological Service, Republic of Vietnam.
    44. Decree No. 143-NV signed on October 22, 1956 by the laie President Ngo Dinh Diem.
    45. Arrete No. 420-BNV/HCDP/25X signed on September 6, 1973 by the Minister of the Interior.
    46. Rapport sur le fonctionnement de l’Institut Oceanographique de l’Indochine, 22, Note, Saigon 1934.
    47. Reported by Prof. Charles Rousseau in Revue General de Droit International Public July-September 1972, p.830.
    48. Vietnam Press
    49. Conference for the Conclusion and Signature of the Peace Treaty with Japan – Record of Proceedings : U.S. Dept. of State Publication 4392, December 1951. page 292.
    50. Agence France Presse news dispatch sent from Moscow, February 10, 1974.
    51. Reuter news dispatch from Moscow, February 21, 1974.
    52. Article 7 (a) : In the event of a violation of the Agreement or the Protocols which threaten the peace, the independence, sovereignty, unity or territorial integrity of Vietnam, or the right of the South Vietnamese people to self-determination, the parties signatory to the Agreement and the protocols shall, either individually or jointly, consult with the other Parties to this Act with a view of determining necessary remedial measures.
    53. As presented in Chapter III. on February 4, 1974 the PRC issued a particularly aggressive statement on the Truong Sa archipelago.
    54. The Nam Quan pass marks the border between Vietnam and China. 
 

http://www.hqvnch.net/default.asp?id=404&lstid=178

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Tài liệu | Leave a Comment »

Hoàng Sa, Trường Sa

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Trà MiSưu tập

Vài sự kiện và hình ảnh đáng ghi nhớ về Hoàng Sa, Trường sa

1958 – Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân dân Trung hoa tuyên bố:

Hải phận CHNDTH rộng 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho toàn lãnh thổ CHNDTH và các quần đảo của Trung Quốc, kể cả Đài Loan và các quần đảo chung quanh, quần đảo Penghu (hay Pescadores, Bành Hồ – TM), Dongsha (hay Pratas, Đông Sa – TM), Hsisha (Xisha, Trường Sa – TM), Zhongsha (Trung Sa – TM), Nansha (Hoàng Sa – TM) và tất cả những quần đảo ngoài khơi thuộc Trung Quốc.
(Lược dịch đoạn [1] bản “Tuyên bố Hải phận của CHNDTH” 04/09/1958 – PRC’s Declaration on the Territorial Sea)

1958 – Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hoà Phạm Văn Đồng viết:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 04/09/1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
(Trích công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng gởi Tổng lý Quốc vụ Viện CHNDTH Chu Ân Lai ngày 14/09/1958).

1974 – Trung Cộng xâm lăng đảo Hoàng Sa (17-19/01/1974)

1974 – Anh hùng Hoàng Sa

Di ảnh một số anh hùng vị quốc vong thân bảo vệ Hoàng sa (January, 1974)
Nguồn: hoangsa74.tripod.com

1974 – Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là những phần bất khả phân của lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà. Chánh phủ và nhân dân Việt Nam Cộng Hoà không bao giờ chịu khuất phục trước bạo lực mà từ bỏ tất cả hay một phần chủ quyền của minh trên những quần đảo ấy.
(Trích “Tuyên cáo của chánh phủ Việt Nam Cộng Hoà về chủ quyền của Việt Nam Cộng Hoà trên những đảo ở ngoài khơi bờ biển Việt Nam Cộng Hoà”, 14/02/1974)

1974 – Du học sinh việt Nam trên thế giới biểu tình phản đối giặc xâm lăng từ phương Bắc

Sinh viên Việt Nam tại Canada phát khởi biểu tình chống Trung Cộng (Khuôn viên Quốc hội Canda, Ottawa, January 1974)
Nguồn: Ảnh TM

Sinh viên Việt Nam tại Nhật biểu tình chống Trung Cộng (Tokyo, January 1974)
Nguồn: Ảnh tài liệu (TM)

Sinh viên Việt Nam tại Pháp biểu tình trước Đại sứ quán Trung Cộng (Góc đường Georges V, Paris, January 1974)
Nguồn: Ảnh tài liệu (TM)

1988 – Trung Cộng xâm lăng Trường Sa (14/03/1988)
Hai tàu chiến Việt Nam (HQ-604 và HQ-505) bị bắn chìm và 70 thuỷ thủ Việt Nam hy sinh.

2004 – Nhà khảo cứu Nguyễn Nhã:

“…tôi thách thức các nhà nghiên cứu các nước, kể cả Trung Quốc (TQ), có một đề tài xác lập chủ quyền Hoàng Sa mang tính khoa học được như tôi.

…Việc xác lập chủ quyền là của Nhà nước chứ không phải của dân.”

(Trích “Cả một đời nghiên cứu Hoàng Sa”, Lam Điền, Tuổi Trẻ Online, 15/01/2004.)

2007 – Nhà khảo cứu Vũ Hữu San – Một chiến sĩ Hoàng Sa:

“Hải phận Việt Nam một triệu km vuông” (2007)
Bản đồ Hải phận Việt Nam (2007) – Bấm chuột vào đây để xem rõ ảnh đất nước Việt Nam
Nguồn: vuhuusan@yahoo.com

2007 – Lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nói với thanh niên sinh viên Sài Gòn:

“Đất mình thì chật, đường nhỏ … kẹt xe nên không thể tổ chức biểu tình làm rối trật tự an toàn giao thông” – Lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, 09/12/2007
2007 – Thanh niên sinh viên Sài Gòn:

“Nếu đất của chúng ta đã ‘chật’ và ‘hẹp’ thì đừng để mất đi một tấc đất nào nữa,” Uyên Vũ–Quỳnh Vy
(Trích “Bão nổi lên rồi”, Uyên Vũ’s Blog, 11/12/2007)

Đừng để mất đi một tấc đất nào nữa!
Nguồn: blog.360.yahoo.com/Blog bulldog

Giầy Trung Cộng còn trên đất nước Việt Nam. Chân Việt Nam còn dẫm lên cờ Trung Cộng.

Hoàng Sa–Trường Sa–Ta là một, YouTube by talamotweare1

Tổ quốc Việt Nam LÀ MỘT
Dân tộc Việt Nam LÀ MỘT
Chúng ta LÀ MỘT

© DCVOnline

Posted in Biển Đông VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Tài liệu | Leave a Comment »

Trung Quốc và thủ đoạn chiếm đoạt Hoàng Sa, Trường Sa

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Phần 1: Những chứng tích lịch sử

TRUNG QUỐC VÀ THỦ ĐOẠN CHIẾM ĐOẠT HOÀNG SA, TRƯỜNG SADẫn nhập :Từ nhiều thập niên nhà cầm quyền Trung Hoa đã biểu lộ những hành động nhắm về hai quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và Trường Sa (Spratley hay Spratly) của Việt Nam mà họ đặt tên là Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa).

Nước này đã sưu tập nhiều tài liệu nhằm chứng minh rằng từ lâu tổ tiên của người Trung Hoa đã “khám phá” hai quần đảo này đồng thời đến những nơi đó để “khai thác” ; nhưng nhà cầm quyền Trung Hoa sẽ vô cùng lúng túng để trả lời hai điểm sau : Từ bao giờ Trung Hoa chiếm đóng hai quần đảo này và họ đã hành sử “chủ quyền” của họ tại những nơi này như thế nào ?

PHẦN I: QUỐC GIA VIỆT NAM TỪ LÂU ĐÃ HÀNH XỬ QUYỀN LÀM CHỦ CỦA MÌNH MỘT CÁCH LIÊN TỤC TẠI HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA.Hoàng Sa và Trường Sa tọa lạc ngoài biển khơi Việt Nam, giữa Biển Ðông, điểm gần nhất của Hoàng Sa cách cù lao Ré một đảo cận bờ của Việt Nam – khoảng 120 hải lý và cách Ðà Nẵng, về phía Ðông, 170 hảI lý ; điểm gần nhất của quần đảo Trường Sa thì cách vịnh Cam Ranh khoảng chừng 250 hải lý về hướng Ðông.

Những nhà du hành ở thời kỳ khai phá chỉ có một khái niệm rất mơ hồ về Hoàng Sa và Trường Sa. Họ cho rằng nơi đó hiện hữu một vùng biển rộng lớn có nhiều dãi cát và đá ngầm, vô cùng nguy hiểm cho thuyền bè qua lại. Thời xưa người Việt Nam gọi đó là Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Ðại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa… Trong cổ sử cũng như trên các bản đồ của Việt Nam thì ghi nhận như thế. Hầu hết các bản đồ của những nhà hải hành Tây Phương từ thế kỷ thứ 16 đến thế kỷ thứ 18, Hoàng Sa và Trường Sa được ghi dưới các tên Pracel, Parcel hay Paracels [1]. Một cách tổng quát, những bản đồ này đã vẽ vùng Hoàng Sa ở giữa biển Ðông, về phía Ðông bờ biển Việt Nam và cách xa những đảo cận bờ.

Sau này nhờ tiến bộ khoa học và sự phát triển của ngành hàng hải người ta mới phát hiện có những khác biệt rõ rệt giữa Hoàng Sa và Trường Sa.

Hai quần đảo được vẽ hiện nay trên những bản đồ hàng hải quốc tế dưới những tên Paracels và Spratley hay Spratly, thực sự là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Các tên “Xhisha” và “Nansha” là những cái tên mà nhà cầm quyền Bắc Kinh chỉ mới đặt ra từ vài thập niên nay cho hai quần đảo này với dụng ý làm cớ nhằm biện hộ cho việc xâm lấn của họ sau này.

1/ Chủ quyền lịch sử của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Dân tộc Việt Nam từ lâu đã khám phá Hoàng Sa và Trường Sa. Quốc gia Việt Nam đã chiếm hữu và hành sử chủ quyền của mình tại các nơi đây.

Nhiều bộ cổ sử và nhiều bản đồ xưa của Việt Nam đã ghi nhận một cách rõ rệt rằng Bãi Cát Vàng, Hoàng Sa, Vạn Lý Hoàng Sa, Ðại Trường Sa hay Vạn Lý Trường Sa đã từ lâu là lãnh thổ của Việt Nam.

* Bộ Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư, là bộ bản đồ của Việt Nam do Ðỗ Bá, tự Công Ðạo, thành lập vào thế kỷ thứ 17, đã ghi đại ý rất rõ rệt trong phần phụ chú phủ Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Nam rằng: “ngoài biển khơi có một quần đảo với những bãi cát dài, được gọi là Bãi Cát Vàng”, “mỗi năm vào tháng cuối mùa đông, Chúa Nguyễn [2] phái ra đó một hải đội gồm 18 chiếc thuyền để thu nhặt hàng hóa, nhờ vậy mới có được một số lượng lớn vàng, bạc, tiền, súng ống và đạn dược”.

* Bản đồ Giáp Ngọ Bình Nam Ðồ do Ðức Doãn Quận Công Bùi Thế Ðạt thiết lập năm 1774 cũng có ghi nhận Bãi Cát Vàng là một phần lãnh thổ Việt Nam. [3]

* Tác phẩm Phủ Biên Tạp Lục của nhà bác học Lê Quí Ðôn (1726 1784) viết về lịch sử, địa lý và hành chánh của Ðàng Trong (miền Nam hiện nay) dưới thời Chúa Nguyễn, viết rằng những đảo Ðại Trường Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa) thì thuộc về phủ Quảng Ngãi:

“Ngoài khơi cửa An Vĩnh [4] thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, có một đảo tên là đảo Ré, chiều dài khoảng 30 dặm [5]. Ngày xưa, dân làng Tu Chính ra trồng đậu tại đó. Người ta vượt biển đến đó mất bốn canh (một đêm có năm canh). Phía xa hơn đảo Ré là những đảo Ðại Trường Sa. Ở đó có nhiều hải sản và hàng hóa các loại. Công Ty Hoàng Sa được thành lập để ra đó thu nhặt đồ vật. Phải mất ba ngày ba đêm để đến những đảo này, đây là vùng gần Bắc Hải”.

* Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ là bản đồ Việt Nam thành lập năm 1838, có ghi nhận Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ của Việt Nam.

* Ðại Nam Nhất Thống Chí, địa dư chí của Việt Nam được Quốc Sử Quán nhà Nguyễn (1802 1945) viết năm 1882, ghi nhận rằng Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc hành chánh tỉnh Quảng Ngãi. Ðoạn văn liên hệ viết về tỉnh này đại để như sau:

“Ở phía Ðông của tỉnh Quảng Ngãi thì có những đảo cát gọi là Hoàng Sa; nơi đây cát và biển kết lẫn vào nhau để tạo thành bờ triền; phía Tây là vùng núi dựng như là những tường thành chắc chắn; phía Nam tiếp giáp với Bình Ðịnh ở đèo nằm ngang thuộc Bến Ðá; phía Bắc tiếp cận với tỉnh Quảng Nam ở đèo Sa Thọ”.

Từ nhiều thế kỷ đã qua, nhiều nhà hàng hải và truyền giáo tây phương đã xác nhận rằng Hoàng Sa (Parcel hay Paracels) thì thuộc về Việt Nam:

* Một nhà truyền giáo tây phương, đi từ Pháp đến Trung Hoa năm 1701 trên chiếc thuyền tên Amphitrite, đã viết trong một lá thư như sau: “Hoàng Sa là một quần đảo thuộc vương quốc An Nam” [6].

* Linh mục J. B. Chaigneau (Bá Ða Lộc), cố vấn của vua Gia Long, năm 1820 có viết một phụ chú thêm vào trong bút ký “Mémoire sur la Cochinchine” [7]:

“Nước Nam (Cochinchine), đứng đầu là vị Hoàng Ðế, gồm có Cochinchine (tức miền Nam), Tonkin (miền Bắc)… một số đảo có người sinh sống không xa bờ và quần đảo Hoàng Sa (Paracels), gồm có nhiều đảo nhỏ, đá, bãi san hô… không có người ở”[8]

* Linh mục J. L. Tabert, trong “Ghi nhận về Ðịa Lý Việt Nam” (Note sur la géographie de la Cochinchine), xuất bản năm 1837, đã trình bày quần đảo Hoàng Sa như là một phần của lãnh thổ Việt Nam và ghi rõ thêm rằng Việt Nam gọi “Paracels” hay “Pracel” dưới tên là Cát Vàng [9]. Bản đồ An Nam Ðại Quốc Họa Ðồ do ông năm 1838, có vẽ một phần của quần đảo Hoàng Sa với phụ chú : “Paracel hay Cát Vàng”, ở phía ngoài những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam, tức ở vào vị trí của Hoàng Sa hiện tại.

* Qua bài viết “Géographie de l’Empire Cochinchine” của Gutzlaff năm 1849 trong đó có một đoạn ghi nhận rằng Paracels thuộc lãnh thổ Việt Nam, có tên là “Kat Vang” [10].

Các triều đại vua chúa cai trị Việt Nam trong những thế kỷ đã qua đã phái nhiều đội thuyền để thám hiểm nhằm thẩm định tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa. Những bộ sử và địa dư chí của Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 đã ghi lại kết quả của những cuộc thám hiểm này:

* Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư (thế kỷ thứ 17) đại ý viết:

“Ngoài biển khơi có một quần đảo kết tạo bằng những dãi cát dài, có tên “Bãi Cát Vàng”, độ dài khoảng 400 dặm và rộng khoảng 20 dặm, nổi lên từ biển sâu, đối diện với đoạn bờ biển từ bến Ðại Chiêm [11] đến bến Sa Vinh [12]. Vào mùa gió Tây Nam, những thương thuyền của các nước đi ngang vùng này thường bị đắm. Những người đi trên thuyền thì bị chết đói. Hàng hóa thì dồn đống ở nơi đó.” [13]

Lê Quí Ðôn (1776) viết trong Phủ Biên Tạp Lục đại ý như sau:

“Làng An Vĩnh, thuộc huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi thì ở cận biển. Ở ngoài khơi của làng này, về hướng Ðông Bắc, có trên 130 đảo trải dài, lớn nhỏ hay đá ngầm, từ đảo này qua đảo khác khi thì mất một ngày, khi thì mất vài canh bơi thuyền. Trên một vài đảo thì có nước ngọt. Một trong những đảo đó có tên Bãi Cát Vàng, có chiều dài ước lượng 30 dặm, mặt đảo bằng phẳng, tọa lạc ở một vùng nước rất trong; nơi đây có rất nhiều ổ yến. Chim chóc thì nhiều vô số kể và chúng tấn công người không sợ hãi. Người ta cũng gặp rất nhiều sò ốc quái dị, có mầu sắc sặc sở gọi là ốc tai tượng, lớn bằng cái nia và dấu trong thân những hạt to bằng ngón tay, màu đục nhưng không đẹp như ngọc trai; vỏ ốc người ta có thể đẽo ra từng miếng hay dùng để chế biến vôi làm nhà. Cũng có những loại ốc xa cừ dùng để chạm trổ và ốc hương. Thịt ốc có thể muối hay dùng làm nhiều món ăn. Những thương thuyền ngoại quốc bị gặp bão ở vùng biển này thì thường bị đắm và trôi dạt vào ở những đảo này”.

* Ðại Nam Thực Lục Tiên Biên, là một quyển lịch sử nói về các Chúa Nguyễn, do Quốc Sử Quán viết năm 1844 (nhà Nguyễn) viết đại ý như sau:

“Ngoài khơi làng An Vĩnh huyện Bình Sơn phủ Quảng Ngãi có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, trải dài hàng ngàn dậm nên gọi là Vạn Lý Trường Sa; khoảng cách từ đảo này đến đảo kia độ một ngày hoặc vài canh đi thuyền. Trên một vài đảo có giếng nước ngọt. Sản phẩm ở đây gồm hải sâm, rùa, đồi mồi, sò ốc có hình màu sắc sặc sở v.v…”

* Ðại Nam Nhất Thống Chí (1882) có ghi đại ý:

“Quần đảo Hoàng Sa ở phía Ðông của đảo Ré, huyện Bình Sơn. Bắt đầu từ bờ biển Sa Kỳ, nếu thuận gió người ta có thể đi đến đó trong ba hay bốn ngày thuyền. Người ta tính có hơn 130 đảo và đá ngầm lớn nhỏ, những đảo này cách nhau có khi một ngày, có khi vài canh đi thuyền. Trong những đảo này, có những bãi cát vàng trải dài hàng trăm dặm gọi là Vạn Lý Trường Sa. Trên những dãi cát đó có giếng nước ngọt và chim chóc ở đó nhiều vô số kể. Ngưòi ta cũng thấy có hải sâm, rùa, sò ốc có màu sắc sặc sở, đồi mồi… và hàng hoá của những thương thuyền bị bão đánh đắm”.

* Theo Ðại Nam Thực Lục Chính Biên, lịch sử của nhà Nguyễn, viết năm 1848, Trương Phúc Sĩ là Ðội Trưởng, sau khi lãnh mệnh đi Hoàng Sa để lấy địa hình thì trở về có tâu lên vua Minh Mệnh rằng Hoàng Sa “được kết tạo do những dãi cát ở ngoài khơi và kéo dài vô định”. [14]

Những bộ sách khác viết dưới thời nhà Nguyễn như Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí (1821), Hoàng Việt Ðịa Dư Chí (1833), Việt Sử Cương Giám Khảo Lược (1876) đều diễn tả Hoàng Sa với những chi tiết tương tự.

Vì biết rằng Hoàng Sa và Trường Sa có nhiều hải sản quí giá và nhiều hàng hóa do những thuyền buôn bị đắm trôi dạt vào, cho nên các triều đại của Việt Nam từ thời xa xưa ấy đã tổ chức để gây huê lợi các nơi đây, biểu lộ vì thế tính chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại các nơi đó. Có nhiều sách về lịch sử và địa dư của Việt Nam đã ghi nhận một cách rất rõ rệt việc tổ chức và cách thức sinh hoạt của các công ty Hoàng Sa có nhiệm vụ làm huê lợi tại các đảo này.

* Toàn Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Ðồ Thư (thế kỷ 17) có viết đại ý:

“Mỗi năm vào tháng cuối của mùa Ðông, chúa Nguyễn gởi ra Bãi Cát Vàng một đội thuyền gồm 18 chiếc để thu nhặt hàng hóa, có được vì thế một số lượng vàng, bạc, tiền, súng ống và đạn dược.”

* Phủ Biên Tạp Lục (1776) ghi đại ý:

“Thời nhà Nguyễn có thành lập công ty Hoàng Sa gồm có 70 người, thuộc làng An Vĩnh, tuyển theo lối luân phiên. Mỗi năm, vào tháng 3, công ty được lệnh chuẫn bị lương thực trong 6 tháng, gồm 5 chiếc thuyên giong buồm đi ra đảo. Phải mất 3 ngày 3 đêm đi thuyền mới đến. Ở đây đi săn và đi đánh cá thỏa thuê. Công ty thu nhặt những hàng hóa của những thương thuyền bị đắm gồm có: dao kiếm, tiền bạc, vòng kiền bạc, đồ vật bằng đồng, những thỏi kẽm, chì, súng, ngà voi, sáp vàng, đồ sứ, vải vóc bằng len cũng như vãy rùa, vỏ đồi mồi, hải sâm, những hạt trai ở trong loại sò ốc có màu sắc rực rỡ. Ðến tháng 8 cùng năm thì đoàn thuyền trở về cập bến Cửa Eo để giao những phẩm vật thu được vào thành Phú Xuân. Những hàng hóa này sau khi cân lượng, khảo sát và định giá và xếp loại tùy theo giá trị. Sau đó người ta có thể bán để lấy tiền riêng những phẩm vật như hải sâm, đồi mồi, sò ốc, nhận giấy chứng nhận và được trở về nhà…”

“Nhà Nguyễn cũng cho thành lập công ty Bắc Hải nhưng không xác định công việc của công ty này. Người ta tuyển người ở hoặc ở làng Tu Chính thuộc phủ Bình Thuận, hoặc ở làng Cảnh Dương, những người tình nguyện khi đã nhận được lệnh công tác thì được miễn các thứ thuế. Những người này xuống thuyền để đi về Bắc Hải, những đảo Côn Lôn, những đảo thuộc vùng Hà Tiên, để đánh bắt rùa, đồi mồi, bào ngư, hải sâm. Chỉ huy trưởng công ty Hoàng Sa cũng là chỉ huy trưởng của công ty Bắc Hải”.

* Ðại Nam Thực Lục Chính Biên (1844) viết đại ý:

“Trong những ngày đầu trị vì, nhà Nguyễn đã thành lập công ty Hoàng Sa gồm 70 người, tuyển từ dân làng An Vĩnh. Mỗi năm, vào tháng thứ ba, những người này xuống thuyền giong buồm ra khơi. Phải mất ba ngày ba đêm mới đến nơi. Họ thu nhặt hàng hóa, đến tháng tám thì trở về và giao nộp những hàng hóa này. Cũng có công ty Bắc Hải tuyển người ở làng Tu Chính, thuộc phủ Bình Thuận, hay ở làng Cảnh Dương. Công ty này giong thuyền ra Bắc Hải, Côn Lôn để thu nhặt hàng hóa. Công ty này cũng được đội trưởng của công ty Hoàng Sa điều khiển.”

* Sau thời chúa Nguyễn, nhà Tây Sơn mặc dầu bận rộn với sự quấy nhiểu liên tục của nhà Thanh và Xiêm La, nhưng cũng nhận thấy sự hữu dụng ở các đảo này nên vẫn giữ nguyên các công ty Hoàng Sa. Trong những tài liệu tìm thấy được, người ta có thể nhắc đến lệnh đại khái sau đây của quan Thượng Tướng Công:

“Lệnh cho Hồi Ðức Hầu thuộc công ty Hoàng Sa dẫn 4 thuyền ra Hoàng Sa và những đảo khác để thu nhặt những đồ vật bằng vàng, bằng bạc, bằng đồng và những khẩu đại bác lớn nhỏ cũng như các loại rùa có vãy, đồi mồi, các loại cá quí sau đó đem những phẩm vật này về kinh đô như tập tục ngày trước.”

Vì thế dưới thời Tây Sơn, chính quyền nước Việt Nam tiếp tục thâu hoạch huê lợi tại Hoàng Sa va thiết lập chủ quyền của Việt Nam tại đó.

* Từ khi lên ngôi năm 1802 cho đến khi ký hiệp ước bảo hộ với Pháp 1884, những vị hoàng đế nhà Nguyễn liên tục có nhiều hành động để củng cố chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Năm 1815 hoàng đế Gia Long phái Phạm Quang Anh cầm đầu công ty Hoàng Sa lãnh sứ mạng tìm hiểu lộ trình hàng hải đi ra Hoàng Sa. [15]

Năm 1816 hoàng đế Gia Long ra lệnh cho thủy binh và công ty Hoàng Sa đi ra đảo Hoàng Sa để nghiên cứu lộ trình đi đến Hoàng Sa. [16]

Năm 1833 hoàng đế Minh Mệnh ra lệnh cho bộ Công chuẫn bị thuyền bè và người để ra Hoàng Sa vào năm tới nhằm xây một đền thờ, dựng một bia và trồng cây.[17]

Năm 1834 hoàng đế Minh Mệnh gởi ra Hoàng Sa đội thủy quân gồm khoảng 20 người, đội trưởng là Trương Phúc Sĩ để làm công tác lấy địa hình. [18]

Năm 1835 hoàng đế Minh Mệnh ra lệnch cho thủy quân Ðô Ðốc Phạm Văn Nguyên đem quân và nhân công thuộc hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Ðịnh ra đảo Hoàng Sa cùng với vật liệu để nhằm xây dựng tại đó một ngôi đền. Một tấm bia, được dựng phía bên trái và một tấm chắn gió, dựng phía trước, của ngôi đền. [19]

Năm 1836 hoàng đế Minh Mệnh chấp thuận một đề nghị của bộ Công, ra lệnh cho thủy quân Ðô Ðốc Phạm Hữu Nhật đem một số chiến thuyền ra Hoàng Sa để làm công việc trắc địa. Công tác này được ghi lại qua Ðại Nam Thực Lục Chính Biên đại ý như sau:

“Tất cả những hải đảo được thăm viếng, dầu là đảo nhỏ hay dãi cát, đều được thám hiểm và được mô tả chính xác chiều dài, chiều rộng, diện tích và chu vi, độ sâu của vùng biển chung quanh, những khó khăn hay dễ dàng lúc tàu bè gặp phải lúc cặp bến. Tất cả được đo đạc và được trình bày trên bản đồ. Mặc khác, cũng phải ghi rõ bến khởi hành, hướng theo đó đi đến nơi và chiều dài ước lượng bằng dặm. Ðồng thời phải định vị các đảo đã cặp bến so với bờ trên đất liền bằng cách xác định tên, tọa độ, phương hướng của phủ, huyện đối diện hay ở kế bên và ước lượng độ dài của đảo đối với bờ trên đất liền bằng dặm. Tóm lại, tất cả đều được ghi chép, mô tả chi tiết tỉ mỉ để trình lên hoàng đế.”

Ðại Nam Thực Lục Chính Biên cũng ghi rằng những cột mốc gỗ do Ðô Ðốc Phạm Hữu Nhật đem theo để cắm trên các đảo được viết những chữ có ý nghĩa như sau:

“Vào năm Bính Thân, tức triều Minh Mệnh thứ 17 (1836), Thủy Sư Ðô Ðốc Tổng Quản Hải Quân Phạm Hữu Nhật lãnh chiếu chỉ ra đảo Hoàng Sa để phụ trách việc lấy trắc địa, đến nơi đây để cắm mốc này để ghi nhớ muôn đời”. [20]

* Những hoàng đế nhà Nguyễn không những chỉ để ý về chủ quyền và lợi lộc của Hoàng Sa và Trường Sa mà còn lo ngại cho sự an ninh của thuyền bè các nước khác đi ngang qua vùng biển này. Năm 1833 hoàng đế Minh Mệnh ra chiếu lệnh cho bộ Công, có nội dung như sau: Lãnh hải đối diện vùng tỉnh Quảng Ngãi là những đảo Trường Sa trải dài bao la mút mắt mà nơi đó bầu trời lẫn lộn với nước biển có chung một màu, người ta không biết được mực nước tại đây nông hay sâu. Thời gian gần đây có nhiều thương thuyền bị đắm. Vì thế bắt đầu từ bây giờ chuẫn bị thuyền lớn để vào năm tới “gởi người đến đó để trồng cây. Cây cối khi lớn lên trở thành rừng, cho phép những nhà hàng hải trông thấy dễ dàng vùng đá ngầm này và tránh xa. Ðây là một công việc mà các thế hệ tương lai sẽ hưởng được kết quả.” [21]

Ðây chắc chắn là một hành động biểu lộ trách nhiệm của vị chủ tể quốc gia về lãnh thổ của nước mình đối với các thương thuyền ngoại quốc. Việc này cho thấy đích thực Hoàng Sa và Trường Sa hiển nhiên là một phần lãnh thổ của Việt Nam.

Những bộ cổ sử và địa chí của Việt Nam cũng như những lời ghi nhận của các nhà hàng hải hay truyền giáo Tây Phương ghi trên, cho thấy rằng từ lâu, và trải dài hàng nhiều thế kỷ, từ triều đại này sang triều đại khác, quốc gia Việt Nam đã làm chủ một cách liên tục hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sự có mặt đều đặn của của công ty Hoàng Sa do nhà nước thành lập tại hai quần đảo này để thi hành công việc trong thời gian 5, 6 tháng mỗi năm, là một bằng chứng không thể phản biện việc hành sử chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo này. Việc quốc gia Việt Nam chiếm hữu cũng như khai thác huê lợi hai quần đảo này chưa bao giờ gặp sự chống đối của bất kỳ một nước nào, kể cả nước Trung Hoa. Việc này cũng là một bằng chứng khác cho thấy đã từ lâu, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ nước Việt Nam.

2/ Pháp Quốc nhân danh Việt Nam tiếp tục hành sử chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Từ khi ký kết hiệp ước 1884 với triều đình nhà Nguyễn, nước Pháp đã thay mặt Việt Nam trong những quan hệ ngoại giao với các nước ngoài đồng thời bảo đảm chủ quyền cùng toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Theo tinh thần của hiệp ước này, nước Pháp tiếp tục hành sử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo đây là một vài bằng chứng:

* Những pháo hạm của Pháp thường xuyên tuần tiễu trong Biển Ðông, kể cả những vùng Hoàng Sa và Trường Sa.

* Năm 1899, Toàn Quyền Paul Doumer đề nghị Paris một dự án xây dựng tại đảo Hoàng Sa (Pattle) thuộc quần đảo Hoàng Sa một đèn pha nhằm hướng dẫn thuyền bè qua lại trong vùng biển này. Dự án không thực hiện được vì thiếu tài chánh.

* Bắt đầu từ năm 1920, đội hải thuyền thuộc quan thuế Ðông Dương tăng cường thêm những vụ tuần tra trong vùng Hoàng Sa để trừ khử nạn buôn lậu.

* Năm 1925, Hải Học Viện Nha Trang đã gởi chiếc thuyền mang tên De Lanessan đến Hoàng Sa để thực hiện một công tác nghiên cứu hải học. Ngoài ông chủ tịch Viện Hải Học là A. Krempf, người ta còn ghi nhận có những nhà bác học khác như Delacour, Jabouille… đã thực hiện những cuộc nghiên cứu về địa chất, về sinh vật v.v…

* Tháng 3 cùng năm (1925), Binh Bộ Thượng Thư Thân Trọng Huệ của triều đình Huế xác nhận thêm lần nữa là Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

* Năm 1927 chiếc thuyền De Lanessan thực hiện một công tác nghiên cứu khoa học tại Trường Sa.

* Năm 1929 sứ bộ Perrier – De Rouville đề nghị xây dựng bốn đèn pha ở bốn góc quần đảo Hoàng Sa [trên các đảo Tri Tôn (Triton), Linh Côn (Lincoln), bãi Ðá Bắc (recif Nord), Bom Bay (Bombay)].

* Năm 1930 Thông Báo Hạm mang tên Malicieuse đến quần đảo Hoàng Sa.

* Tháng 3 năm 1931 chiếc Inconstant đến quần đảo Hoàng Sa.

* Tháng 6 năm 1931 chiếc De Lanessan đến quần đảo Hoàng Sa.

* Tháng 5 năm 1932 pháo hạm mang tên Alerte đến quần đảo Hoàng Sa.

* Từ ngày 13 tháng 4 năm 1930 đến 12 tháng 4 năm 1933, chính phủ Pháp đã gởi những đội ngũ hải quân thả neo liên tiếp trên những đảo chính của quần đảo Trường Sa. Ðó là: Trường Sa (Spratley), An Bang (Caye Amboine), Itu Aba, nhóm hai đảo Sóng Tụ [22], Loại Ta, Thị Tứ.

* Ngày 21 tháng 12 năm 1933, Toàn Quyền M.J. Krautheimer ký một nghị định sát nhập những đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba , Sóng Tụ, Loại Ta, Thị Tứ vào tỉnh Bà Rịa.

* Năm 1937 chính quyền Pháp gởi viên kỷ sư trưởng ngành công chánh tên Gauthier ra đảo Hoàng Sa để lựa chọn nơi thích hợp nhằm dựng một đèn pha và một bãi đáp cho thủy phi cơ.

Tháng 2 năm 1937 tuần dương hạm tên Lamotte Piquet do Phó Ðô Ðốc Estava chỉ huy ghé thăm quần đảo Hoàng Sa.

* Ngày 30 tháng 3 năm 1938, Hoàng Ðế Bảo Ðại ký sắc lệnh nhằm tách Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Quảng Ngãi để sát nhập lãnh địa tỉnh Thừa Thiên.

* Ngày 15 tháng 6 năm 1938, toàn Quyền Brévié ký nghị định nhằm thành lập một ủy ban hành chánh tại Hoàng Sa tùy thuộc tỉnh Thừa Thiên.

* Năm 1938 Pháp cho dựng một cột đánh dấu chủ quyền, hoàn tất việc xây dựng một đèn pha, một trạm thời tiết và một trạm vô tuyến trên đảo Hoàng Sa (Pattle) đồng thời cho xây dựng một trạm thời tiết và một trạm vô tuyến tại đảo Itu Aba thuộc quần đảo Trường Sa.

* Ngày 5 tháng 5 năm 1939, Toàn Quyền Brévié ký nghị định nhằm sửa đổi nghị định ngày 15 tháng 6 năm 1938 và thành lập hai ủy ban hành chánh trên quần đảo Hoàng Sa: Ủy Ban Nguyệt Thiềm “Croissant et indépendances” và Ủy Ban “d’Amphitrite et dépendances”.

Trong suốt thời kỳ đại diện Việt Nam trong lãnh vực giao tiếp với nước ngoài, nước Pháp không ngừng xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phản đối chống lại mọi hành động ảnh hưởng đến việc này.

* Trong chiều hướng đó, ngày 4 tháng 12 năm 1931 và ngày 24 tháng 4 năm 1932, nước Pháp đã phản đối chính quyền Trung Hoa về vấn đề chính quyền địa phương tỉnh Quảng Ðông tổ chức đấu thầu nhằm khai thác phân chim tại quần đảo Hoàng Sa.

* Ngày 24 tháng 7 năm 1933, nước Pháp đã thông báo cho Nhật Bản việc gởi quân ra các đảo chính của Hoàng Sa; Nhật Bản đã phản đối việc này nhưng Pháp đã bác bỏ.

* Ngày 4 tháng 4 năm 1939, nước Pháp đã phản đối việc Nhật Bản đã đặt một số đảo thuộc Hoàng Sa dưới quyền của Nhật Bản.

3/ Việc phòng vệ và sự hành sử chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa từ khi Thế Chiến Thứ 2 kết thúc.

* Sau khi trở lại Việt Nam sau Thế Chiến Thứ 2, chính quyền Pháp đã gởi các chiến hạm đến Hoàng Sa, xây dựng một trạm thời tiết trên đảo Hoàng Sa và chống lại những hành vi xâm lấn của Trung Hoa.

* Ngày 7 tháng 9 năm 1951, trưởng phái đoàn của chính phủ Bảo Ðại là ông Trần Văn Hữu, nhân dịp Hội Nghị San Francisco về việc ký hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, có tuyên bố rằng đã từ lâu Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: “… Và vì phải nắm lấy mọi cơ hội để triệt tiêu tất cả những mầm mống tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền của dân tộc chúng tôi tại Hoàng Sa và Trường Sa, từ muôn đời, những quần đảo này là một phần lãnh thổ của nước Việt Nam.”

Tuyên bố này đã không gây một phản đối, hay một sự dè dặt nào trong 51 nước tham dự tại Hội Nghị.

* Năm 1953, thuyền của kỷ sư trưởng Girod đến Hoàng Sa để làm những nghiên cứu về hải học, địa chất, địa lý và môi trường.

Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa sau đó là chính quyền lâm thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam cũng đã hành sử chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Một vài bằng chứng:

* Năm 1956 hải quân Việt Nam Cộng Hòa tiếp thâu Hoàng Sa và Trường Sa sau khi Pháp rút đi.

* Năm 1956, cục Hầm Mỏ thuộc bộ Công Nghiệp và Thủ Công Nghiệp với sự giúp đỡ của lực lượng Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện một cuộc nghiên cứu trên bốn đảo: Hoàng Sa (Pattle), Quang Ảnh (Monkey), Hữu Nhật (Robert), Duy Mộng (Drumond).

* Ngày 22 tháng 10, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Phức Tuy.

* Ngày 13 tháng 7 năm 1961, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam mà trước đó thuộc Thừa Thiên đồng thời thiết lập tại đó một làng đặt tên là Ðịnh Hải, trực thuộc quận Hòa Vang và đặt ra một ủy viên hành chánh để điều hành.

* Từ năm 1961 đến năm 1963, Việt Nam Cộng Hòa đã cho xây dựng lần lược những trụ cột chủ quyền tại những đảo chính của quần đảo Trường Sa: Trường Sa, An Bang, Sóng Tụ Tây, Sóng Tụ Ðông, Thị Tứ, Loại Ta.

* Ngày 21 tháng 10 năm 1969, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập làng Ðịnh Hải vào quận Hòa Long, trước đó thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.

* Vào tháng 7 năm 1973, Viện Nghiên Cứu Nông Nghiệp thuộc Bộ Phát Triển Nông Nghiệp của Việt Nam Cộng Hòa đã thực hiện một cuộc nghiên cứu tại đảo Nam Ai (Nam Yit) thuộc quần đảo Trường Sa.

* Tháng 8 năm 1973, bộ Kế Hoạch và Phát Triển Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa đã tổ chức, cùng với sự hợp tác của xí nghiệp Nhật Bản có tên Maruben Corporation, việc khảo sát phân chim tại quần đảo Hoàng Sa.

* Ngày 6 tháng 9 năm 1973, Việt Nam Cộng Hòa sát nhập các đảo Trường Sa, An Bang, Itu Aba, Sóng Tụ Ðông, Sóng Tụ Tây, Loại Ta, Thị Tứ, Nam Ai (Nam Yit), Sinh Tồn (Sin cowe) và những đảo chung quanh vào xã Phước Hải, quận Ðất Ðỏ tỉnh Phước Tuy.

Ý thức Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam đã truyền từ đời này sang đời nọ, vì thế chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã hết lòng bảo vệ chủ quyền của mình tại hai quần đảo này mỗi khi có ngoại bang manh nha ý đồ tranh chấp hay muốn lấn chiếm bất kỳ đảo nào tại nơi đây.

* Ngày 1 tháng 6 năm 1956, khi các nước Trung Quốc, Ðài Loan và Phi Luật Tân dành chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa, bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa liền công bố một tuyên cáo xác định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này.

* Ngày 22 tháng 1 năm 1959, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ và giam cầm 82 người dân Trung Hoa lục địa vì những người này đã xâm nhập bất hợp pháp lên đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa.

* Ngày 20 tháng 4 năm 1971, Việt Nam Cộng Hòa xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa nhằm trả lời Mã Lai nhân nước này đòi chủ quyền tại một số đảo thuộc quần đảo này.

* Ngày 10 tháng 7 năm 1971, nhân một cuộc họp báo, Tổng Thống Phi Luật Tân ra tuyên bố về quần đảo Hoàng Sa, Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa xác nhận lại ngày 13 tháng 7 năm 1971 chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo này.

* Năm 1974, Trung Quốc đã dùng vũ lực xâm lăng nhóm đảo phía Tây Nam quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19 tháng 1 năm 1974 chính quyền Việt Nam Cộng Hòa ra tuyên cáo lên án Trung Quốc đã xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam; ngày 28 tháng 6 năm 1974, tuyên bố trước kỳ họp thứ 2 và thứ 3 của Hội Nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Về Biển tổ chức tại Caracas rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về Việt Nam; ngày 14 tháng 2 năm 1974, công bố một tuyên cáo xác nhận hai quần đảo này thuộc lãnh thổ Việt Nam. Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời CHMNVN cũng ra tuyên bố ngày 20 tháng 1 năm 1974 quan điểm của mình qua ba điểm nhằm giải quyết những sai biệt về lãnh thổ.

Ngày 5 và 6 tháng 5 năm 1975, Chính Phủ CMLTCHMNVN công bố đã giải phóng Trường Sa.

* Tháng 9 năm 1975, đại diện của Chính Phủ CMLTCHMNVN tại Hội Nghị Thời Tiết ở Colombo tuyên bố rằng Hoàng Sa thuộc về Việt Nam và yêu cầu OMM tiếp tục ghi nhận trạm thời tiết của Việt Nam tại Hoàng Sa trong danh sách các trạm thời tiết của OMM (Trạm thời tiết Hoàng Sa được ghi trong danh mục OMM với mã số 48.860).

Sau khi thống nhứt năm 1976, Chính Phủ CHXHCNVN đã nhiều lần xác nhận chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, như qua nội dung văn thư đã gởi đến các nước liên quan, hay trong lúc thương thuyết ở cấp phó bộ trưởng bộ Ngoại Giao, bắt đầu ở Bắc Kinh vào tháng 10 năm 1977, hay trong những tuyên bố của bộ trưởng bộ Ngoại Giao nhân dịp Hội Nghị OMM tại Genéve (1980), Ðại Hội Quốc Tế về Ðịa Chất tại Paris (tháng 7 năm 1980), v.v…

Dựa trên căn bản những dữ kiện lịch sử cụ thể và những nguyên tắc của luật quốc tế cũng như tập quán của quốc tế, người ta có thể lấy ra những kết luận như sau:

Thứ nhứt: Quốc Gia Việt Nam đã từ lâu chiếm hữu thực tế các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào lúc mà chúng không thuộc về một nước bất kỳ nào.

Thứ nhì: Từ lúc chiếm hữu đó đến nay trải qua nhiều thế kỷ, Quốc Gia Việt Nam đã hành sử một cách liên tục và cụ thể chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Thứ ba: Quốc Gia Việt Nam đã luôn bảo vệ mạnh mẽ thẩm quyền và danh nghĩa của mình đối với bất kỳ một hành động nào xâm phạm đến chủ quyền, lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam liên hệ đến Hoàng Sa và Trường Sa.

PHẦN II: HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CHƯA – BAO – GIỜ LÀ LÃNH THỔ CỦA TRUNG HOA

Bất chấp thực tế hiển nhiên là Trường Sa và Hoàng Sa thuộc lãnh thổ của Quốc gia Việt Nam, trung ương đảng cộng sản lãnh đạo Trung Hoa đã thử biện hộ cho mưu đồ bành trướng của họ tại Hoàng Sa và Trường Sa qua việc bóp méo nội dung một số cổ sử để mạo nhận rằng “Trung Hoa là nước đầu tiên đã khám phá, khai khẩn, thâu huê lợi và quản lý các quần đảo gọi là Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa). Từ ngàn năm nay, những chính phủ Trung Hoa liên tục đã đặt quyền pháp trên những nơi đây. Dân tộc Trung Hoa là người chủ tại hai quần đảo này không thể phản biện”. [23]Mặc khác, trung ương đảng CS Trung Hoa đã xảo ngôn cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chỉ là những đảo và những dãi cát cận bờ thuộc miền Trung Việt Nam, chứng minh vì thế hai quần đảo này không phải là Tây Sa và Nam Sa của Trung Hoa.

Nhưng thực tế vẫn là thực tế, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã và sẽ vĩnh viễn là của Việt Nam.

1/ Những lý lẽ của nhà cầm quyền Trung Hoa đưa ra nhằm ngụy biện các việc “khám phá”, “khai khẩn” và “thâu huê lợi” của dân tộc Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Những tài liệu đã được Bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 đã nhắc tới hai tác phẩm [24] từ thời Tam Quốc (220 265) để chứng minh rằng từ lâu Trung Hoa đã “khám phá” Tây Sa và Nam Sa. Họ cũng đưa ra một danh sách 6 tác phẩm[25] từ đời Tống đến đời Thanh (thế kỷ 11 đến thế kỷ thứ 19) và xác nhận rằng những tác phẩm này ”kể lại những cuộc hành trình của người Hoa đi đến Tây Sa và Nam Sa và những hoạt động sản xuất mà họ đã thực hiện từ hơn ngàn năm” và “đã đặt tên lần lượt cho hai quần đảo này với những tên sau đây : Jiurulozhou, Shitang, Qianlishitang, Wanlishitang, Changsha, Qianlichangsha, Wanlichangsha » v.v…, để chứng minh rằng dân tộc Trung Hoa đã “khám phá”, “khai khẩn” và “thu hoạch huê lợi” ở Nam Sa và Tây Sa.

Nhưng thực tế thì nội dung phần trích dẫn từ hai tác phẩm thời Tam Quốc thì rất mơ hồ. Riêng về 6 tác phẩm từ đời Tống đến đời Thanh thì chúng chỉ nhằm vào việc ghi chép những sự hiểu biết của dân Trung Hoa qua các thời đại này về các lãnh vực địa lý, lịch sử, tập quán… của những xứ khác trong vùng Ðông Nam Châu Á và vùng Nam Châu Á và về các hải trình từ Trung Hoa đi đến các nước khác ; trong đó không hề có những ghi chép về những cuộc du hành của người Hoa tại hai quần đảo này cũng như sự mô tả về “hoạt động sản xuất” tại đó. Những cái tên ngày xưa, theo Bắc Kinh, là tên mà các tác phẩm đó chỉ hai quần đảo, giả sử rằng thực sự đúng là như thế, thì chúng chỉ là những tên mà người Trung Hoa đã sử dụng trong quá khứ để mô tả địa lý các nước ngoài hay là những hải trình ở trên Biển Ðông, những cái tên của các địa phương này không hề có giá trị pháp lý để chứng minh rằng các quần đảo đó thuộc Trung Hoa.

Riêng về việc “khám phá” của Trung Hoa, giả sử sự việc này đúng như thế, thì nó cũng không có một ý nghĩa pháp lý nào để chứng minh rằng từ thời kỳ đó, những quần đảo mà người Trung Hoa gọi là Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ của Trung Hoa. Sự việc “khai khẩn” và sự việc “thâu huê lợi” của người Hoa tại Tây Sa và Nam Sa giả sử có thật thì cũng chỉ là hành động của cá nhân, vì thế quốc gia Trung Hoa không có cách nào để nhận chủ quyền ở hai quần đảo đó.

2/ Vấn đề giả mạo dữ kiện để minh chứng thẩm quyền của các triều đại Trung Hoa tại Hoàng Sa và Trường Sa qua hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc.

Ðiểm chính mà công luận đòi hỏi chính quyền Trung Hoa phải chứng minh là : từ bao giờ và bằng cách nào quốc gia Trung Hoa chiếm đóng Tây Sa và Nam Sa ? Bắc Kinh đã vô phương giải thích một cách đứng đắn. Vì thế chính quyền Trung Hoa chỉ xác nhận bằng những lời nói chung chung như ”những nhà cầm quyền Trung Hoa tiếp nối đã hành sử thẩm quyền” tại hai quần đảo. Và để chứng minh họ đưa ra một số bằng chứng trong thời kỳ từ thế kỷ thứ 11 đến thế kỷ thứ 19, mà 3 bằng chứng giả mạo như sau :

2.1/ Bằng chứng 1 : Hồ sơ đã ghi ở trên của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã trích dẫn một đọan văn và cho là của Wu Jing Zong Yao, viết dưới triều Renzong (1023 1063) Bắc Tống : Triều đình Bắc Tống ”ra lệnh cho quân đội hoàng gia tuần tiễu xây dựng ở Guangnan (hiện thời là Quảng Ðông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần tiễu trên biển” và “xây dựng những chiến thuyền bằng loại có sống giữa (navire à quille)»… “Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây Nam, mất 7 ngày để từ Tunmenshan đến Jiuruluozhou”.

Cho rằng rằng Jiuruluozhou là “quần đảo Tây Sa”, hồ sơ trên kết luận rằng ”triều đình Bắc Tống đã sử dụng thẩm quyền của mình ở quần đảo Tây Sa”, và “hải quân Trung Hoa đã tuần tiễu cho đến Tây Sa”.

Nhưng sự thật thì hoàn toàn không đúng như thế. Wu Jing Zong Yao đã viết như sau :

”… ra lệnh cho quân đội hoàng gia thực hiện việc tuần tiễu, xây dựng một trại quân cho việc tuần tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Ðông và phía Tây khoảng cách là 280 trượng [26], cách Tunmenshan 200 lí [27] và xây dựng những chiến thuyền bằng loại có sống giữa.Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan [28] đến Jiuruluoshou, thêm 3 ngày nữa thì đến Pulaoshan (thuộc Huanzhou) [29], sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam thì tới Lingshandong. Ở phía Tây Nam của nơi này thì có các nước Dashifu, Sizi, Tianzhu [30] . Không thể ước lượng được khoảng cách. [31]”

Như thế rõ ràng trong phần trích dẫn ghi trên đây của Wu Jing Zong Yao, một đoạn ghi lại việc hoàng đế của Bắc Tống ra lệnh ”xây dựng một trại quân dùng vào việc tuần tiễu trên biển” ở bến Quảng Châu (Guangzhou), một đoạn khác mô tả vị trí địa lý của trại quân ghi trên, và một đoạn khác mô tả hải trình đi từ bến Quảng Châu cho đến Ấn Ðộ Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải quân Trung Hoa đi tuần tiễu cho đến quần đảo “Xisha” (Tây Sa). Như thế, hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã cắt một đoạn để dán vào một đoạn khác nhằm ngụy tạo bằng chứng để dành lấy Hoàng Sa của Việt Nam. [32]

2.2/ Bằng chứng 2 : Hồ sơ dẫn trên của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã dựa lên những việc quan sát thiên văn xãy ra ở Nam Hải và đầu triều Nguyên (Yuan) để khẳng định rằng ”dưới triều Nguyên, quần đảo Xisha Tây Sa thuộc lãnh thổ Trung Hoa”.

Theo Yuanshi, lịch sử chính thức của triều Nguyên (Yuan), những quan sát thiên văn đã thực hiện vào đầu triều đại này được kể lại như sau :

”Những đo lường về bóng của mặt trời tại bốn biển được thực hiện ở 27 vị trí, phía Ðông cho tới Kaoli Cao Ly, phía Tây cho tới Tianchi, phía Nam cho tới Zhuya, phía Bắc cho tới Tiele.” [33]

Dưới tựa đề “quan sát bốn biển”, Yuanshi đã ghi lại 27 vị trí [ii][34] mà nơi đó đã được thực hiện những quan sát thiên văn, trong đó gồm có các nơi Kaoli, Tiele, Beihai, Nanhai.

Những dữ kiện đã ghi lại trong “Yuanshi” cho thấy rõ ràng rằng những quan sát thiên văn tại 27 vị trí không phải là việc “quan sát khắp đất nước” như hồ sơ của Bắc Kinh đã khẳng định, mà là việc “quan sát ở bốn biển”.

Ðó chính là lý do mà “Yuanshi” cũng đã ghi chú những vị trí ở ngoài lãnh thổ Trung hoa như Kaoli (Ðại Hàn), Tiele (Sibérie, Nga), Beihai (vùng bờ biển ở Sibérie), Nanhai (Biển Ðông). [35]

Giả sử rằng vị trí quan sát thiên văn vùng “Nanhai” ở tại Xisha (Tây Sa tức Hoàng Sa), việc này cũng không có nghĩa là Xisha thuộc lãnh thổ Trung Hoa từ thời Yuan (Nguyên). Bộ Yuanshi cũng đã xác nhận rằng lãnh thổ Trung Hoa về hướng Nam chỉ đến đảo Hải Nam và không vượt qua sa mạc Gobi [36] ở phương Bắc.

2.3/ Bằng chứng 3 : Hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã trích dẫn việc một toán tuần tiễu trên biển do Phó Ðô Ðốc Wu Sheng chỉ huy, từ 1710 và 1712, dưới đời nhà Thanh : ”Khởi hành từ Qiongya, đội hải quân đi đến Tonggu và đi ngang qua Qizhouyang và Sigengsha, trải qua như vậy 3.000 lí, để tự mình thực hiện một vòng kiểm soát”, để khẳng định ”Quizhouyang là vùng đảo Xisha – Tây Sa, tại đó lực lượng hải quân của tỉnh Quảng Ðông đảm trách việc tuần tiễu”.

Nhưng sự thực thì hoàn toàn không phải như vậy. Những địa danh trong đoạn trích dẫn trên đây thì ở trong vùng chung quanh đảo Hải Nam :

Quiongya, đó là “vùng quân sự Quiongya (đảo Hải Nam) dưới triều Thanh, bộ chỉ huy đóng ở Qiongshan gần thành phố Hải Khẩu (Haikou), ở phía Bắc đảo Hải Nam. [37]

Tonggu thì ở điểm Ðông Bắc đảo Hải Nam. [38]

Qizhouyang chỉ vùng biển có 7 đảo mang tên Qizhou ở về phía Ðông đảo Hải Nam. [39]

Sigengsha là một dãi cát ở phía Tây đảo Hải Nam. [40]

Sư thật tìm thấy qua sự nghiên cứu khách quan ở những văn bản gốc. Việc này cho thấy rằng bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã có hành động cố ý giả mạo để cho Qizhouyang trở thành “vùng đảo Tây Sa” và việc tuần tiễu của Wu Sheng chung quanh đảo Hải Nam trở thành việc tuần tiễu “vùng đảo Tây Sa”, cuối cùng kết luận rằng vùng này ngày xưa ”được lực lượng hải quân tỉnh Quảng Ðông phụ trách việc tuần tiễu”.

Sự đối chiếu những đoạn trích dẫn trên đây do Bắc Kinh đưa ra với các bản chánh đã cho thấy rõ rệt rằng ba điểm này không hề có một tương quan nào với quần đảo “Xisha”.

Bắc Kinh cũng đã nói sai khi cho rằng một số địa dư chí của các địa phương của Trung Hoa dưới thời Minh và Thanh có viết ”Quảng Châu (Wanzhou) bao gồm Qianlichangsha (Thiên Lý Trường Sa) và Wanlishitang” [41] nhằm mục đích chứng minh rằng ”quần đảo Xisha và Nansha vào thời đó thuộc Wanzhou (Quảng Châu), phủ Qiongzhou (Khâm Châu), tỉnh Quảng Ðông”. Nhưng trong bộ Da Qing Yi Tongzhi (Ðại Thanh Nhất Thống Chí), bộ địa dư chính thức được viết bởi Viện Quốc Gia Sử Học dưới triều nhà Thanh với lời dẫn nhập của hoàng đế Xuanzong năm 1842, không hề có đoạn nào ghi nhận rằng “Qianlichangsha” và “Wanlishitang” thuộc về Wanzhou (Quảng Châu), phủ Qiongzhou (Khâm Châu), tỉnh Quảng Ðông. Cũng có thể do lý do này mà nhà cầm quyền Bắc Kinh đã không trích dẫn đoạn nào thuộc bộ sách này, mặc dầu đây là một bộ sách chính thức của quốc gia Trung Hoa.

Mặc khác, nhà cầm quyền Bắc Kinh cũng tạo dựng lên bằng chứng đó là ba bản đồ Trung Hoa (tất cả được thực hiện dưới triều nhà Thanh) [42]. Người đọc có thể tự hỏi rằng tại sao họ không công bố những bản đồ này. Hành động dấu diếm này người ta có thể hiểu dễ dàng, đó là tất cả những bản đồ của Trung Hoa, cho đến những năm đầu của Cộng Hoà Trung Hoa, thì không có ghi nhận về Xisha và Nansha như là nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tuyên bố. Hay là họ phải cần thời gian để vẽ bản đồ ?

Về việc đổ bộ chớp nhoáng quần đảo Xisha, thừa lệnh của Tổng Ðốc Quảng Ðông Zhang Renjim, Ðô Ðốc Hải Quân Li Zhun cầm đầu 170 quan quân, vào năm 1909, đã đổ bộ lên một số đảo thuộc Xisha, thì đây là một hành động bất hợp lệ, bởi vì ít nhất từ hàng thế kỷ, Hoàng Sa mà Trung Hoa gọi là Xisha, đã là một lãnh thổ của Việt Nam. Ðây không phải là một vùng hải đảo vô chủ.

Về việc đổ bộ của Hải Quân Cộng Hòa Trung Hoa trên đảo Phú Lâm (Ile Boisée) thuộc Hoàng Sa và đảo Itu Aba thuộc Trường Sa vào tháng 12 năm 1946 là một hành động xâm lăng, bởi vì đã từ lâu, hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền Việt Nam.

Về việc chiếm đóng của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại nhóm đảo Ðông Bắc từ năm 1950 và từ 1974 nhóm Tây Nam của quần đảo Hoàng Sa lúc đó dưới sự kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa, cũng là một hành động xâm lăng bằng vũ lực.

Việc xâm lăng, xãy ra chớp nhoáng hay sau đó chiếm đóng lâu dài, hoặc bất kỳ hành động nào của Trung Hoa ở Hoàng Sa và trên đảo Itu Aba thuộc Trường Sa là một hành vi xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Những hành động này chà đạp luật pháp quốc tế và sẽ không đem lại cho kẽ gây hấn bất kỳ một quyền hạn hay có một chủ quyền nào ở những nơi này.

3/ Một dẫn chứng mới của Bắc Kinh : Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không phải là “Xisha” và “Nansha” của Trung Hoa.

Hồ sơ dẫn trên của bộ Ngoại Giao Trung Quốc được kết luận bằng một sự khẳng định long trọng : ”Quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam không phải Xisha của Trung Hoa”, cũng tương tự ”Quần đảo Trường Sa của việt Nam không phải Nansha của Trung Hoa” ; Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam chỉ có thể là ”những đảo và những dãi cát cận bờ ở Trung phần Việt Nam”. Phía Trung Hoa còn khẳng định thêm rằng phía Việt Nam không thể ”chứng minh rằng Trường Sa tức là Nansha của Trung Hoa”. Ðây là những lý lẽ mới mẻ mà Trung Hoa chưa từng sử dụng.

Từ những lý lẽ này lại người ta thấy rằng, một mặt, Bắc Kinh công nhận sự hiện hữu của những đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, mặc khác họ cũng cho rằng có sự hiện hữu của những đảo gọi là Xisha và Nansha. Như thế thì những cái gọi là “Xisha” và “Nansha” thì chúng ở đâu ? Những quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc lãnh thổ của Việt Nam, chúng đã được ghi nhận trong một số lượng lớn sử sách của Việt Nam và được vẽ trên nhiều bản đồ của Việt Nam cũng như Tây Phương (dưới tên Paracels và Spratley hay Spratly). Những người lãnh đạo Trung Quốc đã tự cho rằng hai quần đảo này thuộc về lãnh thổ của Trung Hoa mà không trình bày ra một bằng chứng nào và đặt tên cho hai quần đảo này là “Xisha” và “Nansha”. Và hôm nay họ lại lên tiếng cho rằng Việt Nam không thể chứng minh rằng Hoàng Sa và Trường Sa tức là “Xisha” và “Nansha” của họ. Thật là không có cách nào để diễn tả cái điêu ngoa của những lời xảo trá này. Việc này cho thấy Bắc Kinh đã không còn tìm thấy được một lý do nào đứng đắn và thuyết phục hơn để tranh cãi với Việt Nam về Hoàng Sa và Trường Sa.

Tất cả những tác phẩm của Việt Nam đã phân biệt một cách rõ rệt giữa Hoàng Sa và những đảo cận bờ ở miền Trung Việt. Trong Phủ Biên Tạp Lục, nhà bác học Lê Quí Ðôn đã ghi rõ rằng Ðại Trường Sa ở về phía bên kia của đảo Ré và để đi đến đó phải mất ba ngày và ba đêm.

Bản đồ Ðại Nam Nhất Thống Toàn Ðồ cũng có vẽ Hoàng Sa Vạn Lý Trường Sa ở về phía bên kia các đảo cận bờ như cù lao Chàm, cù lao Ré, cù lao Xanh (Puolo gambi), cù lao Thu (Poulo Cécir de mer) v.v…

Mặc khác, những người cầm quyền Trung Quốc đã bóp méo bài viết năm 1837 của linh mục J.L. Tabert để cho rằng quần đảo Hoàng Sa mà linh mục này đề cập chỉ là ”những đảo và dãi cát gần bờ thuộc miền Trung Việt Nam”. Những người này không biết thật hay là giả đò không biết ? Bởi vì năm sau, 1838, Linh mục Tabert cho in bản đồ An Nam Ðại Quốc Họa Ðồ trong quyển Tự Ðiển Latin Việt (Dictionarium Latino Anamiticum) và trên bản đồ này, phía ngoài của những đảo chánh ven bờ thuộc miền Trung Việt Nam như là cù lao Chàm, cù lao Ré, cù lao Xanh, cù lao Thu v.v… có vẽ một cách minh bạch “Paracel seu Cat Vang”. Như vậy là linh mục Tabert đã phân biệt một cách rõ rệt giữa quần đảo Hoàng Sa ở giữa Biển Ðông với những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam. Hầu như tất cả những bản đồ của những nhà hàng hải Tây Phương vào các thế kỷ thứ 16, 17, và 18 đều vẽ Pracel hay Parcel trong vùng của các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hôm nay, và chúng ở cách xa những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam.

Năm 1959, có 82 ngư dân thuộc Trung Quốc trên 3 chiếc thuyền cặp vào 3 đảo thuộc Hoàng Sa đó là các đảo : Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa, nhưng những người này bị nhà cầm quyền Việt Nam Cộng Hòa bắt giữ. Về việc này bộ Ngoại Giao Trung Quốc ngày 29 tháng 2 năm 1959 có công bố một tuyên bố phản đối Việt Nam Cộng Hòa. Những ngư dân của Trung Quốc, theo như nội dung của bản tuyên bố này, thì bị bắt không phải tại những đảo cận bờ ở miền Trung Việt, mà họ bị bắt trên ba đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hòa thuộc quần đảo Hoàng Sa.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã tố cáo ngày 19 tháng 1 năm 1974 việc quân đội Trung Quốc đã đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, ngày 20 tháng 1 năm 1974, bộ trưởng bộ Ngoại Giao Trung Quốc đã công bố một tuyên cáo để giải thích việc xâm lăng này. Ðây là một việc không thể chối cãi rằng tất cả sự việc đã xãy ra tại Hoàng Sa mà Bắc Kinh gọi đó là “Xisha”, và kể từ thời điểm đó, quân đội Trung Quốc chiếm đóng Hoàng Sa chứ không phải những đảo ven bờ của miền Trung Việt.

Hai thí dụ trên đây chứng minh rằng, cho đến trước ngày 30 tháng 1 năm 1980, tức thời điểm mà bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố hồ sơ nhắc ở trên, những gì mà Bắc Kinh gọi là “Xisha” và “Nansha” thì đúng là các quần đảo “Hoàng Sa” và “Trường Sa”, chứ không phải là những đảo cận bờ của miền Trung Việt Nam, tức là Paracels và Spratley hay Spratly trên các bản đồ hải trình của hàng hải quốc tế.

Bởi vậy, những quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam không bị thay đổi vị trí địa lý do việc “hán hóa” tên của chúng ; và cũng không thuộc về Trung Hoa vì những trá ngụy dấu đầu lòi duôi do nhà cầm quyền Bắc Kinh dựng lên.

******************************************************************************

Mặc dầu đã làm biết bao nhiêu phong trào tuyên truyền láo khoét và đã bỏ ra biết bao công sức từ mấy thập niên nay để cắt dán tài liệu nhằm bóp méo nội dung để tạo dựng lên những lý lẽ, nhưng Bắc Kinh vô phương chứng minh được rằng từ khi nào Trung Hoa đã chiếm hữu Hoàng Ha và Trường Sa và quốc gia này đã hành sử chủ quyền của họ ra sao tại những nơi đây. Sự việc rất đơn giản :

Bởi vì quần đảo Hoàng Sa (Paracels) và quần đảo Trường Sa (Spratley hay Spratly) mà nhà cầm quyền Trung Quốc gọi là “Xisha” và “Nansha” chưa bao giờ thuộc về lãnh thổ của Trung Hoa.

Kết Luận

Chắc chắn là có những vấn đề tại Hoàng Sa và Trường Sa, nhưng việc cần thiết là những vấn đề này phải đặt ra cho đúng.

Trên căn bản thực tế lịch sử và luật quốc tế người ta thấy rõ rệt điều này :

Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa đã từ lâu và bất biến là lãnh thổ của Việt Nam, bởi vì quốc gia Việt Nam đã chiếm hữu hai quần đảo này từ khi chúng chưa thuộc về bất kỳ một quốc gia nào và Việt Nam đã thiết lập tại những nơi đây thẩm quyền quốc gia đồng thời hành sự thực sự chủ quyền của mình tại hai quần đảo này một cách liên tục.

Về phần Trung Hoa, quốc gia này chưa từng chiếm hữu Hoàng Sa và Trường Sa, mà họ gọi dưới hai tên Xisha và Nansha, họ cũng chưa từng hành sự chủ quyền của họ trên hai quần đảo này. Cho đến đầu thế kỷ 20, quốc gia Trung Hoa cũng chưa bao giờ lên tiếng đòi hỏi chủ quyền tại những nơi này. Thế nhưng ngày hôm nay họ lại bóp méo lịch sử bằng cách trưng bày những bằng chứng không đúng sự thật để lên tiếng dành chủ quyền Xisha và Nansha.

Như vậy ở điểm này, về thực tế, không phải là sự khác biệt về quan điểm giữa Việt Nam và Trung Hoa, mà đó là một hành vi gây hấn và xâm lăng của Trung Hoa tại quần đảo Hoàng Sa – lãnh thổ không thể tách rời của việt Nam, đồng thời đó là những yêu cầu hách dịch và vô lý tại quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Nhà cầm quyền Trung Hoa phải trả lại cho Việt Nam quần đảo Hoàng Sa và từ bỏ mọi yêu sách tại quần đảo Trường Sa. Ðây là một việc đương nhiên và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Những tham vọng của Bắc Kinh tại hai quần đảo Hoàng Sa và Tường Sa chỉ để lộ đường lối chính trị bành trướng chủ nghĩa và chủ nghĩa bá quyền của một đế quốc, nhắm xâm chiếm Việt Nam, cũng như Lào và Cam Bốt, để từng bước kiểm soát Biển Ðông, biến thành nơi này một cái ao sau nhà, dùng bán đảo Ðông Dương như một bàn đạp để bành trướng về hướng Ðông Nam Châu Á.

Những hành động của nhóm lãnh đạo Trung Hoa – xâm lăng Hoàng Sa và âm mưu cướp đoạt Trường Sa – không những chỉ là một hành động xâm phạm chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà còn là một mối đe dọa lên quyền lợi của các nước quanh vùng Biển Ðông cũng như đến nền hòa bình và ổn định ở khu vực Ðông Nam Á.

Dân tộc Việt Nam nhứt quyết tranh đấu để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, chống lại mọi mục tiêu bành trướng của nhóm lãnh đạo Trung Hoa. Công cuộc tranh đấu của người Việt Nam chống lại khuynh hướng bành trướng và bá quyền của Bắc Kinh đã được sự ủng hộ của nhiều tổ chức, chắc chắn sẽ đem lại một chiến thắng trọn vẹn.

[1] Bản đồ của những nhà hành hải Bồ Ðào Nha, Hòa Lan, Pháp như Lazaro Louis, Ferdanao Vaz Dourdo, Joso Teixira, Janssonius, Willem Jansz Blaeu, Jacob Aertsz Colom, Theunis Jacobsz, Hendrick Doncker, Frederich De Wrt, P. Duval, Van La ngren, v.v…[2] Dòng dõi Chúa Nguyễn 1558 1775, lãnh đạo Ðàng Trong, tức miền Nam VN hiện nay.

[3] Xem bộ Hồng Ðức Bản Ðồ.

[4] Phía Nam của Sa Kỳ, làng An Vĩnh ở trên đảo Ré cũng thuộc Quảng Ngãi.

[5] Ðơn vị đo chiều dài của Việt Nam, khoảng 500 mét.

[6] Xem “Mistère des Atolls – Journal de Voyage au Paracel”, đăng trong tuần báo “Indochine” số 3, 7 và 10 tháng 7 năm 1941.

[7] Từ ngữ Cochinchine hay Cochinchina trong các bài viết của người Tây Phương thì gồm có hai nghĩa tùy theo hoàn cảnh : Việt Nam hay chỉ là miền Nam.

[8] A. Salles có ghi lại trong “Bulletins des Amis du vieux Huê”, số 2, 1923, trang 257.

[9] Note on Geography of Cochinchina của Linh Mục Jean Louis Tabert, đăng trong The Journal of the Aslatie Society of Bengal. Vol VI, 1837, page 745.

[10] Geography of the Cochinchinese Empire, đăng trong The Journal of the Royal Geography Society of the London, bộ số XIX, 1849, trang 93.

[11] Tức là bến Cửa Ðại thuộc Quảng Nam – Ðà Nẵng.

[12] Sa Vinh tức Sa Huỳnh hiện nay, thuộc tỉnh Quảng Ngãi.

[13] Ngày xưa Bai Cat Vang là một vùng rất nguy hiểm, đầy dẫy những dãi cát và đá ngầm, ở ngoài khơi của Biển Ðông.

[14] Quyển 122, kỳ 2.

[15] Quyển 50, kỳ 1.

[16] Quyển 52, kỳ 1.

[17] Quyển 104, kỳ 2.

[18] Quyển 122, kỳ 2.

[19] Quyển 154, kỳ 2.

[20] Quyển 165, kỳ 2.

[21] Quyển 104, kỳ 2.

[22] Tức là Sóng Tụ Tây (Caye du Nord Ouest) và Sóng Tụ Ðông (Caye du Sud Est)

[23] Hồ sơ của bộ Ngoại Giao Trung Quốc công bố ngày 30 tháng 1 năm 1980.

[24] Nan Zhou Yi Wu Zhi, Funanzhuan

[25] Mong Liang Lu, Qao Yi Zhi Luc, Dong Xi Yang Kao, Shun Eeng Xiang Song, Zhi Nan Zheng Fa, Hai Guo Wen Jian Lu.

[26] Trượng : đơn vị đo chiều dài của Tàu ngày xưa, tương đương 3,51 mét.

[27] Lí : Ðơn vị đo chiều dài của Tàu ngày xưa, tương đương 0,5 Km.

[28] Tunmenshan ở tại cửa sông Zhoukiang (Quảng Ðông)

[29] Pulaoshan tức là đảo Cham, Huanzhou là nước Chàm.

[30] Dashifu, hay Dashi, theo một sách cổ của Trung Hoa, đó chỉ một vương quốc thời Trung Cổ ở trong vịnh Persique ; Sizi là Srilanka (Tích Lan) ; Tianzhu là Ấn Ðộ (theo các sách của Tangshu, Songshi, Gugintushuzisheng).

[31] We Jing Zong Yao, bộ 1, quyển 20, trang 19a, 19b.

[32] Nhà cầm quyền Bắc Kinh không những chỉ cắt dán tài liệu lịch sử nhằm bóp méo nội dung của các sử liệu đó mà họ còn phiên dịch một cách sai lệch tựa đề của các quyển sách đã trích dẫn. Thí dụ : “Dao Yi Zhi Luc” có nghĩa hiện thời “Khái quát về những đảo quốc (pays barbares insulaires)» (theo khái niệm khinh bỉ của Trung Hoa, “barbare – man, mọi” có ý nghĩa là người ngoại quốc, đã được dịch là “Khái quát về các đảo” ; Hai Guo Wen Jian Lu có nghĩa là “Những sự việc nghe và thấy tại các xứ ngoại quốc”, đã được dịch như sau “Những sự việc nghe và thấy tại các vùng cận biển”.

[33] “Yuanshi”, quyển 48, trang 1a và 1b.

[34] “Yuanshi”, quyển 48, trang 7a và 7b.

[35] Xem giải thích trong quyển Hai Guo Tu Zhi xuất bản năm 1842.

[36] Xem Zhung Wen Da Ci Dien, 1963 (do Ðài Loan công bố)

[37] Theo Yuanshi (phần địa danh), Li Da Gang Wu Poa (nhà Thanh)

[38] Xem bản đồ của Zhung Quo Sin Ju Ji, năm 1917 (do Báo Chí Thương Mại Thượng Hải ấn hành)

[39] idem

[40] Bản đồ hàng hải Trung Hoa, tỉ lệ 1/500.000, trang nói về “bán đảo Liễu Châu (Leizhou) và đảo Hải Nam), do Trung Quốc ấn hành tháng 5 năm 1965 bằng Việt ngữ và Hoa ngữ.

[41] “Guangdong Tongzhi Quảng Ðông Thống Chí», “Qiongzhou Fu Zhi, Khâm Châu Phủ Chí”, “Wan Zhou Zhi, Quảng Châu Chí”

[42] “Huang Quing Gezhi Fen Tu” (1755), “Da Quing Wan Nian Yi Tong Di Li Quan Tu” 1810, “Da Quing Yi Tong Xia Quan Tu” (1817).

Nguồn :

(Quần Ðảo Hoàng Sa và Trường Sa Lãnh Thổ Việt Nam: Trương Nhân Tuấn lược dịch từ hồ sơ “Les Archipels Hoang Sa et Truong Sa, Territoire Vietnamien” 1981, ……, CAOM, Aix En Provence, Pháp Quốc )

PHẦN III: HÃY CẢNH GIÁC VỚI BÁ QUYỀN TRUNG QUỐC

“Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta… Theo tôi, trái đất của chúng ta là quan trọng nhất, tại đây chúng ta sẽ xây dựng một quốc gia hùng mạnh. Nhất định phải thầm nhuần một quyết tâm như vậy!” Phát biểu của Mao Trạch Đông tại Hội nghị toàn thể lần thứ VI Ban chấp hành TW ĐCS Trung Quốc tháng 6 1961.Tham vọng chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh có nguồn gốc sâu xa về lịch sử và đã thoát thai từ khuôn mẫu tham vọng của những Tần Thuỷ Hoàng, Hốt Tất Liệt, Càn Long… những kẻ đã tự phong cho mình cái tước hiệu “Con trời”. Theo nếp suy nghĩ của họ, đã là “con trời” thì họ nắm trong tay quyền bính do trời ban, đã có thể tuỳ tiện đi “bình” và “trị” thiên hạ, tức là tất cả những mảnh đất nằm dưới bầu trời!

Thời cổ xưa, hàng nghìn năm về trước, các “con trời” đó đã xem thế giới này, “thiên hạ” này như là một hình vuông, đất nước mà họ trực tiếp trị vì và là vòng tròn tiếp giáp các cạnh của hình vuông đó, nơi cư trú của dân tộc “thượng đẳng” văn minh, còn các dân tộc sống ở bốn góc kia mang tên: Tây Nhung, Đông Di, Bắc Địch, Nam Man đều là những giống người man rợ. Ngai vàng của hoàng đế Trung Hoa được đặt tại tâm điểm của vòng tròn cũng tức là của toàn thiên hạ. Các “con trời” đó nối tiếp nhau tự cho mình cái quyền đi “khai hoá” các giống người man rợ chung quanh bằng cách xua quân “thiên triều” đến chiếm lĩnh đất nước của họ, biến những đất nước đó thành những quận huyện biên cương của “thiên triều”, hoặc ít ra cũng thành những chư hầu hằng năm phải tiến cống vật báu để “thiên triều” sử dụng. Đây chẳng qua chỉ là một hình thức thu “tô” của tên chúa đất trùm thiên hạ, xem tất cả những con người sinh ra dưới bầu trời này đều là “nô lệ”, hoặc “nông nô” của hắn!

Trong khuôn khổ mối quan hệ giữa “thiên triều” và các nước chư hầu, chỉ cần một nước chư hầu nào đó chậm “tiến cống”, hoặc do thiên tai, mất mùa, gặp khó khăn trong việc mò hạt trai đáy biển, tìm ngọc trên núi, thu ngà voi, sừng tê giác trong rừng nên “tiến công” không đủ số đã được thiên triều quy định hoặc có đôi chút hành động, ngôn ngữ bị gán cho là “phạm thượng” là thiên triều lập tức lấy đó làm cớ để hưng binh “thảo phạt”, “để dạy cho nước chư hầu đó một bài học nhớ đời”, hoặc nếu thuận lợi, biến luôn nước chư hầu đó thành quận, huyện của thiên triều để dễ bề sai phái, thu tóm nhân lực và tài nguyên. Các “con trời” Trung Quốc thật đúng là những tên thực dân đầu tiên trong lịch sử và cũng là những tên thực dân ngoan cố dai dẳng nhất trên mặt quả đất!

Đứng trên tâm điểm của cái “thế giới hình vuông” đó, các “con trời” Trung Quốc đã từ thế kỷ này đến thế kỷ khác nhìn ra bốn hướng để xuất quân chinh phục. Thực tiễn lịch sử trong hai thiên niên kỷ vừa qua cho thấy rõ hai yếu tố địa lý và dân tộc đã có ảnh hưởng quan trọng đến việc vạch kế hoạch xuất chinh của các “con trời” qua triều đại của Trung Quốc.

Trước hết, nhìn về hướng đông, tức là nhìn về quần đảo Nhật Bản, các “con trời” Trung Quốc không thể nào thấy cái hào thiên nhiên bát ngát, tức là biển Nhật Bản, che chở cho đất nước lại cũng có một “thiên hoàng”. Đã có một lần, đế quốc Mông Nguyên tiến đánh các hòn đảo Phù Tang, nhưng một cơn bão lớn đã dìm đắm phần lớn các chiến thuyền chở đạo quân Mông Nguyên, cứu đất nước Nhật Bản khỏi phải trải qua một cơn thử thách gay go. Sau đó, lại đến 3 lần thảm bại của quân Mông Nguyên trên đất Việt Nam, từ Hốt Tất Liệt đến con cháu của y phải bãi bỏ âm mưu thôn tính Nhật Bản. Chính nhờ vị trí địa lý thuận lợi đó mà các “thiên hoàng” Phù Tang cậy vào thế lợi của sự cách bức về biển cả, mới dám tự xưng là “Hoàng đế nước mặt trời mọc” khi giao dịch với “Hoàng đế nước mặt trời lặn” Trung Hoa. Sau này, từ đầu thế kỷ thứ XX đến tháng 8 1945, “Hoàng đế nước mặt trời mọc” đã có nhiều dịp xuất chinh xâm chiếm một phần khá lớn lãnh thổ Trung Quốc.

Nhìn về các hướng bắc, hướng tây, tây bắc, tây nam, phạm vi bành trướng đều có những giới hạn nhất định. Nơi thì “thiên triều” vấp phải những dân tộc “du mục” thiện chiến với những đạo quân sống trên mình ngựa, thoắt ẩn, thoắt hiện trên những cánh đồng cỏ mênh mông, và những bãi sa mạc bát ngát, nơi thì gặp phải đất đai của những “thiên triều” ở các hướng đó lại thường thưa dân, khô cằn, nghèo nàn phẩm vật. Tiểu lục địa Ấn Độ thật hấp dẫn nhưng lại quá xa xôi cách trở, ngoài ra, lại bị ngăn cách bằng bức tường thành hầu như bất khả xâm phạm, tức là dãy núi Hi ma lai a cao ngất quanh năm tuyết phủ.

Như vậy, miếng mồi béo bở nhất, dễ vươn tay với tới ở hướng nam là nước Đại Việt, với khí hậu ôn hoà, tài nguyên phong phú, đặc biệt đây lại là cửa ngõ để quân của “thiên triều” có thể từ đấy tiến dần xuống khu vực Đông Nam châu Á người đông của lắm, một bàn đạp để có thể bước vào Ấn Độ Dương, sang tiểu lục địa Ấn Độ và xa hơn nữa có khi có được một hải quân hùng hậu. Dưới con mắt của các “con trời”, Đại Việt là ngưỡng cửa mà quân của các “thiên triều” phương Bắc cần vượt qua nhằm bước vào không gian mênh mông đáp ứng giấc mộng chinh phục ngông cuồng.

Sùng bái Tần Thuỷ Hoàng, Hốt Tất Liệt, đến tận mây xanh, tập đoàn phản động Bắc Kinh đã, đang và sẽ đứng trên một lập trường, quan điểm với các “con trời” thuộc triều đại phong kiến Trung Quốc trước đây, đã biến chất hoàn toàn, cách nhìn, cách đặt và cách giải quyết vấn đề của họ tất nhiên “tương đồng” với những “tiền bối” mà họ sùng bái và cả với những tên trùm đế quốc, thực dân cũ và mới mà họ xem là bè bạn, đồng minh thân thiết. Phải đâu cái bản chất “bành trướng đại dân tộc bá quyền” của họ chỉ mới bộc lộ gần đây.

Ngay trong thời kỳ “nội chiến quốc cộng”, giữa tướng Mỹ Marshall, sau này làm bộ trưởng ngoại giao của chính quyền Truman ngay sau Chiến tranh thế giới II, và một số người tại Diên An đã diễn ra những cuộc ve vãn chính trị. Đây chính là những khoé mắt đưa tình đầu tiên mà kết quả chung cuộc là cuộc “hôn nhân chính trị” hay đúng hơn “cuộc liên minh ma quỷ” đã được Đặng Tiểu Bình ký kết với Tổng thống Mỹ Ca tơ tại Washington. Ngay từ gần nửa thế kỷ về trước đó, một số người tại Diên An đã phác hoạ bước đi trên con đường bành trướng, bá quyền của họ đối với châu Á, là bước đi song song với với đế quốc Mỹ, dựa vào đế quốc Mỹ. Sóng gió ba đào do cuộc nội chiến, cuộc xâm lược của đế quốc Nhật và cuộc chiến tranh thế giới thứ hai đã làm đứt quãng sự “tìm hiểu” giữa Washington và Diên An mà Ét ga Xnâu, một nhà báo Mỹ kiêm tình báo CIA Mỹ, làm môi giới.

Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập thật là một cơ hội để chắp nối mối tình Washington Bắc Kinh. Thế nhưng cuộc chiến tranh Triều Tiên lại nổ ra. Đầu tháng 11 1950, khi quân đội Mỹ tiến đến gần bờ sông Áp Lục, “tướng Mác Ac tơ cho rằng thời cơ can thiệp ồ ạt (của Trung Quốc) đã qua lâu rồi, người Trung Quốc chắc chắn sẽ không bước vào cuộc chiến khi lực lượng Bắc Triều Tiên đã không còn hiệu lực chiến đấu trong khi trước đây, chỉ cần Trung Quốc giúp thêm đôi chút là Bắc Triều Tiên đã có thể chiếm toàn bộ bán đảo Triều Tiên”.

Không phải là Mác Ac tơ đã không hiểu khá rõ đường lối chiến lược toàn cầu của Bắc Kinh lúc đó. Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới và tình hình nội bộ Trung Quốc lúc đó, hành động quá trắng trợn của Mác Ac tơ đưa quân đội Mỹ đến tận sát bờ sông Áp Lục, uy hiếp trực tiếp vùng công nghiệp đông bắc Trung Quốc, đã đặt Bắc Kinh trong một tình thế không thể nào can thiệp. Cho tới nay, vẫn còn có những người trong các giới chính trị và quân sự than thở rằng: phải chi lúc đó quân của Mác Ac tơ dừng bước tiến cách bờ sông Áp Lục vài chục ki lô mét, lấy đó làm khu đệm để làm “yên lòng” Bắc Kinh! Cuộc chiến tranh Triều Tiên đã kết thúc với đường ranh giới giữa lực lượng các bên tham chiến tại vĩ tuyến 38. Như thế, ngay từ đầu năm 1950, Bắc Kinh cũng đã thực hiện chính sách “níu áo quân Mỹ” ở lại châu Á để ngăn chặn phong trào giải phóng dân tộc để chống lại Liên Xô và như thế làm bình phong để Bắc Kinh nấp sau đấy, “tu chỉnh binh mã”, từng bước dần dần thay chân chú SAM khi lông cánh đã mọc đầy đủ.

Tham vọng bành trướng của Bắc Kinh có lẽ lúc nào cũng vượt qua cả giới hạn giấc mơ của Hốt Tất Liệt. Ngày từ những năm đầu 1960, Bắc Kinh đã phái những đoàn công trình xây dựng đường sắt, đường bộ sang “giúp đỡ” một số nước ở Đông châu Phi. Trước khi bị lật đổ, tên vua Ê ti o pi a Hai lê Xê la xi ê đã được Bắc Kinh liệt vào hàng “bạn thân quý”, nhất của Trung Quốc.

Cơ lô đơ Ac nun, đại tá, chuyên viên chiến lược Pháp đã viết: “Noi gương theo đế quốc Rô ma đã đặt ách thống trị của họ trước đây đựa trên một hệ thống đường sá, Trung Quốc cũng đã cho xây dựng những con đường mới từ Tân Cương đến Pa ki xtan, xuyên qua miền Tây Ca sơ mia, từ Tân Cương đến Nê Pan, từ Tây Tạng đến Ne Pan, từ Vân Nam đến lưu vực sông Mê Công xuyên qua Lào. Bắc Kinh đã chuẩn bị cho bước đường bành trướng của chúng như thế đấy.

Đưa ra thuyết “ba thế giới”, Bắc Kinh đã bộ lộ tham vọng làm “bá” cái “thế giới thứ ba”, mà theo định nghĩa của họ, gồm những nước “kém phát triển”, xem đấy là bước đầu tiên để dần dần leo lên làm “bá” hai “thế giới” nói trên, tức là làm “bá chủ” thế giới. Đông Nam Á nằm trong khu vực địa lý chiến lược chính trị mà Bắc Kinh tự cho là vừa tầm tay với của họ. Đây lại là khu vực giàu có nguyên liệu chiến lược và là nơi có hàng chục triệu Hoa kiều cư trú, môi trường thuận lợi để Bắc Kinh cấy “đội quân thứ năm” nguy hiểm của họ. Tiến được đến eo biển chiến lược Xingapo có nghĩa là đến được cửa ngõ để bước vào Ấn Độ Dương và châu Phi, Trung Cận Đông, tiểu lục địa Ấn Độ ở các bên bờ biển Đỏ để thông lên đến tận châu Âu. Một khi đã phản bội chủ nghĩa xã hội, lao vào con đường bành trướng đại dân tộc, bá quyền, thì “nam chinh” đã trở thành hướng tất yếu thu hút nỗ lực phiêu lưu của Bắc Kinh. Vì thế mà không phải chuyện ngẫu nhiên khi mục tiêu xâm lược lần đầu tiên của Bắc Kinh là những nước trên bán đảo Đông Dương.

Ngay từ những năm đầu 1960, Bắc Kinh đã đặc biệt quan tâm Lào. Các đội quân “xây dựng đường sá” Trung Quốc đã khẩn trương làm đường nối liền Vân Nam tới Phong xa lì, một tỉnh ở miền cực bắc Lào. Con đường này được kéo dài dần xuống Luông Pha băng. Từ đây, đã có sẵn con đường chiến lược chạy men dọc theo bờ sông Mê Công, xuyên suốt nước Lào từ bắc chí nam, xuyên suốt Cam pu chia để đến cảng Kom pông Xom nằm trên vịnh Thái Lan. Đây là con đường nối liền nội địa Trung Quốc với vịnh Thái Lan, nằm giữa Việt Nam và Thái Lan, dẫn đến bán đảo Ma lắc ca và eo biển Xingapo.

Từ năm 1966, mâu thuẫn gay gắt trong nội bộ giới cầm quyền Bắc Kinh từ chỗ âm ỉ đã nổ bùng, bước sang giai đoạn thanh trừng quyết liệt lẫn nhau. Người đời thế gian vẫn thường nói đó là do bản chất xấu xa của người Trung Quốc. Cuộc “đại cách mạng văn hoá” đã làm đảo lộn đời sống chính trị, xã hội của Trung Quốc.

Vào đầu những năm 1970, sóng gió chính trị trên lục địa Trung Quốc có phần lắng bớt, ngôi thứ trên bậc thang quyền lực đã được phân định phần nào về ngoài mặt, tuy rằng hậu trường vẫn chứa đầy rẫy mưu mô, thủ đoạn tranh chấp, sát hại lẫn nhau.

Lúc đó, quan điểm chính trị của Bắc Kinh đã dựa trên nền tảng thuyết “thế giới đại loạn” với nội dung hàm ý Bắc Kinh không còn bị ràng buộc bởi lý tưởng xã hội chủ nghĩa, thế giới đã đại loạn, thì xem ra là thù, lấy thù làm bạn cũng chỉ là chuyện thường tình. Ngồi trên ghế tổng thống Mỹ, Ních xơn đã hiểu đầy đủ tín hiệu đó. Đầu năm 1971, Bộ trường quốc phòng Mỹ Le đơ tuyên bố trước quốc hội Mỹ rằng “từ quan điểm chiến lược “hai cuộc chiến tranh rưỡi” của chính quyền Ken nơ đi, chính quyền Ních xơn đã chuyển sang quan điểm chiến lược “một cuộc chiến tranh rưỡi”, lấy chiến trường châu Âu là nơi chuẩn bị tiến hành một cuộc chiến tranh lớn”. Tờ thời báo Mỹ Diễn đàn quốc tế, số ra ngày 10 30 1971, viết : Từ quan điểm “hai cuộc chiến tranh rưỡi” chính quyền đảng cộng hoà thấy cần thiết phải nhấn mạnh một cách được chứng mính (với Bắc Kinh) rằng : Mỹ đã sẵn sàng cắt giảm quân sự chuẩn bị tiến hành chiến tranh tại châu Á, tức là chiến tranh nhằm chống lại nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa”.

Đây là tín hiệu của Washington báo cho Bắc Kinh biết rằng Mỹ đã sẵn sàng để Bắc Kinh chính thức gia nhập hàng ngũ các thế lực phản động quốc tế chống lại ba dòng thác cách mạng thế giới, mà mũi nhọn chủ yếu chĩa vào Liên Xô. Mạt cưa, mướp đắng đã gặp nhau, Kít xinh giơ, bộ trưởng ngoại giao Mỹ thuộc chính quyền Ních xơn, đã thực hiện chính sách ngoại giao con thoi với Bắc Kinh, dẫn đến cuộc viếng thăm Bắc Kinh của tổng thống Mỹ vào năm 1972. Sau này, cả Ních xơn lẫn Kít xinh giơ đã thú nhận rằng: Cuộc mua bán chính trị giữa Bắc Kinh và Washington đã chủ yếu xoay quanh món hàng “Việt Nam”. Lúc đó, Ních xơn và Kít xinh giơ đã úp mở tuyên bố rằng “Vấn đề Việt Nam sẽ được Mỹ giải quyết tại Bắc Kinh” và để Mỹ chấp nhận “thiết lập quan hệ bình thường với Trung Quốc, Bắc Kinh phải thi hành các biện pháp áp lực với Hà Nội để Hà Nội chấp nhận sự có mặt của Mỹ và sự tồn tại của chế độ ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu tại niềm Nam Việt Nam.

Sau Hiệp định Giơ ve vơ về các nước Đông Dương, Bắc Kinh đã khẩn trương giở mọi thủ đoạn để xâm nhập Cam pu chia qua các chế độ Xi ha núc, Lon Non, rồi cuối cùng họ đã thành công trong việc sử dụng bè lũ Pôn Pốt Iêng Xa ri làm bọn tay sai trung thành của họ. Khi nhân dân Cam pu chia nổi dậy lât đổ bọn đao phủ diệt chủng này, Bắc Kinh xem như bị mất đi một bàn đạp cực kỳ quan trọng cho mưu đồ “nam chinh” lâu dài, rộng lớn của họ. Chính vì thế, họ cay cú đến điên cuồng.

Dưới con mắt bành trường đại dân tộc, bá quyền của Bắc Kinh, Việt Nam vẫn là cái đê ngăn chặn làn sóng “nam chinh” của họ trong suốt mấy nghìn năm lịch sử. Trước đây thấy rằng chưa có đủ điều kiện, thời cơ để tiến vào Việt Nam và xuyên qua Việt Nam qua trục đường bộ, Bắc Kinh đã tìm cách xâm chiếm những quần đảo của Việt Nam tại biển Đông.

Đầu năm 1974, sau khi quân đội Mỹ đã phải rút lui khỏi miền nam Việt Nam theo Hiệp định Pa ri và thấy rõ nguỵ quân, ngụy quyền Sài Gòn đã ở vào nguy cơ sụp đổ không thể nào tránh khỏi với sự thoả thuận của Washington, Bắc Kinh đã cho quân đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa vào ngày 20 1 1974. Bộ Ngoại giao Mỹ lúc đó đã ra thông cáo tuyên bố rằng : “Mỹ không dính líu vào cuộc tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam cộng hoà (ngụy quyền Sài Gòn) về quần đảo Hoàng Sa”.

Xây dựng một hải quân hùng mạnh đòi hỏi phải chi phí lớn lao mà nền kinh tế Trung Quốc ngày này chưa thể kham nổi. Mặt khác, sự hoạt động của hạm đội vẫn phải dựa vào những hải cảng, những sân bay trên đất liền. Tham vọng bành trướng đại dân tộc, bá quyền nước lớn đã thúc đẩy Bắc Kinh gấp rút chĩa mũi nhọn vào Việt Nam, xem đấy là cửa ngõ của con đường nam chinh của họ. Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược Viêt Nam hồi năm 1979. Thế nhưng trận chiến đó của cái “chiến dịch Nam chinh” nằm trong khuôn khổ kế hoạch “bá chủ toàn cầu”, với Thiên An Môn là trung tâm của quả đất, với Trung Nam Hải là nơi ở của “vầng mặt trời hồng” của thế giới, đã bị đánh bại ngay trên tuyến biên giới Việt Nam. Bọn “hâu bối” Hốt Tất Liệt mới lại chịu chung số phận “tiền bối” của chúng.

Cuộc chiến tranh năm 1979 mà Bắc Kinh tiến hành xâm lược chỉ là bước thang đầu của chiếc thang bành trước của họ đối với các nước trên bán đảo Đông Dương và toàn bộ khu vực Đông Nam Á. Kể từ đó, bọn phản động Bắc Kinh đang toan tính “thua keo này bày kheo khác”. Tất cả nhân dân Việt Nam anh hùng hãy đề cao cảnh giác trước âm mưu này của bọn hiếu chiến…

Posted in Biển Đông VN, Công hàm PVĐ, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Lịch sử | Leave a Comment »

Lập trường của Trung Quốc trong tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và luật quốc tế

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Quần đảo Hoàng Sa ở vào khoảng giữa vĩ tuyến 16° – 17° và kinh tuyến 111° – 113° đông, cách Huế khoảng 490 km và Yulin (Du Lâm), hải cảng phía nam của đảo Hải Nam khoảng 350 km.

Toàn thể quần đảo Hoàng Sa có diện tích khoảng 15.000 km², gồm trên 30 đảo nhỏ và những hòn đá nhô khỏi mặt nước, chia ra làm hai nhóm chính: Nhóm Đông (Amphitrite) mà đảo lớn nhất là đảo Phú Lâm (Woody Island), dài không quá 4 km, rộng khoảng 2 hay 3 km; và Nhóm Tây (Crescent) mà đảo lớn nhất mang tên Hoàng Sa (Pattle Island), diện tích khoảng 0,3 km². Đảo Phú Lâm cách đảo Hoàng Sa khoảng 87 km.

Quần đảo Trường Sa ở vào khoảng vĩ tuyến 12° bắc và kinh tuyến 111° đông, cách bờ biển Việt Nam khoảng 400 km, cách Philippin khoảng 300 km và cách Trung Quốc khoảng 1.500 km.

Toàn thể quần đảo Trường Sa có diện tích khoảng 160.000 km², gồm trên 100 đảo và những hòn đá nhô lên mặt biển, trong đó có khoảng 26 đảo hoặc đá chính.

Người dân Việt Nam đã phát hiện ra các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đời. Những tài liệu lịch sử để lại đã chứng minh quan hệ chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo này ít ra là từ thời Chúa Nguyễn, vào thế kỷ thứ XVII.

Cho đến ngày bị Pháp đô hộ, các triều đại kế tiếp trị vì nước Việt Nam đã thực sự nắm chủ quyền trên hai quần đảo này mà không có nước nào cạnh tranh và coi các hải đảo này hoàn toàn thuộc lãnh thổ của nước ta.

Mãi đến đầu thế kỷ XX, năm 1909, trước sự đe doạ của chủ nghĩa bành trướng Nhật Bản, Trung Hoa mới bắt đầu chú ý tới quần đảo Hoàng Sa và sau này, trong những năm 1928, 1932, biểu hiện ý đồ tranh giành chủ quyền với chính quyền bảo hộ Pháp – chỉ biểu hiện ý đồ chứ không có hành động chiếm hữu thực sự.

Cũng cần nhấn mạnh là hồi đó, cho đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất, đòi hỏi của Trung Quốc chỉ nhằm vào quần đảo Hoàng Sa chứ không đả động đến quần đảo Trường Sa.

Trong suốt thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là quốc gia kế thừa, Pháp không hề khước từ chủ quyền trên hai quần đảo, tiếp tục khẳng định quan hệ chủ quyền và phản đối những yêu sách của Trung Quốc.

Trong thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản đã chiếm các hải đảo trên dãy Hoàng Sa và Trường Sa để làm căn cứ quân sự.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, lợi dụng danh nghĩa giải giáp quân đội Nhật Bản, năm 1947, quân đội Tưởng Giới Thạch đổ bộ lên đảo Phú Lâm (thuộc Nhóm Đông của quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (Itu Aba) của quần đảo Trường Sa, trong khi đó, quần đảo Pháp đóng ở đảo Hoàng Sa (thuộc Nhóm Tây của quần đảo Hoàng Sa) và một số đảo khác của quần đảo Trường Sa.

Chính phủ Bảo Đại chính thức thay thế Pháp ở quần đảo Hoàng Sa năm 1950 và chính quyền Ngô Đình Diệm ở quần đảo Trường Sa năm 1956.

Sau khi chiến thắng ở lục địa, chính quyền Bắc Kinh thay thế quân đội Quốc dân đảng Trung Hoa ở đảo Phú Lâm (thuộc quần đảo Hoàng Sa) năm 1956, trong khi đó Đài Loan vẫn tiếp tục thường xuyên có mặt ở đảo Ba Bình (thuộc quần đảo Trường Sa).

Năm 1974, quân đội Bắc Kinh đã sử dụng vũ lực, loại quân đội của chính quyền Việt Nam Cộng hoà ra khỏi quần đảo Hoàng Sa, và năm 1988, đổ bộ lên một số hòn đảo của quần đảo Trường Sa.

I. LUẬN ĐIỂM PHÁP LÝ CỦA TRUNG QUỐC

Trong tranh chấp chủ quyền hải đảo với Việt Nam, phía Trung Quốc đã đưa ra những căn cứ pháp lý gì?[2]

Trước tiên, cũng cần nói rõ là, lập trường của chính phủ Bắc Kinh và của chính quyền Đài Loan không khác nhau. Chính phủ Trung Quốc lặp lại những lập luận đã được chính quyền Tưởng Giới Thạch sử dụng trước kia.

1. Bằng chứng lịch sử

Trong khi đòi hỏi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Quốc luôn luôn khẳng định rằng các hải đảo này là đất đai của họ đã từ lâu đời. Nói khác đi, Trung Quốc có danh nghĩa thụ đắc chủ quyền (titre d’acquisition) trước Việt Nam.

Để chứng minh, nhà cầm quyền Trung Quốc viện dẫn nhiều tác phẩm lịch sử, tài liệu địa lý, di vật khảo cổ v.v.., trong đó có những tài liệu từ đời Tam Quốc, đời nhà Tống, đời nhà Nguyên, nhà Thanh. Tuy nhiên, những tài liệu đó không những thiếu chính xác mà còn không chứng minh được quan hệ chủ quyền của nhà nước Trung Quốc đối với hai quần đảo.

Qua những tường thuật của các tác giả, người ta không rõ những hải đảo được kể ra có thuộc hai quần đảo Hoàng Sa hoặc Trường Sa hay không, hay chỉ là những đảo kế cận đảo Hải Nam, bởi vì những hải đảo đó mang nhiều tên khác nhau và địa điểm so với bờ biển cũng không rõ.

Những tài liệu ấy đôi khi trái ngược với nhiều nguồn tài liệu địa dư khác của chính Trung Quốc, mô tả vương vực phía nam Trung Quốc chấm dứt bởi đảo Hải Nam.

Ngay cả những tài liệu nói tới một số sự kiện lịch sử tương đối rõ hơn để chứng minh một số biểu hiện chủ quyền như

• Cuốn sách của Vũ Kinh Tổng Yếu về chính sách quốc phòng đời Tống, có lời đề tựa của vua Tống Nhân Tông (1023-1053) nói đến cái gọi là việc tuần binh hải quân từ Quảng Đông tới Hoàng Sa!

• Việc vua nhà Nguyên (thế kỷ XIII) ra lệnh cho một nhà thiên văn nổi tiếng là Quách Tử Kính đo thiên văn ở trên lục địa Trung Quốc và cả trên bốn bể, nghĩa là hàm ý trên cả các đảo thuộc Hoàng Sa!

• Cuộc viễn chinh do Sử Bật chỉ huy đi đánh Giava năm 1293 có ghi trong Nguyên sử, đặt cả vùng Hoàng Sa dưới sự tuần binh!

• Việc tướng Ngô Thăng thuộc triều Thanh, chỉ huy tuần binh các vùng biển trong thời gian 1710 – 1712 được diễn dịch ra là bao gồm cả vùng Hoàng Sa v.v.!

cũng chỉ xác nhận Trung Quốc biết sự hiện hữu của quần đảo Hoàng Sa thôi chứ không minh chứng được sự chiếm hữu, bởi vì những tài liệu đó quá rời rạc, lẻ tẻ, hơn nữa rất mập mờ, nếu không nói là hoàn toàn thiếu cơ sở nghiêm túc.

Dẫu sao, tất cả các tài liệu do Trung Quốc đưa ra chỉ dẫn chứng sự phát hiện hải đảo.

Thế nhưng, theo luật quốc tế, những phát hiện hoặc kiến thức về địa dư, kể cả sự lui tới của những dân chài lưới trên hải đảo, chưa phải là một yếu tố đủ để chứng minh quan hệ về chủ quyền trên đất đai khám phá ra.

Muốn cho sự phát hiện có một hiệu quả pháp lý, nó phải được tiếp theo bằng một sự chiếm hữu thực sự (occupation effective) kèm theo một ý chí biểu hiện chủ quyền bằng những hành vi của một cơ quan quyền lực nhà nước tối cao chứ không chỉ đơn thuần là một hành động tư nhân.

Trái với Trung Quốc, Việt Nam đã đưa ra nhiều chứng cớ lịch sử chứng minh một cách vững chắc rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ lâu đã thuộc đất đai của mình.

Ban đầu, các quần đảo có tên nôm là Bãi Cát Vàng. Theo ông Lưu Văn Lợi, tên Cát Vàng có ghi trên bản đồ của Đỗ Bá Công Đạo và tác giả người Anh Gutzlaff trong một bài đăng trên tạp chí Hội Địa dư Luân Đôn năm 1849 nhan đề Địa dư của Triều đại Nam Kỳ cũng gọi là Katvàng.[3]

Những tài liệu lịch sử của Việt Nam đã ghi chép về các hải đảo này từ đời Lê Thánh Tông (cuối thế kỷ XV). Bản đồ thời Hồng Đức thế kỷ XVII cũng có ghi.

Phía Việt Nam không những đưa ra các tài liệu về sự phát hiện đất đai và hiểu biết về địa lý, mà còn chứng minh rằng nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu và quản lý hành chính thực sự hai quần đảo ấy.

Tài liệu đầu tiên xác nhận chủ quyền Việt Nam là tác phẩm “Tuyển tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ đồ thư” của Đỗ Bá, viết vào thế kỷ XVII.[4] Tiếp theo là tác phẩm Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn năm 1776.

Trong sách này, sử gia Việt Nam có ghi rõ địa điểm của đảo Hoàng Sa (đi đường biển 3 ngày, 3 đêm), sự khai thác do nhà nước tổ chức và số lượng kim khí thu lượm được từng năm (1704, 1705, 1709, 1713, v.v.).

Theo Lê Quý Đôn, Chúa Nguyễn lập ra một công ty nhà nước gọi là “Công ty Hoàng Sa” với chức năng ra các hải đảo này khai thác hải sản và thu lượm hàng hoá do các tàu ngoại quốc bị đắm bỏ lại từ đầu thế kỷ XVIII.

Năm 1821, Phan Huy Chú đã dành một chương dài trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí nói về quần đảo Hoàng Sa (địa lý, tài nguyên, tổ chức Công ty Hoàng Sa…).

Các bản đồ hoặc các tác phẩm địa dư xuất bản năm 1774, 1838, 1882 (Giáp Ngọ Bình Nam đồ, Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí) ghi chú các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Sự cai trị thực sự các quần đảo cũng được nói rõ trong các bộ sử như:

*Đại Nam thực lục (1821 – 1844)
*Đại Nam thực lục tiền biên (1600 – 1775)
*Đại Nam thực lục chính biên
*Đại Nam nhất thống chí (1865 – 1882)
*Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ (1843 – 1851)

Đầu thế kỷ XIX, các triều Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức tiếp tục củng cố chủ quyền trên các hải đảo.

Vua Gia Long đặc trách Công ty Hoàng Sa ra các đảo thăm dò đường hàng hải, thi hành công tác vẽ bản đồ.

Năm 1833, vua Minh Mệnh cho dựng một ngôi đền, một bia và trồng cây xanh làm dấu cho các tàu bè dễ nhận ra đảo, tránh bị đắm tàu.

Năm 1836, vua Minh Mệnh ra lệnh cho đô đốc hải quân đóng cột gỗ, có khắc dấu những nơi đã thanh tra:

“năm thứ 17 thời Minh Mệnh, vâng lệnh nhà vua, đô đốc Phan Hữu Nhật tới Hoàng Sa để xem xét và ghi chú địa hình và đóng cột mốc để đánh dấu sự kiện”.

Những tài liệu lịch sử nói trên cũng như tính xác thực của chúng đã được các tác giả nước ngoài nhìn nhận.

Do đó, có thể nói rằng, liên tục từ đầu thế kỷ XVIII cho đến thời kỳ là thuộc địa của Pháp, qua hoạt động chiếm hữu của cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước mà không gặp sự phản đối của nước nào, nhất là Trung Quốc, Việt Nam đã thụ đắc chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thể theo đúng những quy tắc của luật quốc tế hiện hành hồi đó.

Tuy sử Việt Nam (Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, 1843-1851) khẳng định: “quần đảo Hoàng Sa hoàn toàn thuộc đất đai hàng hải của nước ta và giữ một vai trò chiến lược to lớn”, sự thực chủ quyền nói ở đây bao gồm một vùng rộng hơn là vùng Hoàng Sa.

Những sách địa dư Việt Nam viết thời kỳ thế kỷ XIX (nhất là Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú năm 1821 và Đại Nam nhất thống chí, 1865-1882) đưa ra con số 130 hòn đảo.

Con số này dĩ nhiên không phù hợp với số đảo hiện nay thống kê ở quần đảo Hoàng Sa một cách riêng rẽ (30 đảo). Trái lại, nó đúng là tổng số đảo của cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa hợp lại.

Ngoài ra, các sử liệu của Việt Nam nói rõ có nhiều công ty có địa bàn hoạt động riêng biệt. Một trong những công ty lập ra vào thế kỷ XIX mang tên Bắc Hải, là tên bấy giờ của quần đảo Trường Sa, tên chung cho cả Việt Nam lẫn Trung Quốc.

Giả thuyết này cũng được chứng minh bằng bản đồ do thời Minh Mệnh năm thứ 14 lập ra có ghi chú hai quần đảo riêng với tên riêng.

Trung Quốc không những không đưa ra được những chứng cớ lịch sử về liên hệ chủ quyền với hai quần đảo mà còn không đưa ra được dấu vết nào chứng tỏ sự phản đối của Trung Quốc về sự thụ đắc chủ quyền của các vua chúa Việt Nam trong suốt thế kỷ XVIII và nhất là thế kỷ XIX khi các triều vua Việt Nam tổ chức việc khai thác có hệ thống các quần đảo dưới quyền tài phán của mình.

Tóm lại, cho tới thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam, với hiệp ước bảo hộ năm 1884, ta có thể kết luận như Monique Chemillier – Gendreau:

“Việt Nam đã giữ chủ quyền không có cạnh tranh trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phù hợp với hệ thống pháp lý của thời ấy, suốt trong gần hai thế kỷ”[5].

Tuy nhiên, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam bước vào một thời kỳ mới trong đó chủ quyền Việt Nam bị ảnh hưởng bởi sự đô hộ của chế độ thuộc địa, rồi trải qua Chiến tranh thế giới thứ hai và hai cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, với sự chia cắt đất nước thành hai miền, dưới hai chế độ chính trị khác nhau.

Qua những thử thách ấy, trong tình hình hết sức phức tạp đó, với những sự kế thừa quốc gia trên phương diện quốc tế, danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam có thể bị sứt mẻ hay mất đi không, nói cách khác, quyền thụ đắc chủ quyền có bị thời hiệu không.

Ta sẽ thấy, nếu sự thụ đắc chủ quyền không bị thời hiệu (prescription acquisitive) thì cũng bị đe doạ một cách trầm trọng, nhất là khi Việt Nam hoàn toàn bị loại ra khỏi quần đảo Hoàng Sa kể từ năm 1974.

2. Quan hệ giữa hoàng đế và vua nước chư hầu

Như trên đã nói, Trung Quốc hoàn toàn không quan tâm đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong suốt hai thế kỷ XVIII và XIX.

Sau khi Pháp thiết lập sự đô hộ trên nước Việt Nam, lần đầu tiên Trung Quốc biểu hiện sự quan tâm đến quần đảo Hoàng Sa là năm 1909.

Trước sự đe doạ của Nhật Bản có ý tranh giành chủ quyền trên đảo Pratas thuộc lãnh thổ Trung Quốc, ở phía đông bắc Hoàng Sa, nhà cầm quyền Lưỡng Quảng muốn đi một bước trước Nhật Bản trên đảo Hoàng Sa.

Tháng 4 năm 1909, chính quyền Trung Quốc đã cho xúc tiến một cuộc thăm dò quần đảo Hoàng Sa. Báo cáo về cuộc thăm dò của sĩ quan hải quân Trung Quốc chứng tỏ cho đến lúc đó chính quyền Trung Quốc hoàn toàn không hề biết địa điểm chính xác của các hải đảo.

Phái đoàn thăm dò đã cắm cờ Trung Quốc trên đảo để biểu dương sự hiện diện của Trung Quốc.

Tuy nhiên, động tác tượng trưng trên không được nối tiếp bằng một sự chiếm hữu thực sự cũng như một ý chí biểu hiện chủ quyền của một quyền lực tối cao (nhà cầm quyền Lưỡng Quảng chỉ là một chính quyền địa phương), nhất là luật quốc tế sau Định ước Berlin 1885 đã quy định những điều kiện khắt khe hơn về sự thụ đắc chủ quyền trên một vùng đất đai.

Mãi đến năm 1928, thấy có viễn tượng khai thác tài nguyên, Trung Quốc lại nhòm ngó quần đảo Hoàng Sa, thành lập một uỷ ban thanh tra các đảo Hoàng Sa, thảo ra một báo cáo với dự định khai thác tài nguyên trên các đảo. Và tiếp theo đó, năm 1932, dự định cho đấu thầu việc khai thác phân chim ở Hoàng Sa.

Chính phủ Pháp, với tư cách đại diện triều đình Huế, đã phản đối, khẳng định liên hệ chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và đề nghị đưa ra trọng tài phân xử nhưng Trung Quốc từ chối đề nghị của Pháp. Có lẽ vì họ không có một cơ sở pháp lý vững chắc.

Trước những chứng cớ lịch sử chính xác về văn tự chủ quyền của triều đình Huế, phía Trung Quốc đã đưa ra lập luận khác, dựa trên ý niệm chư hầu. Trong một văn thư gửi Bộ Ngoại giao Pháp ngày 29-9-1932, Trung Quốc cho rằng vua Việt Nam, với tư cách là một chư hầu đã hoạt động mệnh danh hoàng đế Trung Quốc. Những hành động ấy chỉ “xác định chủ quyền Trung Quốc trên những đảo không thuộc Việt Nam”!

Chúng ta biết rằng quan hệ chư hầu giữa các triều vua Việt Nam và hoàng đế Trung Hoa là một quan hệ phức tạp, vừa có tính cách ngoại giao vừa có tính cách văn hoá, nước chư hầu nhìn nhận mình nằm trong vùng ảnh hưởng văn hoá của văn minh Trung Quốc. Nó thể hiện qua việc gửi sứ giả sang cầu cống hoàng đế Trung Hoa, kèm theo những lễ vật, đặc sản địa phương quý giá vào các thời điểm khác nhau, hoặc hàng năm hoặc khi có sự thay đổi ngôi vua hoặc vào dịp kế thừa triều đại hoặc sau một cuộc chiến tranh giành độc lập để bình thường hoá quan hệ ngoại giao, nhất là để xoa dịu thể hiện của một nước láng giềng khổng lồ mới bị bại trận.

Như F. Joyaux đã nhận định “triều đình Việt cần sự thụ phong Trung Hoa để được kính nể, cũng như một quốc gia tân tiến ngày nay không thể tránh khỏi sự thừa nhận quốc tế để đứng vững. Vả lại, đứng về quan điểm Trung Hoa, ý tưởng có hai dân tộc khác nhau là không thoả đáng. Đúng ra nên thay thế nó bằng hai thế giới tiếp cận: văn minh và không văn minh. Thế giới văn minh, nghĩa là Khổng giáo, có tôn ti đối với hoàng đế (mà chúng ta gọi là hoàng đế Trung Hoa), để được tham gia vào thế giới này mà nước Đại Việt là một thành viên bởi vì sử dụng chữ viết Trung Hoa và tôn trọng những nghi lễ Trung Hoa, biểu hiện của nền văn minh, không có con đường nào khác là chịu làm chư hầu của hoàng đế. Nghĩa là sự cầu cống, thực ra bao hàm một hệ thống quan hệ hết sức phức tạp. Đối với Trung Quốc, nó phản ánh một sự phụ thuộc tối đa trong đó Trung Quốc có thể hy vọng giữ được nước Đại Việt mà không gây ra phản ứng “đế quốc” từ nước này. Đối với nước Đại Việt, ngược lại, phản ánh sự độc lập tối đa của mình mà không gây ra phản ứng đế quốc của Trung Quốc. Trong trường hợp này, cũng như trường hợp kia, bởi bản chất Khổng giáo của hai quốc gia, sự cầu cống, ít ra chứng tỏ sự chia sẻ chung một hệ thống giá trị”.[6]

Nhưng nghĩa vụ kính nể của triều đình Huế đối với nhà Thanh chỉ có tính cách thuần hình thức. Đây không phải là một quan hệ lệ thuộc.

Lập luận của Trung Quốc về chư hầu không có một giá trị pháp lý nào.

Một án lệ quốc tế, vụ tranh chấp chủ quyền các đảo Minquires và Ecréhous trên biển Manche, có thể đem ra áp dụng ở đây.

Trong vụ này, Pháp cho rằng mình có chủ quyền nguyên thuỷ bởi lẽ các công tước vùng Normandie là chư hầu của vua Pháp. Anh quốc cho rằng tước quyền của vua Pháp trên vùng Normandie chỉ đơn thuần có tính cách hình thức.

Toà án Quốc tế đã bác bỏ đòi hỏi của Pháp, cho rằng nếu vua Pháp có văn tự phong kiến nguyên thuỷ trên những hòn đảo của biển Manche, văn tự đó liên quan tới một thời phong kiến xa xôi, đã chấm dứt từ năm 1024.[7]

Thế mà quan hệ chư hầu của Việt Nam đối với Trung Quốc còn lỏng lẻo hơn quan hệ giữa công tước miền Normandie đối với vua nước Pháp.

3. Hiệp uớc Pháp – Thanh 26-6-1887

Trong văn thư nói trên, chính phủ Trung Hoa đưa ra một luận cứ thứ hai dựa vào Hiệp ước Pháp – Thanh ký ở Bắc Kinh ngày 26-6-1887, phân chia biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ (miền Bắc Việt Nam).

Theo Điều 3 của bản Hiệp ước, những điểm tranh chấp ở vào phía đông và đông bắc của Móng Cái, ở bên kia đường biên giới do Uỷ ban phân chia biên giới ấn định, thuộc về Trung Quốc. Các hòn đảo ở phía đông kinh tuyến Paris, 105043’ kinh tuyến đông – nghĩa là con đường biên giới bắc nam đi qua mũi phía đông (la pointe orientale) của hòn đảo Trà Cổ – thuộc về Trung Quốc, và các đảo ở phía tây của kinh tuyến ấy thuộc về Việt Nam.

Nói khác đi, Trung Quốc cho rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở về phía đông của ranh giới ấy thuộc về Trung Quốc.

Tuy nhiên, mục đích của Hiệp ước 1887 là phân định biên giới giữa Bắc Kỳ (miền Bắc Việt Nam) và Trung Quốc. Hiệp ước chủ yếu liên quan đến đất liền. Nó chỉ có mục đích phụ để giải quyết những đảo nhỏ không quan trọng ở gần bờ biển nhất, mà không cần phải chỉ định rõ tên.

Hiệp ước cũng chỉ định rõ điểm khởi đầu của con đường phân chia ranh giới đi qua mũi đông của đảo Trà Cổ mà không chỉ điểm cuối bởi vì bề dài của nó tuỳ sự hiện hữu của những đảo gần bờ biển.

Nếu theo cách giải thích của Trung Quốc để kéo dài đường ranh giới tới giao điểm với bờ biển Trung Kỳ (miền trung Việt Nam) thì tất cả các đảo ở phía Nam của Huế đều thuộc chủ quyền của Trung Quốc!

Công ước Vienne ngày 29-6-1969 điển pháp hoá những quy tắc giải thích các hiệp ước quốc tế nhấn mạnh vào vai trò của thiện ý trong việc giải thích và vào sự cần thiết giải thích các văn bản theo nghĩa thông thường của các từ và dưới ánh sáng của mục đích và đối tượng của hiệp ước (Điều 31). Điều 32 cho phép xem xét những công trình sửa soạn hiệp ước và những bối cảnh mà hiệp ước đã được ký kết.

Mà mối quan tâm khi ký Hiệp ước 1887 khi đó giữa Pháp và Trung Quốc là vấn đề thương mại. Lúc đó cả hai bên không ai nghĩ tới các quần đảo.

4. Cái gọi là sự “khước từ chủ quyền” của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Trung Quốc đưa ra ba sự kiện sau đây để khẳng định cái gọi là Việt Nam đã “khước từ chủ quyền” trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa:

• Ngày 15-6-1956, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp đại sứ quán Trung Quốc hình như đã khẳng định rằng: “theo những tài liệu lịch sử của phía Việt Nam thì những đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc”.

Lời tuyên bố này có được xác nhận không?

Đây là một tuyên bố miệng hay có ghi trong biên bản?

Những câu hỏi này cho đến nay không có câu trả lời, do đó, khó có thể cho nó một giá trị về phương diện pháp lý.

• Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ngày 14-9-1958 nhân dịp Trung Quốc công bố quyết định ngày 04-9-1958 nới rộng vùng lãnh hải của họ ra 12 hải lý và chỉ định rõ là quyết định liên quan đến lãnh hải của lục địa Trung Quốc và tất cả các hải đảo thuộc Trung Quốc trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.

Công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghi:

“Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể”.

• Cuối cùng, Trung Quốc cũng dựa trên một tuyên bố của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 09-5-1965 liên quan tới vùng chiến đấu của quân đội Hoa Kỳ theo đó Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hình như đã tố cáo rằng vùng này gồm “một phần lãnh hải Trung Hoa tiếp cận với một phần quần đảo Tây Sa”.

Trước hết, cần để ý là công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng chỉ ghi nhận và tôn trọng bề rộng lãnh hải mới 12 hải lý của Trung Quốc thôi chứ không đả động tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Dẫu sao, sau Hiệp định Genève, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ kiểm soát phần lãnh thổ trên vĩ tuyến 17, phần lãnh thổ miền Nam trong đó có các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lúc đó hoàn toàn do chính quyền Sài Gòn kiểm soát.

Do đó, lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không có hiệu quả pháp lý về chủ quyền trên các hải đảo này.

Hơn nữa, các sự kiện nói trên đã xảy ra trong những bối cảnh chính trị và quân sự đặc biệt ở từng thời điểm.

Trước sự biểu dương lực lượng của Hạm đội 7 của Hoa Kỳ trên eo biển Đài Loan, sát gần biên giới Trung Quốc trong những năm cuối thập kỷ 50, có thể coi lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như một cử chỉ hỗ trợ Trung Quốc về mặt chính trị chống lại chính sách khiêu khích của Hoa Kỳ, bởi vì việc nới rộng lãnh hải từ 3 hải lý ra 12 hải lý nhằm mục đích đẩy lùi tàu chiến Hoa Kỳ ra xa ngoài biên giới hơn.[8]

Sau này, lời tuyên bố liên quan đến vùng chiến đấu cũng vậy, là lúc cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang bước vào giai đoạn khẩn trương mới, với sự can thiệp quân sự trực tiếp của Hoa Kỳ và Việt Nam, bằng những trận tấn công ồ ạt của không quân và thuỷ quân, bằng sự đổ bộ của hàng trăm ngàn lính Mỹ. Một cuộc chiến tranh khốc liệt bắt đầu lan rộng ra cả hai miền Nam – Bắc. Tuy nhiên, trong tình hình quốc tế giữa thập kỷ 60, Hoa Kỳ tự kiềm chế chỉ can thiệp vào giới hạn lãnh thổ Việt Nam hay Đông Dương, chứ không dám xâm phạm lãnh thổ Trung Quốc.

II. MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ LẬP TRƯỜNG PHÁP LÝ CỦA TRUNG QUỐC

1. Một sự vi phạm các nguyên tắc căn bản của luật quốc tế

Như đã trình bày ở trên, những lập luận của Trung Quốc không có cơ sở pháp lý vững chắc, hoàn toàn trái với những quy tắc của công pháp quốc tế và những án lệ về thụ đắc chủ quyền trên đất đai.

Những hành động chiếm đóng các hải đảo bằng vũ lực là một sự vi phạm rõ ràng Hiến chương Liên hợp quốc mà Điều 2 đoạn 4 cấm sử dụng vũ lực để xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia.

Quyết nghị số 2625 ngày 24-10-1970 sau khi đã nhắc lại rằng mọi sự chiếm hữu đất đai là bất hợp pháp đã quy định: “mọi quốc gia có nghĩa vụ phải tránh sử dụng sự đe doạ hoặc sử dụng vũ lực để vi phạm biên giới quốc tế hiện hữu của một quốc gia khác, như một phương tiện để giải quyết những tranh chấp quốc tế, kể cả những tranh chấp về đất đai và những vấn đề liên quan đến biên giới của các quốc gia”.

Cho đến nay, vì đuối lý, Trung Quốc đã nhiều lần từ chối đề nghị giải quyết tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng trọng tài hoặc trước toà án quốc tế.

2. Luận cứ của Trung Quốc đưa ra trong vụ tranh chấp hoàn toàn mâu thuẫn với chính lập trường của Trung Quốc trước kia về luật quốc tế

2.1. Về sự phát hiện đất đai vô chủ

Trước kia Trung Quốc chỉ trích luật quốc tế cho rằng phương Tây đã dùng luật quốc tế như một khí cụ cho chủ nghĩa thực dân đế quốc.

Những quy tắc về thụ đắc đất đai dựa trên sự phát hiện đầu tiên những đất đai vô chủ trên thế giới, nhất là ở châu Mỹ, châu Phi, châu Úc v.v. không kể đến sự hiện hữu của dân bản xứ tại đây coi là “không văn minh”.

Tuy nhiên, những quy tắc nói trên là những quy tắc phát sinh từ thời kỳ đầu chủ nghĩa thuộc địa. Sau đó, những quy tắc của luật quốc tế về thụ đắc chủ quyền đã tiến hoá, quy định những điều kiện về sự chiếm hữu thực thụ và ý chí biểu hiện chủ quyền của cơ quan quyền lực tối cao của nhà nước đó.

Vậy mà Trung Quốc vẫn đơn thuần dựa vào sự phát hiện đất đai từ xưa, nghĩa là quy tắc lỗi thời của thời thực dân, để khẳng định quan hệ chủ quyền và coi như mình có danh nghĩa chủ quyền trước Việt Nam.

2.2. Về những hiệp ước ký kết trong thời kỳ thực dân

Vì chính Trung Quốc trước kia cũng đã là nạn nhân của chính sách thực dân của các cường quốc phương Tây tới xâu xé, cắt xén đất đai của mình (những hiệp ước thiết lập đặc quyền ngoại giao theo luật quốc tế phương Tây trong thời kỳ 1842-1860) nên khi thu hồi độc lập Trung Quốc không thừa nhận những hiệp ước gọi là “hiệp ước bất bình đẳng” do các cường quốc phương Tây áp đặt cho Trung Quốc.

Vậy mà Trung Quốc lại không ngần ngại lấy Hiệp ước Pháp – Thanh 1887 để làm cơ sở cho sự đòi hỏi chủ quyền của mình[9].

Hiệp ước này giống hệt những hiệp ước bất bình đẳng khác bởi vì nó được ký kết hai năm sau cuộc chiến tranh Pháp – Thanh giữa cường quốc Pháp và triều đình Trung Hoa yếu ớt thời đó.

Mục đích chính của Hiệp ước là xác nhận sự thôn tính và kiểm soát Đông Dương thuộc vùng ảnh hưởng của Trung Quốc trước kia.

2.3. Về sự hỗ trợ các nước tranh đấu cho độc lập tự do trong thế giới thứ ba

Trước kia Trung Quốc tự cho mình là vô địch trong việc hỗ trợ các nước trong thế giới thứ ba đấu tranh giải phóng dân tộc. Thế mà trong tranh chấp với Việt Nam, Trung Quốc vẫn không ngần ngại đưa ra lập luận quan hệ hoàng đế – chư hầu để đòi hỏi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

3. Những biểu hiện của chủ nghĩa bành trướng hàng hải[10]

Ngày 25-02-1992, Trung Quốc công bố đạo luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp. Điều 2 của đạo luật này đưa ra những yêu sách của Bắc Kinh ở biển phía nam và phía đông Trung Hoa, quy định: “Lãnh hải gồm vùng nước tiếp giáp với đất đai của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Đất đai của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa gồm đất đai trên lục địa và những đảo ngoài khơi, Đài Loan và những đảo phụ cận, kể cả đảo Shenkaku, đảo Pescadores, đảo Pratas, đảo Tây Sa (Hoàng Sa), Nam Sa (Trường Sa) và những đảo khác thuộc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa…”.[11]

Như vậy, Trung Quốc đã đặt đại bộ phận Biển Đông (khoảng 80%) dưới chủ quyền của mình, như chúng ta cũng thấy khi nhìn bản đồ.

Trung Quốc cố tình dùng những từ rất mù mờ về phương diện địa dư và pháp lý để chỉ các vùng biển cũng như biên giới hàng hải của mình, không rõ đường biên giới đưa ra là liên quan đến bề rộng của lãnh hải hay là liên quan đến vùng đặc quyền kinh tế.

Chúng ta biết rằng vùng biển Trung Quốc nhắm ở đây mà ta gọi là Biển Đông, đóng một vai trò hết sức quan trọng về mặt chiến lược, không những về phương diện quân sự mà cả về mặt giao thông hàng hải và hàng không trên mặt nước, cũng như về mặt kinh tế với tiềm năng khai thác hải sản, nhất là dầu lửa và khí đốt ở dưới thềm lục địa.

Cần biết rằng ¼ trọng lượng vận tải hàng hải quốc tế đi qua hai bên quần đảo Trường Sa.

Kiểm soát vùng này là kiểm soát tất cả những tàu bè chở hàng và năng lượng đi từ eo biển Malacca để sang Hồng Kông, Thượng Hải, Đài Loan, Nhật Bản, v.v..

Cũng cần biết thêm rằng 70% cung ứng dầu lửa của Nhật Bản được chở qua Biển Đông.

Tài nguyên dưới đáy biển cũng rất quan trọng, ước lượng hàng trăm tỷ tấn dầu.

Nắm chủ quyền trên vùng biển này, sẽ kiểm soát cả những vùng khai thác dầu khí quan trọng như:

- Nam Côn Sơn, Đại Hùng, Thanh Long, Tư Chính
- Natuna
- Malampaya, Camaga (Bắc Palawan)
- Jintan, Serai, Saderi ngoài khơi Sarawak,
Về phương diện pháp lý, chúng ta biết rằng Trung Quốc đã ký và mới đây đã phê chuẩn Công ước Liên hợp quốc 1982 về luật biển.

Thế nhưng, theo Điều 121, khoản 3, nếu như Hoàng Sa và Trường Sa có thuộc chủ quyền Trung Quốc đi chăng nữa thì các quần đảo này vì chỉ gồm những hòn đảo diện tích nhỏ bé, khí hậu lại khắc nghiệt, con người không thể sinh cơ lập nghiệp ở đó, nghĩa là không có khả năng có một đời sống kinh tế tự túc, thì các đảo chỉ được nhìn nhận lãnh hải mà thôi chứ không có quyền có thềm lục địa hoặc vùng đặc quyền kinh tế riêng.

Hơn nữa, các quần đảo này vì ở xa bờ biển Trung Quốc quá 24 hải lý nên không thể ảnh hưởng tới sự phân định vùng lãnh hải của lục địa Trung Quốc được.

Do đó, đường biên giới hàng hải mà Trung Quốc yêu sách chủ quyền hoàn toàn vi phạm những điều khoản của Công ước Liên hợp quốc về luật biển.

Trắng trợn hơn nữa, tháng 5 năm 1992, Bắc Kinh cho phép Công ty Crestone của Mỹ thăm dò một vùng nhượng địa 24.155 km2 ở phía tây Trường Sa, ngay bên cạnh Đại Hùng. Đây là một vùng mà Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc 21 và Việt Nam gọi là bãi đá ngầm Tư Chính, nằm trên thềm lục địa của Việt Nam, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 300 km và cách đảo Hải Nam khoảng 1.000 km. Vùng này không thể thuộc thềm lục địa của Trường Sa được (ngay cả khi được nhìn nhận có thềm lục địa đi nữa) bởi vì nó đối diện với Trường Sa và bị ngăn cách nhau bằng một rãnh sâu từ 1.800 tới 2.000m[12].

Trước sự phản đối quyết liệt của Việt Nam, tháng 7 năm 1992, Trung Quốc đã cho thuỷ quân đổ bộ, như đã xảy ra năm 1988, lên một vài hòn đảo nữa và đóng mốc chủ quyền và trấn an Công ty Crestone của Mỹ về phương diện an ninh.

Những hành động của Trung Quốc vừa đề cập biểu hiện rõ ràng chủ nghĩa bành trướng hàng hải bất luận những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Cũng không thể quên rằng, trong tranh chấp với Việt Nam trên các hải đảo, Trung Quốc luôn luôn lợi dụng những thời cơ thuận lợi để thực hiện mưu đồ bành trướng, như việc thay thế phát xít Nhật sau Chiến tranh thế giới thứ hai để chiếm đảo Phú Lâm ở quần đảo Hoàng Sa và Ba Đình ở quần đảo Trường Sa, rồi lợi dụng lúc tình hình cuộc chiến tranh ở Việt Nam đang khẩn trương năm 1974 để độc chiếm quần đảo Hoàng Sa, rồi đổ bộ lên quần đảo Trường Sa năm 1988 khi Việt Nam đang bị khó khăn về kinh tế, rồi lợi dụng khoảng trống chiến lược trong vùng Đông Nam Á, với sự rút lui của hải quân Liên Xô và của Hạm đội 7 của Mỹ sau thất bại ở Việt Nam để mưu toan kiểm soát Biển Đông.

4. Những nguy hại của chính sách “sự kiện đã rồi” và sự chiếm hữu kéo dài hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng vũ lực của Trung Quốc

Chính sách của Trung Quốc hiện nay là kéo dài tình hình “sự kiện đã rồi”, chống lại mọi đề nghị thương thuyết hay giải pháp giải quyết pháp lý qua trọng tài hoặc Toà án quốc tế, định những thời cơ thuận lợi để lấn tới, như Trung Quốc đã làm trong quá khứ.

Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là làm sao giành lại được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Chúng ta đã đấu tranh gần một thế kỷ để giành lại độc lập và thống nhất, nhưng phải nói rằng mục tiêu toàn vẹn lãnh thổ vẫn chưa đạt được khi nước ta còn bị mất quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa do ông cha ta để lại.

Chúng ta cũng không nên quên rằng diện tích của hai quần đảo, kể cả vùng lãnh hải 12 hải lý, lớn hơn quá nửa diện tích đất đai của Việt Nam.

Đây là sự mất mát lớn, mà chắc chắn là không thể lấy lại bằng vũ lực. Do đó, mặt trận ngoại giao và pháp lý rất quan trọng.

Theo luật quốc tế, mặc dù nước ta có danh nghĩa chủ quyền vững chắc và mặc dù Trung Quốc đã chiếm đóng đất đai của nước ta một cách bất hợp pháp nhưng nước ta cũng vẫn phải tiếp tục củng cố quan hệ chủ quyền của mình, và nhất là phải cảnh giác phản đối, lên án bất cứ những hoạt động nào của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền ấy, nếu không chủ quyền của nước ta sẽ bị thời hiệu hoá. Đó chính là điều mà Trung Quốc sẽ chờ đợi.

Mấu chốt của vấn đề chính là sự tương quan lực lượng. Hiện nay, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa bị Trung Quốc chiếm, mà Trung Quốc là một cường quốc đang đi lên, kinh tế phát triển mạnh, bối cảnh quốc tế thuận lợi cho họ. Trong khi đó, nền kinh tế nước ta tuy đã mở cửa nhưng vẫn còn chập chững.

Cũng nên nhắc rằng, ý đồ của Trung Quốc thôn tính quần đảo Hoàng Sa từ gần một thế kỷ nay và cả đối với quần đảo Trường Sa từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay là nhất quán. Trung Quốc và Đài Loan cùng một lập trường thống nhất trong tranh chấp với nước ta. Trong khi đó, trong quá khứ chúng ta cũng có nhiều sơ hở do hoàn cảnh khách quan đem lại.

Việc cần làm hiện nay là xây dựng ý thức dân tộc về sự bảo vệ chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng cách thông tin, giáo dục rộng rãi cho dân chúng và nhất là cho thế hệ trẻ, về vị trí chiến lược và kinh tế quan trọng của nó, về quan hệ chủ quyền của nước ta, v.v. như đã xây dựng ý thức dân tộc giành độc lập, thống nhất đất nước trước kia.

Đào Văn Thụy – Tạp chí Thời đại
Có bổ sung 1 số hình minh họa

*Tham luận đọc tại Hội Thảo Hè “Vấn Đề Tranh Chấp Biển Đông” tại New York City, ngày 15-16 tháng 8, 1998.

[1] Luật gia Paris.

[2] Về tranh chấp Hoàng Sa – Trường Sa, xem tác phẩm của giáo sư Pháp Monique Chemillier – Gendreau: La souveraineté les archipels Paracels et Spratleys, L’Harmattan, Paris, 1996. Về lập trường của Việt Nam, xem Lưu Văn Lợi: Cuộc tranh chấp Việt – Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, 1995.

[3] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 27.

[4] Chi tiết xin xem bài của tiến sĩ luật Từ Đặng Minh Thu – B.T.

[5] Monique Chemillier – Gendreau, Sđd, tr. 78.

[6] François Joyaux: La Chine et le règlement de la première guerre d’Indochine, Ed. de la Sorbonne, 1979, p. 44-45.

[7] Vụ án các đảo Minquiers và Ecréhous, Toà án Quốc tế 17-11-1953.

[8] Lưu Văn Lợi, Sđd, tr. 64.

[9] Michael Bennett: Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và sự sử dụng luật quốc tế trong tranh chấp về quần đảo Trường Sa, Tạp chí luật quốc tế Standford, bộ 28, tr. 91 – 92.

[10] Virginie Raisson: Quần đảo Trường Sa, trung tâm những căng thẳng ở châu Á, quái dị của cuộc tranh chấp ở Biển Đông, Le Monde Diplomatique, tháng 3-1996; Henri Labrousse: Những tham vọng hàng hải của Trung Quốc, Tạp chí Quốc phòng, tháng 2 – 1994, tr. 331 và tiếp.

[11] Trong số những đảo nói trên, ngoài trường hợp Đài Loan, Hoàng Sa, Trường Sa, còn có tranh chấp chủ quyền trên các đảo Pescadores giữa Trung Quốc và Đài Loan, trên các đảo Shenkaku giữa Trung Quốc, Đài Loan và Nhật Bản. Chỉ có đảo Pratas là thuộc lãnh thổ Trung Quốc.

[12] Xem Brice M. Clagget: Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong Biển Đông, Tạp chí Dầu mỏ và khí đốt (Anh), số 10-11, 1995.

————————————————————————-

Xin trích giới thiệu 1 bài phân tích nữa về công hàm của thủ tướng Phạm Văn Đồng được đăng trên tạp chí uy tín The Time của Mỹ:


Những lời tuyên bố trên không có hiệu lực vì trước năm 1975, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không quản lý những đảo này. Lúc đó, những đảo này nằm dưới sự quản lý của Việt Nam Cộng hoà; mà các chính phủ Việt Nam Cộng hoà luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo. Còn Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam cũng không tuyên bố điều gì có thể làm hại đến chủ quyền này cả. Tác giả Monique Chemillier-Gendreau đã viết như sau:

Dans ce contexte, les declarations ou prise de position éventuelles des autorités du Nord Vietnam sont sans consequences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement competent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité…

(Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”).

Một lý lẽ thứ hai nữa là đứng trên phương diện thuần pháp lý, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc đó không phải là một quốc gia trong cuộc tranh chấp. Trước năm 1975, các quốc gia và lãnh thổ tranh chấp gồm: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam Cộng hoà và Philippin. Như vậy, những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa xem như lời tuyên bố của một quốc gia thứ ba không có ảnh hưởng đến vụ tranh chấp.

Nếu đặt giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một thì dựa trên luật quốc tế, những lời tuyên bố đó cũng không có hiệu lực. Tuy nhiên, có tác giả đã nêu thuyết “estoppel” để khẳng định những lời tuyên bố đó có hiệu lực bó buộc đối với Việt Nam, và Việt Nam bây giờ không có quyền nói ngược lại.

Theo luật quốc tế, không có một văn bản pháp lý nào có thể gắn cho những lời tuyên bố đơn phương một tính chất bó buộc, ngoại trừ thuyết “estoppel”. Điều 38 Quy chế Toà án Quốc tế không liệt kê những lời tuyên bố đơn phương trong danh sách những nguồn gốc của luật pháp quốc tế. Estoppel là một nguyên tắc theo đó một quốc gia không có quyền nói hoặc hoạt động ngược lại với những gì mình đã nói hoặc hoạt động trước kia. Câu tục ngữ thường dùng để định nghĩa nó là “one cannot at the same time blow hot and cold.”[72] Nhưng thuyết estoppel không có nghĩa là cứ tuyên bố một điều gì đó thì quốc gia tuyên bố phải bị ràng buộc bởi lời tuyên bố đó.

Thuyết estoppel bắt nguồn từ hệ thống luật quốc nội của Anh, được thâu nhập vào luật quốc tế. Mục đích chính của nó ngăn chặn trường hợp một quốc gia có thể hưởng lợi vì những thái độ bất nhất của mình, và do đó, gây thiệt hại cho quốc gia khác.Vì vậy, estoppel phải hội đủ các điều kiện chính:

1. Lời tuyên bố hoặc hành động phải do một người hoặc cơ quan đại diện cho quốc gia phát biểu, và phải được phát biểu một cách minh bạch (clair et non equivoque).

2. Quốc gia nại “estoppel” phải chứng minh rằng mình đã dựa trên những lời tuyên bố hoặc hoạt động của quốc gia kia, mà có những hoạt động nào đó, hoặc không hoạt động. Yếu tố này trong luật quốc nội Anh-Mỹ gọi là “reliance”.

3. Quốc gia nại “estoppel” cũng phải chứng minh rằng, vì dựa vào lời tuyên bố của quốc gia kia, mình đã bị thiệt hại, hoặc quốc gia kia đã hưởng lợi khi phát biểu lời tuyên bố đó.

4. Nhiều bản án còn đòi hỏi lời tuyên bố hoặc hoạt động phải được phát biểu một cách liên tục và trường kỳ. Thí dụ: bản án “Phân định biển trong vùng Vịnh Maine”, bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua”, bản án “Ngôi đền Preah Vihear”,…

Ngoài ra, nếu lời tuyên bố đơn phương có tính chất một lời hứa, nghĩa là quốc gia tuyên bố mình sẽ làm hoặc không làm một việc gì, thì quốc gia phải thực sự có ý định muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó, thực sự muốn thi hành lời hứa đó.

Thuyết estoppel với những điều kiện trên đã được án lệ quốc tế áp dụng rất nhiều. Trong bản án “Thềm lục địa vùng Biển Bắc” giữa Cộng hòa Liên bang Đức và Đan Mạch/Hà Lan, Toà án quốc tế đã phán quyết rằng estoppel không áp dụng cho Cộng hòa Liên bang Đức, mặc dù quốc gia này đã có những lời tuyên bố trong quá khứ nhằm công nhận nội dung của Công ước Genève 1958 về thềm lục địa, vì Đan Mạch và Hà Lan đã không bị thiệt hại khi dựa vào những lời tuyên bố đó.

Trong bản án “Những hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragua” giữa Nicaragua và Mỹ, Toà đã phán quyết như sau: “… ‘Estoppel’ có thể được suy diễn từ một thái độ, những lời tuyên bố của một quốc gia, nhằm chấp nhận một tình trạng nào đó; thái độ hoặc lời tuyên bố không những phải được phát biểu một cách rõ rệt và liên tục, mà còn phải khiến cho một hoặc nhiều quốc gia khác dựa vào đó mà thay đổi hoạt động, và do đó phải chịu thiệt hại”.

Áp dụng những nguyên tắc trên của estoppel vào những lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chúng ta thấy thiếu điều kiện 2/ và 3/ đã nêu ở trên. Năm 1956, năm 1958 và năm 1965, Trung Quốc đã không có thái độ nào, hoặc thay đổi thái độ vì dựa vào lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Và Trung Quốc cũng không thể chứng minh được rằng mình bị thiệt hại gì do dựa vào những lời tuyên bố đó. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không được hưởng lợi gì khi có những lời tuyên bố đó. Lúc đó hai dân tộc Việt Nam và Trung Hoa rất thân thiện, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Những lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng hoàn toàn do tình hữu nghị Hoa-Việt. Hơn nữa, lời văn của bản tuyên bố không hề nói rõ ràng minh bạch là công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Hoàng Sa. Bức công hàm chỉ nói: “Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy (quyết định ấn định lãnh hải 12 dặm của Trung Quốc), và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc…”.

Lời tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng có thể hiểu là một lời hứa đơn phương, một lời tuyên bố ý định sẽ làm một việc gì (declaration d’intention). Thật vậy, đây là một lời hứa sẽ tôn trọng quyết định của Trung Quốc trong việc ấn định lãnh hải của Trung Quốc, và một lời hứa sẽ ra lệnh cho cơ quan công quyền của mình tôn trọng lãnh hải đó của Trung Quốc.

Một lời hứa thì lại càng khó ràng buộc quốc gia đã hứa. Toà án Quốc tế đã ra thêm một điều kiện nữa để ràng buộc một lời hứa: đó là ý chí thực sự của một quốc gia đã hứa. Nghĩa là quốc gia đó có thực sự muốn bị ràng buộc bởi lời hứa của mình hay không. Để xác định yếu tố “ý chí” (intention de se lier), Toà xét tất cả những dữ kiện xung quanh lời tuyên bố đó, xem nó đã được phát biểu trong bối cảnh, trong những điều kiện nào (circonstances). Hơn nữa, nếu thấy quốc gia đó có thể tự ràng buộc mình bằng cách ký thoả ước với quốc gia kia, thì lời tuyên bố đó là thừa, và Toà sẽ kết luận là quốc gia phát biểu không thực tình có ý muốn bị ràng buộc khi phát biểu lời tuyên bố đó. Vì vậy, lời tuyên bố đó không có tính chất ràng buộc.

Trong bản án “Những cuộc thí nghiệm nguyên tử” giữa Úc/Tân Tây Lan và Pháp, Pháp đã tuyên bố là sẽ ngừng thí nghiệm nguyên tử. Toà án đã phán quyết rằng Pháp bị ràng buộc bởi lời hứa vì Pháp thực sự có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó.

Trong trường hợp Việt Nam, Thủ tướng Phạm Văn Đồng, khi tuyên bố sẽ tôn trọng lãnh hải của Trung Quốc, không hề có ý định nói đến vấn đề chủ quyền trên Hoàng Sa và Trường Sa. Ông đã phát biểu những lời tuyên bố trên trong tình trạng khẩn trương, chiến tranh với Mỹ bắt đầu leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe doạ Trung Quốc. Ông đã phải lập tức lên tiếng để ủng hộ Trung Quốc nhằm gây một lực lượng chống đối lại với mối đe doạ của Mỹ.

Lời tuyên bố năm 1965 của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng như vậy. Động lực của lời tuyên bố đó là tình trạng khẩn trương, nguy ngập ở Việt Nam. Đây là những lời tuyên bố có tính chính trị, chứ không phải pháp lý.

Nếu xét yếu tố liên tục và trường kỳ thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng không hội đủ tiêu chuẩn này. Estoppel chỉ đặt ra nếu chấp nhận giả thuyết Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một; và cả Pháp trong thời kỳ thuộc địa, và Việt Nam Cộng hoà trước năm 1975 cũng là một đối với Việt Nam hiện thời. Nếu xem như Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia riêng biệt với Việt Nam hiện thời, thì estoppel không áp dụng, vì như đã nói ở trên, lời tuyên bố sẽ được xem như lời tuyên bố của một quốc gia không có quyền kiểm soát trên lãnh thổ tranh chấp. Như vậy, nếu xem Việt Nam nói chung như một chủ thể duy nhất từ xưa đến nay, thì ba lời tuyên bố của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ là một sự phát biểu có ý nghĩa chính trị trong đoản kỳ thời chiến, so với lập trường và thái độ của Việt Nam nói chung từ thế kỷ XVII đến nay.

Tóm lại, những lời tuyên bố mà chúng ta đang phân tích thiếu nhiều yếu tố để có thể áp dụng thuyết estoppel. Yếu tố “reliance” (tức là quốc gia kia có dựa vào lời tuyên bố của quốc gia này mà bị thiệt hại), và yếu tố “ý chí” (tức là quốc gia phát biểu lời hứa có ý muốn bị ràng buộc bởi lời hứa đó) rất quan trọng. Không có “reliance” để giới hạn sự áp dụng của estoppel thì các quốc gia sẽ bị cản trở trong việc hoạch định chính sách ngoại giao. Các quốc gia sẽ phải tự ép buộc cố thủ trong những chính sách ngoại giao lỗi thời. Khi điều kiện chung quanh thay đổi, chính sách ngoại giao của quốc gia kia thay đổi, thì chính sách ngoại giao của quốc gia này cũng phải thay đổi. Các quốc ga đổi bạn thành thù và đổi thù thành bạn là chuyện thường.

Còn những lời hứa đơn phương trong đó quốc gia không thật tình có ý muốn bị ràng buộc, thì nó chẳng khác gì những lời hứa vô tội vạ, những lời hứa suông của các chính khách, các ứng cử viên trong cuộc tranh cử. Trong môi trường quốc tế, nguyên tắc “chủ quyền quốc gia” (état souverain) rất quan trọng. Ngoại trừ tục lệ quốc tế và những điều luật của Jus Congens, không có luật nào ràng buộc quốc gia ngoài ý muốn của mình, khi mà quốc gia này không gây thiệt hại cho quốc gia nào khác. Vì vậy ý chí của quốc gia đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất ràng buộc của một lời hứa đơn phương
http://my.opera.com/linhbn/blog/lap-truong-cua-trung-quoc-trong-tranh-chap-chu-quyen-tren-hai-quan-dao-hoang-sa

Posted in Biển Đông VN, Công hàm PVĐ, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới | Leave a Comment »

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa I I I

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Le 1er avril 2001 un avion espion américain et un chasseur chinois entraient en collision à une centaine de kilomètres au sud-est de l’île de Hainan. S’en suivit le décès du pilote chinois bientôt élevé au rang de héros national, la prise en otage des vingt-quatre membres d’équipage américains puis leur libération et toute une série d’analyses politico-stratégiques soulignant les velléités expansionnistes de Pékin en mer de Chine du sud et s’appuyant avec plus ou moins de succès sur un argumentaire juridique cherchant à démonter le bon droit de l’une ou l’autre partie à la lumière des apories du droit international moderne…
C’est également cette problématique du rapport de la Chine au droit et plus précisément au droit de la mer que l’on retrouve en filigrane dans l’ouvrage de Monique Chemillier-Gendreau. Sovereignty over the Paracels and Spratly Islands se propose en effet de traiter des questions juridiques inhérentes aux conflits de souveraineté en mer de Chine du sud à partir d’une approche « originale » puisque fondée en majeure partie sur l’analyse des archives françaises. Cette immersion dans trois siècles d’histoire diplomatique vise à évaluer la validité des titres territoriaux de chacune des parties et l’effectivité de leur occupation des archipels revendiqués afin de proposer un éclairage juridique sur la question de la souveraineté comme préalable à un règlement du différend qui passerait nécessairement par une délimitation des frontières maritimes.
Voie de navigation stratégique riche en ressources halieutiques et potentiellement en hydrocarbures, la mer de Chine du sud est sans doute la région la plus controversée de la planète : pas moins de six Etats côtiers (Chine, Taiwan, Vietnam, Philippines, Malaisie et Brunei) ont formulés des revendications concurrentes sur les îles Spratly alors que les Paracel sont essentiellement disputées par la Chine et le Vietnam. Mais c’est bien la République populaire de Chine qui se trouve au cœur du conflit puisque Pékin revendique sa souveraineté sur l’ensemble des îles, îlots, rocs, rochers, bancs de sables voire même sur certains hauts fonds immergés dispersés dans un périmètre délimité par une fameuse courbe en forme de U qui semble vouloir définir ipso facto et ab initio le « prolongement naturel » du territoire chinois.
Après avoir dressé le panorama général de ce conflit de souverainetés en termes géographiques, juridiques et historiques, Monique Chemillier-Gendreau consacre deux autres chapitres à l’étude des titres territoriaux selon une approche chronologique, puis un dernier chapitre, quelques pages en réalité, à la formulation de pistes pour un règlement juridique. L’ensemble de l’analyse est fondée, comme on nous l’explique dans la seconde partie du premier chapitre consacrée à la nature juridique du problème, sur les apports du « droit intertemporel » qui consiste pour l’auteur à « comparer les particularités du système légal aux différentes périodes de son développement avec les spécificités factuelles de la situation qui constituent la base du différend ». L’histoire permettrait donc de mettre le droit en perspective en fonction du principe ubi societas, ibi jus. Ce postulat conduit à un examen en trois temps de la question de la souveraineté : avant la fin de la dernière moitié du XIXe siècle c’est-à-dire à l’époque de la doctrine de la terra nullius, avant le XVIIIe siècle à la période de la « découverte » ou tout au moins de l’identification des archipels et enfin au XVIIIe et XIXe siècles au moment de la production de nombreux do*****ents affirmant la souveraineté du Vietnam ou de la Chine (on notera à cet égard qu’il est fait bien peu de cas des revendications des Etats tiers dont on nous dit qu’elles étaient tout simplement inexistantes). Cette étude aboutit à une conclusion selon laquelle le Vietnam était le seul Etat détenteur d’un titre et pouvant donc revendiquer sa souveraineté sur les Paracel. Reste à savoir ce que devient ce titre pendant et après l’époque coloniale. Si le troisième chapitre fait état de l’apparition progressive de nouvelles revendications, on trouve la réponse à cette question dans le dernier chapitre qui fournit quelques éléments de conclusion. Tout laisserait à penser, selon l’auteur, que les revendications vietnamiennes seraient les plus justifiées dans le cas des Paracel (« droits anciens et bien fondés » et impossible transformation de l ‘occupation chinoise en titre en raison de la condamnation de l’usage de la force par le droit international et des protestations de Hanoi à l’encontre de cette occupation), alors que la situation des Spratly demeurerait plus confuse bien que l’argument chinois ait été écarté : « Il est facile de voir que les revendications chinoises sur les Spratly n’ont aucune base juridique et ne constituent que l’un des aspects d’une politique maritime expansionniste » (p. 139). La possibilité d’un règlement judiciaire est par ailleurs évoquée en cas d’échec des négociations diplomatiques bilatérales et multilatérales. Or, les spécificités du fonctionnement de la justice internationale (principe d’une juridiction facultative et saisine par voie de compromis de la Cour internationale de justice de La Haye) tout autant que les réticences des Etats à recourir à ce mode de règlement ne permettent pas d’envisager sérieusement le succès d’une telle solution. On imagine en effet assez mal Pékin avoir recours au Tribunal International du droit de la mer ou même à l’Organe judiciaire principal des Nations Unies dans le cadre de la délimitation de ses frontières maritimes alors qu’elle n’a jamais manifesté d’intérêt particulier pour cette juridiction bien qu’elle possède un juge((1).
Traduction d’un texte publié en français aux éditions de l’Harmattan en 1996, Sovereignty over Paracel and Spratly Islands n’a absolument pas été actualisé à l’exception peut-être de quelques références bibliographiques, ce qui est pour le moins dommageable pour la compréhension des enjeux actuels du problème. Ainsi on peut par exemple lire en introduction que la Chine a signé la Convention des Nations Unies sur le droit de la mer adoptée à Montego Bay le 10 décembre 1982 après neuf ans de négociations mais qu’elle ne l’a jusqu’à ce jour pas ratifiée. Or Pékin a bien ratifié cette convention en 1996 soit deux ans après son entrée ne vigueur. La déclaration formulée par la Chine au moment de cette ratification n’est d’ailleurs pas sans intérêt puisqu’elle rappelle que : « La République populaire de Chine réaffirme sa souveraineté sur tous les archipels et les îles énumérés à l’article 2 de la Loi de la République populaire de Chine sur la mer territoriale et sur la zone contiguë promulguée le 25 février 1992 »((2). Tout est dit en effet dans cette simple phrase sur l’impossibilité pour Pékin de renoncer à ses revendications en fonction de sa conception du droit international et du rapport de celui-ci au droit interne de la République populaire de Chine. D’une vision absolutiste et intransigeante de la souveraineté de l’Etat découle une conception extensive des droits dont pourrait bénéficier la Chine au nom d’un droit international que l’on accepte mais que l’on réinterprète en sa faveur en appliquant par exemple aux îles Paracel et Spartly le principe des eaux archipélagiques afin de repousser des limites de la mer territoriale ou de la zone économique exclusive.
La chronologie des évènements qui ont agité cette région du monde s’arrête quant à elle au 9 février 1995. C’est donc faire abstraction de la multiplication des incidents auxquels ont du faire face les Etats de la région en 1999 et 2000 : mort d’un pécheur philippin tué par les troupes vietnamiennes occupant les Spratly en janvier 1999 et décès d’un pécheur chinois dans un incident opposant la Chine et les Philippines quelques mois plus tard, escalade des tensions entre les membres de l’ASEAN eux-mêmes, extension de la présence chinoise en direction des Scarborough Shoal, nouveau décès d’un pêcheur chinois à la suite de tirs de la police maritime philippine en mai 2000 et surtout publication d’un code de conduite pour la mer de Chine du sud en novembre 1999 à l’initiative des Philippines et du Vietnam, code de conduite rejeté par la Chine au nom de la volonté de traiter ces questions de manière bilatérale. Quelques mots enfin sur les abondantes annexes (110 pages d’annexes pour 143 pages de texte). S’il était intéressant de rassembler quelques do*****ents anciens puisque la démarche de l’auteur était fondée sur une étude des archives françaises, était-il bien nécessaire de faire figurer un certain nombre de cartes illisibles et dont la source n’est même pas mentionnée ou encore une lettre manuscrite de neuf pages rédigée le 28 août 1788 par le comte de Kergariou Locmaria, capitaine de la Frégate Le Calypso ?
Mais c’est la démarche même de l’auteur qui est ici en question.
Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands aurait en effet du s’appeler An History of Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. Faire une lecture historiciste de ce conflit de souveraineté ne résout pas tout. Il est certes utile de replacer les évènements dans leur contexte historique et de rendre d’une certaine manière justice à la thèse du Vietnam en tant qu’Etat successeur de la France au lendemain de la décolonisation, mais on ne peut s’arrêter là aujourd’hui alors que ce différend met en scène six Etats du sud-est asiatique. Evoquer le droit des peuples à disposer d’eux-mêmes et les grands principes du droit de la décolonisation ne va pas non plus de soi. De quels peuples parle t-on alors que ces îles et îlots sont pour la plupart inhabités ? Qui serait l’Etat colonisateur, la Chine (3) ? Certains passages de l’ouvrage de Monique Chemillier-Gendreau semblent faire échos à son discours bien connu en faveur des pays du Sud, à sa lecture du droit international qui vise à le démythifier et à souligner ses limites, voire son caractère pervers ou son instrumentalisation par l’Occident((4). Cette quête d’un droit véritablement universel est louable mais faut-il pour autant ignorer les réalités géostratégiques actuelles, les aspirations des Etats en terme de puissance en s’enfermant dans l’Histoire ? On ne peut néanmoins que partager l’avis de l’auteur quand elle conclut en faveur d’un règlement négocié et de bonne foi de cette question toujours en suspens et porteuse d’inquiétantes interrogations pour la paix et la sécurité en Asie.

1. Shi Jiuyong, juge depuis le 6 février 1994, est en effet vice-président de la Cour internationale de justice depuis le 7 février 2000. Il a également été président de la commission des Nations Unies pour le droit international (1990).
2. Pékin avait fait la déclaration suivante : «1. Conformément aux dispositions (de ladite Convention), la République populaire de Chine aura des droits souverains et juridiction sur une zone économique exclusive de 200 milles marins et sur le plateau continental. 2. La République populaire de Chine procédera à des consultations avec les Etats dont les côtes sont adjacentes aux siennes ou leur font face afin de délimiter, sur la base du droit international et conformément au principe de l’équité, les zones sur lesquelles s’exerce respectivement leur juridiction maritime.
3. La République populaire de Chine réaffirme sa souveraineté sur tous les archipels et les îles énumérés à l’article 2 de la Loi de la République populaire de Chine sur la mer territoriale et sur la zone contiguë, promulguée le 25 février 1992.
4. La République populaire de Chine réaffirme que les dispositions (de ladite Convention) relatives au passage inoffensif dans la mer territoriale ne porteront pas atteinte au droit de l’Etat côtier de demander, conformément à ses lois et règlements, à un Etat étranger qu’il obtienne de l’Etat côtier une autorisation préalable aux fins du passage de ses navires de guerre dans la mer territoriale de l’Etat côtier ou qu’il donne audit Etat côtier notification préalable du passage en question.
3. Il est intéressant à ce titre de relire le paragraphe 3 de l’article 121 de la Convention des Nations Unies sur le droit de la mer qui concerne le régime des îles : « Les rochers qui ne se prêtent pas à l’habitation humaine ou à une vie économique propre, n’ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental ».
4. Monique Chemillier-Gendreau, Humanité et souveraineté, essai sur la fonction du droit international, Paris, la Découverte, 1995, 382 pp.

————————————————-
(Source: http://66.102.7.104/search?q=cache:ZBOokHU7-MsJ:www.cefc.com.hk/uk/pc/articles/art_ligne.php%3Fnum_art_ligne%3D3511+Paracels+Islands&hl=en)

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, thềm lục địa | Leave a Comment »

Vị Trí Chiến Lược Trường Sa và Hoàng Sa

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Nếu chiến tranh ở vùng biển Đông xảy ra thì cũng là thảm hoạ chung cho mậu dịch quốc tế. Theo ước lượng, gần 50% hàng hoá và 30% dầu hỏa được tàu bè vận chuyển đi qua khu vực biển Đông, nhất là vùng gần đảo Trường Sa. Vì vậy, về mặt chính trị, kinh tế, quân sự v.v quốc gia nào làm chủ Trường Sa, hay nói cách khác kiểm soát trục qua lại trên đường biển vùng Thái Bình Dương, quốc gia đó sẽ giữ vị trí quan trong, có thể ảnh hưởng đến vận mạng kinh tế thế giới.

Toàn bộ vùng biển Trung Quốc đòi chủ quyền gồm quần đảo Hoàng Sa (Paracel) và Truờng Sa (Spratly)

Ý thức tầm hệ trọng vị trí chiến lược của Trường Sa và Hoàng Sa nên Trung Quốc không thể từ bỏ tham vọng làm chủ mặc dù các bằng chứng lịch sử cho thấy họ không giữ chủ quyền cũa những hòn đảo này. Trước viển ảnh đó, các khối quốc gia thuộc ASEAN vì quyền lợi và sự tồn tại, cũng không thể làm ngơ cho Trung Quốc kiểm soát. Nếu để Trung Quốc chiếm hữu Trường Sa, không những bóp cổ Việt Nam mà còn thắt họng các quốc gia ASEAN khác. Trong nổ lực giải quyết ôn hoà, ASEAN đã và đang tìm mọi cách đóng vai trò của họ nhằm tìm kiếm giải pháp mà nhiều quốc gia đòi chủ quyền vùng biển này như Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Malaysia, Phi Luật Tân có thể chấp nhận được. Tuy vậy, gần đây việc Trung Quốc trở nên cứng rắn và có thái độ ngang ngược đã tạo cho ASEAN vào vị thế khó xử.

Khi năng lượng dầu hỏa gia tăng một cách đáng sợ, các quốc gia không có trữ lượng dầu bị đặt vô tình trạng xuất ngoại tệ mua dầu để giữ kinh tế được vận hành. Nếu vì bất cứ lý do gì, liên hệ ngoại giao giữa đôi bên bị hục hặc, đối tác kinh tế dầu hỏa sẽ được sử dụng để trở thành “vũ khí đen” áp lực lẫn nhau, nhằm tạo ra khủng hoảng quốc gia và khu vực. Biến động ở Miến Điện xảy ra vì giá dầu tăng một cách khủng khiếp, kéo theo toàn bộ giá thành các mặt hàng và chi tiêu trong xã hội tăng vọt và làm xáo trộn nền kinh tế, đẩy nhân dân Miến Điện xuống đường đấu tranh vì quyền lợi thiết thực bị đe doạ.

Trung Quốc là một trong những quốc gia đang phải đối đầu nặng nề về lãnh vực này. Trong bối cảnh tận lực phát triển, dân số tăng vùng vụt, nhu cầu cần dầu hỏa nhiều nhưng không có khả năng tự cung ứng mà phải lệ thuộc bên ngoài. Điều này, đặt cho lãnh đạoTrung Quốc đứng trước thử thách cấp bách, cần phải giải quyết mối lo âu trên, trước khi muốn xưng hùng xưng bá.

Hiện nay, Trung Quốc nhập hơn 60 % số lượng dầu thô từ các quốc gia Trung Đông. Với tình trạng bị lệ thuộc vàoTrung Đông quá sâu, Trung Quốc cần vượt ra khỏi tình trạng này càng sớm càng tốt. Nếu chiến tranh xảy ra hay mâu thuẩn kinh tế, chính trị, quân sự giữa các quốc gia trong vùng có ảnh hưởng bất lợi cho Trung Quốc, chỉ cần ngưng nhập dầu vào Trung Quốc trong một thời gian ngắn, đất nước hơn một tỷ dân sẽ bị khốn đốn. Đường nhập dầu đi từ Trung Đông và luôn cả Phi Châu đều di chuyển qua eo biểu Malacca, một khu vực biển hẹp nằm giữa Indonesia và Malaysia . Đây là khu vực chiến lược nằm trong vùng kiểm soát và ảnh hưởng của hải quân Mỹ. Trung quốc với lực lượng hải quân còn yếu, chưa đủ khả năng kiểm soát trục giao thông này. Điều này, chính là nỗi ám ảnh của giới quân sự Trung Quốc, vì khi chiến tranh xảy ra giửa Trung Quốc, Đài Loan, Nhật, Mỹ v.v…quốc gia nào mạnh về Hải Quân, quốc gia đó sẽ kiểm soát trục giao thông giữa Indonesia và Malaysia. Lúc đó khối lượng 60% dầu hỏa nhập vào Trung Quốc sẽ ngay lập tức bị đình trệ.

Điều gì xảy ra đối với Trung Quốc trong bối cảnh: Đối ngoại thì đang có chiến tranh vì chính sách bành trường, đối nội phải giải quyết vấn nạn nguồn cung cấp năng lượng bị chận. Cả tỷ dân đang sống trong chế độc tài, khao khát dân chủ tự do đột nhiên bị xáo trộn và khủng hoảng về kinh tế, tương lai đất nước bị đe doạ, tính mạng và tài sản nhân dân bị thử thách vì phiêu lưu chính trị của Đảng CS Trung Quốc. Nhân dân Trung Quốc chắc không thể ngồi yên, nhìn đảng Cộng sản Trung Quốc dẫn đất nước của họ đến chổ hổn loạn và bị hủy diệt.

Trung Quốc đã nhìn thấy mặt yếu kém khi phụ thuộc quá sâu vào nguồn năng lượng bên ngoài. Đảng CS Trung Quốc tìm mọi cách gia tăng nguồn năng lượng khác ngoài dầu hoả. Họ nổ lực nghiên cứu năng lượng nguyên tử, xây dựng các khu vực dự trữ dầu đề phòng biến động quân sự phục vụ cho mục tiêu chiến lược bành trướng, và nhanh nhất vẫn là tham vọng chiếm đoạt trắng các đảo có khả năng cung cấp dầu hoả và nằm trên vị trí chiến lược kiểm soát đường biển.

Quần đảo Trường Sa từ lâu đã là miếng mồi ngon mà Trung Quốc thèm khát. Ngay từ sau 1975, hải quân Trung Quốc và Việt Nam đã nhiều lần đụng độ, trận hải chiến nổi bật nhất năm 1988 ở đảo Johnson Reef đã làm cho hơn 70 lính thủy Việt Nam bị tử vong. Mặc dù giá trị về kinh tế chưa thể khẳng định được nhưng vai trò chiến lược quân sự thì vô cùng to lớn. Do ảnh hưởng của tranh dành chủ quyền từ nhiều quốc gia, đến nay chưa có thể có một cuộc khảo cứu quy mô. Tuy nhiên, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, vùng đảo Trường Sa chứa nhiều dầu và chất đốt cũng như các khoáng sản khác. Trử lượng này có thể đem đến từ thấp 1-2 tỷ đến cao 225 tỷ thùng dầu thô. Nhưng vô cùng quan trọng hơn hết, vì Trường Sa nằm trên trục vận chuyển chiến lược, gần eo biển Malacca nơi qua lại của hơn 70% năng lượng cung cấp cho Nhật và 60% cho Trung Quốc.

Vì vậy, thượng sách đối với Trung Quốc vẫn là dùng ảnh hưởng nước lớn để uy hiếp, chiếm lĩnh các hải đảo có khả năng vừa cung cấp dầu hoả, vừa kiểm soát đường vận chuyển dầu hỏa. Sự kiện họ nới rộng đường biên lãnh hải, cho hải quân chiểm lĩnh các hòn đảo Hoàng Sa từ năm 1974 và từng bước leo thang để xác nhận chủ quyền trên các vùng đảo Trường Sa, Hoàng Sa khi công bố thành lập Huyện Tam Sa để hợp thức hoá Trường Sa của Trung Quốc cũng nằm trong việc thực hiện mưu đồ chiến lựợc bành trướng tự bảo vệ lấy họ.

Trung sách tìm cách nới rộng chủ quyền kiểm soát đường biển để kiểm soát trục vận chuyển trên biển, vừa chủ động đóng vai trò giải quyết nếu có đột biến trong quan hệ với các nước xuất cảng dầu và chuyển vận dầu, vừa hạn chế tình trạng bị chèn ép, đặt vào vị trí thụ động, bên lề. Bên cạnh giữ quan hệ vị trí tay trên với đối tác các nước ASEAN, tay ngang với các nước Trung Đông, Hoa Kỳ và Nhật. Trung Quốc cũng có thể mặc cả, sử dụng ảnh hưởng hoặc kiểm soát cả vùng biển Thái Bình Dương nhằm ngăn chận ảnh hưởng quân sự của Mỹ, vừa bảo vệ được Trung Quốc, vừa răn đe vai trò của Mỹ và Nhật.

Đầu tháng 11, 2007, trong hội nghị các quốc gia ASEAN, thủ tướng Trung Quốc Wen Jiabao tìm cách thuyết phục các quốc gia này bằng giọng ve vãn : chúng ta cần tăng cường trao đổi về quân sự, cùng theo đuổi mục tiêu hợp tác quốc phòng, tằng cường đối thoại về quân sự và cổ động cho một sự cộng tác quân sự vùng giữa các quốc gia khối ASEAN gồm Việt Nam, Thái, Cambodia, Miến Điện, Lào, Nam Dương, Mã Lai Á, Phi Luật Tân và Singapore. Cũng theo phát biểu của Wen Jiabao, Trung Quốc mong muốn thấy một tiến trình giải quyết ôn hoà các xung đột ở vùng đảo Trường Sa. Tuy nhiên chỉ trong vòng một tháng, thái độ của Trung Quốc đã hoàn toàn thay đổi khi công khai khẳng định chủ quyền trên vùng đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Điều gì đột nhiên làm Bắc kinh trở nên cứng rắn và sẳn sàng theo đuổi chính sách đối đầu với các quốc gia trong vùng?

Trung tuần tháng 11, tin từ nhóm nghiên cứu tình báo ở các quốc gia bán đảo phiá Nam Địa Cầu cho biết Hoa Thịnh Đốn đã bí mật xây dựng một số căn cứ quân sự ở Phi Luật Tân. Báo cáo từ nhóm naỳ nhận định, đây là căn cứ được Hoa Kỳ xây dụng nhằm mục tiêu chống lại chính sách bành truờng của Trung Quốc ở Châu Á và vùng Thái Bình Dương. Những căn cứ này được liệt kê như mật khu an ninh, xây dựng ngoài nuớc Mỹ trong nỗ lực ngăn chận chính sách tầm ăn dâu của Trung Quốc mà Mỹ đánh giá như một đe dọa trực tiếp đến quyền lợi của Mỹ.

Theo báo cáo, số căn cứ này đối với Ủy ban Kiểm soát Căn cứ Quân sự Mỹ ở nước ngoài được liệt kê như “Vùng An Ninh” (cooperative security locations – CSLs). Bên cạnh đó, Uỷ ban cũng xác nhận hai phi trường ở Phi thuộc tỉnh Lapu-Lapu và Sarangni là hai căn cứ quân sự mật, được chấp thuận từ chính quyền Phi Luật Tân, nằm trong mục tiêu phục vụ nhu cầu quân sự bảo vệ các quốc gia đồng minh của Mỹ tại Châu Á.

Trong bản phân tích về vai trò Trung Quốc, bình luận gia Bobby Tuazon của Trung Tâm Nghiên Cứu Chống Chủ Nghĩa Thực Dân nhận định: Mỹ cần củng cố sự hiện diện của họ về quân sự tại Á Châu trước tình trạng Trung Quốc đã gia tăng đáng kể về nhân sự với đội quân đông đến 2.5 triệu. Mặc dù Bắc Kinh biện minh rằng, họ cần số quân đông đảo như vậy để bảo vệ vùng biên giới rộng mênh mông trước các quốc gia không thân thiện gồm Nga, Ấn và cả Việt Nam. Tuazon cũng cho biết, Hoa Thịnh Đốn muốn tiến hành chủ trương một đá bắn hai chim ; vừa khẳng định vai trò quân sự của Mỹ ở Châu Á, vừa ngăn chận ảnh hưởng của nhóm du kích cộng sản thân Bắc Kinh đang hoạt động tích cực ở Phi, bảo đảo cho đất nước này không rơi vào tay cộng sản.

Gần đây, quân đội Phi và Mỹ đã có cuộc tập trận chung ở các tỉnh gần Thủ đô Palawan , không xa quần đảo Trường Sa mấy. Phi hiện nay đang có quân đội đóng ở 8 đảo thuộc vùng đảo Trường Sa. Với khả năng yếu kém của quân đội, rất khó lòng Phi Luật Tân có thể giử được chủ quyền những hòn đảo này trước áp lực của Trung Quốc. Nếu chiến tranh biển Đông xảy ra, các chiến hạm của Trung Quốc đang bỏ neo tại cảng Yulin, Quảng Đông và Hồng Kông có thể làm chủ cả vùng biển thuộc Trường Sa.

Trong khi Đài Loan và Mã Lai Á đã bỏ tiền để mua tàu chiến từ Mỹ và Pháp, thì hải quân Việt Nam thuộc dạng yếu kém và trang bị tồi nhất, chỉ có thể dùng cho mục tiêu kinh tế, du lịch, không phải đối thủ của bất cứ nước nào khi chiến tranh biển Đông xảy ra.

Hiện Mỹ đang có 100 ngàn quân đóng ở một số quốc gia Á Châu như Nhật và Hàn Quốc, trực thuộc Bộ Chỉ Huy Quân sự Thái Bình Dương. Tuy nhiên, chính sách sắp đến của Mỹ là vừa gia tăng quân số để giữ quân đội trong tình trạng sẳn sàng ứng chiến nếu có đột biến chính trị và quân sự tại Châu Á, vừa tân trang quân sự cho đồng minh Mỹ để những quốc gia này đủ khả năng tự vệ khi cần thiết. Gần đây, có những chỉ dấu cho thấy Mỹ đã thành công trong việc xây dựng những liên minh quân sự với các quốc gia như Hàn Quốc, Đài Loan, Úc, Nhật và luôn cả Việt Nam. Đây là những toan tính chiến lược nhằm ngăn ngừa ảnh hưởng bành trướng của Trung Quốc, vừa khẳng định vai trò quân sự vùng của Mỹ ở Đông Nam Á, vừa bảo vệ quyền lợi kinh tế của Mỹ về lâu dài.

Tàu chiến Mỹ đến Đà Nẵng (Hình US Navy)

Và đó cũng có thể tạo lý cớ cho Trung Quốc khẩn trương “tiên hạ thủ vi cường”, ngang ngược khẳng định chủ quyền của Trung quốc ở các đảo chiến lược Trường Sa và Hoàng Sa nhằm củng cố chính sách đại Hán của họ.

• Trần Nam – www.ddcnd.org  

Posted in bán nước cầu vinh, Biển Đông VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới | Leave a Comment »

TỪ CUỘC HẢI CHIẾN HOÀNG SA THÁNG 1-1974, TỚI HÀNH ÐỘNG BÁN NƯỚC CỦA CSVN

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Mường Giang

Mùa xuân năm Quý Mão 43 sau TL, Hai bà Trưng bị Mã Viện đánh bại, đất Giao Châu lại trở thành một Huyện thuộc nhà Hán. Ðể hạ nhục Người Việt trong cơn quốc phá gia vong, giặc Tàu tịch thu hết các trống đồng, đồ sắt, những biểu tượng của nền văn hóa Âu Lạc, đúc thành cột đồng Mã Viện, làm vật trấn phương nam với lời hăm dọa: ‘đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt’.

Năm Giáp Thân 1884, thực dân Pháp sau khi cưỡng chiếm toàn bộ lãnh thổ VN, tạo ra các vua quan bù nhìn nhà Nguyễn, đồng thời tiêu hủy quốc án của nước Nam, để vừa hạ nhục kẻ bại trận, cũng như ra oai Thái thưọng hoàng, xoá bỏ hết mối quan hệ Việt-Trung đã tồn tại hàng ngàn năm qua, nơi xứ này.

Những năm cuối cùng của nhà Mãn Thanh, đất nước Trung Hoa đắm chìm trong khổ nhục vì sự xâu xé của Liệt Cường Tây Phương và Nhật Bản. Ðể hạ nhục người dân trong cảnh gia phong, quốc phá, thực dân Anh cát Lợi tại các vùng tô giới, cấm chó và người Tàu không được bước vào các nơi công cộng và công viên của bọn da trắng. Cảm khái trước nỗi nhục hằng hằng này của người Hán, một học giả Nhật khi đến thăm viếng Thượng Hải đã làm bài tứ tuyệt đọc chảy nước mắt:

“…Á lục tiên hiền, ưng nhất tiếu
Anh nhân diệt hữu, sở cầm tù
Tùng kim hoán cải, công viên bảng
Bất cấm, Anh lai cập cẩu lai…”

Sao có thể trách dược người Việt hay người Hán lúc đó, đang sống dưới bạo lực, gông tù nô lệ, nên đành cắn răng chịu để cho kẻ thù làm nhục. Nhưng với cộng sản quốc tế Hà Nội, thì ngay vừa ra khỏi hang Pắc Pó cho tới nay, luôn tự hào, tự mãn, tự khoe, tự phong là đỉnh cao trí tuệ con người, đã đánh bại ba đế quốc Nhật, Pháp và Mỹ. Vậy tại sao vô cớ, vô duyên, đang làm cha thiên hạ và chưa hề bị mất nước mà đã lén lút cắt biên giới, dâng đảo biển, dành hết đặc quyền đặc lợi cũng như luôn quì lụy trước kẻ thù truyền kiếp Trung Cộng, làm nhục lây vong linh tiên tổ và người cả nước.

Hởi ôi, đây là cái giá mà dân tộc Việt Nam phải còng lưng gánh chịu, chẳng những bây giờ mà còn kéo dài tới nhiều thế hệ sau này, qua những hành động trời tru đất diệt của Việt Cộng bấy lâu nay, chỉ vì manh tâm chiếm trọn giang sơn để vinh thân phì gia và chiếm cái hào quang anh hùng cứu nước mà thật sự chỉ hoàn toàn vay mượn của ngoại nhân suốt cuộc chiến ngụy tạo.

Năm 1077, Lý thường Kiệt trong khi đại phá quân Tống trên sông Như Nguyệt, đã thay mặt quốc dân Ðại Việt khẳng định: “NAM QUỐC SƠN HÀ, NAM ÐẾ CƯ “, nay cộng sản tiếm quyền dân tộc, đi ngược lại lòng dân, ý nước khi công khai phủ nhận quyền làm chủ quốc gia mình, qua ngàn trăm hành động nhục nhã, khiến cả nước bị người Tàu bốc lột, khinh thường, chèn ép, như việc Trung Cộng ngang nhiên bắn đạn thiệt khi tập trận và cấm chỉ tàu thuyền Việt Nam qua lại ngay trong hải phận của mình tại quần đảo Hoàng Sa, Ðông Hải, từ năm 2002 tới nay… Mới đây, Trung Công còn thản nhiên đem giàn khoan vào trong vịnh Bắc Việt, là hải phận của VN, để kiếm dầu và dã man gây thương vong cho nhiều ngư dân Thanh Hóa, lúc họ đang hành nghề trong vịnh Bắc Việt, vào những ngày đầu năm 2005. Chẳng những thế Tàu đỏ và Tàu trắng còn công khai tuyên bố chủ quyền trên Hoàng Sa, Trường Sa, như để chứng tỏ với thế giới “Xã Nghĩa VN ngày nay, chỉ là một tỉnh của mình”.

1 – ÐẢNG CSVN BÁN NƯỚC CHO TRUNG CỘNG:

Trong suốt dòng sông lịch sử, dân tộc Việt từ thời các Vị Vua Hùng dựng nước tới nay, đã chứng tỏ sự bất khuất, phi thường, nhờ vậy ta mới trường tồn qua tám lần bị ngoại xâm phương Bắc và thực dân Pháp. Sinh mệnh của dân tộc Việt luôn luôn được gắn liền với sĩ khí của những anh hùng, liệt nữ ngay từ buổi đầu lập quốc Văn Lang, trên đồng bằng Lạc Việt của mấy ngàn năm về trước cho tới nước Việt Nam hiện tại.

Ở Ðức quốc, con đường Romantic Road chạy suốt từ rặng Alps đến bờ sông Main, được coi như những trang sử lãng mạng của nước này, giống như Freedom Trail ở Boston Mỹ hay là Kansai Road trên đất Nhật… Tất cả đều mang chung ý nghĩa chuyên chở những biểu tưọng của từng quốc gia dân tộc. Tại Việt Nam, câu nói đầu tiên mà cha mẹ nào cũng mớm cho con cái mình khi bước vào đời, đó là trách nhiệm gìn giữ bảo tồn giang sơn gấm vốc của tổ tiên để lại, tư Ải Nam Quan tới Mũi Cà Mâu. Nay thì Nam Quan đã mất, Bản Giốc cũng không còn, chẳng lẽ lời trù ếm đôc địa của Mã Viện ngày xưa, nay đã trở thành hiện thực ?

Ngay khi nhận được tin Việt Cộng bán nước cầu vinh, Việt Cộng rước Trung Cộng vào Việt Nam dày mả tổ, thì người Việt khắp hải ngoại bừng bừng căm pữân, bao nhiêu hờn căm ẩn ức bấy lâu nay dâng cao như sóng thần vì sự đau lòng, nhục nhã và nỗi khinh ghét cái bọn đội lớp làm tuồng ngày xưa của miền Nam, đã tiếp tay đâm sau lưng và bán đứng đồng đội, đồng bào, giúp cộng sản quốc tế Bắc Việt có cơ hội cưỡng chiếm VN và ngụy xưng danh nghĩa chủ nhân ông để làm nhục giống nòi, dân tộc.

Trong nước, qua một vài tiếng thét của những con chim đơn giữa bầu trời mưa giăng, sấm dậy như Lê chí Quang, Bùi minh Quốc, Phạm hồng Sơn, Lê Thị Công Nhân, Linh mục Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Ðài, Trần Khải Thanh thủy… còn tuyệt đại sĩ phu bằng cấp, kiến thức, chữ nghĩa chứa cả ngàn bồ, trong đó có nhiều người miền Nam trước kia từng phun ra khói, hét thành lửa nơi chính trường VNCH trước ngày 30-4-1975, coi luật pháp quốc gia như pha, xem mạng lính và dân miền nam như cỏ dại trước cái tri thức vị kỷ của mình. Nay họ cũng chỉ còn biết thở dài hay lạnh ngắt trong kiếp sống cá chậu chim lồng giữa thiên đàng xã nghĩa, để giữ lấy cái mạng hèn trước Việt Cộng không hề biết nể nang một ai nếu dám hó hé cản trở hay tính chống lại hành vi bán nước, tham tàn, vô luân, bất xứng của đảng.

‘Nhân sinh tự cổ thuỳ vỗ tử,
lưu thủ đan tâm, chiếu hãn thanh… ‘

Hai câu thơ được trích từ khúc cổ thi mang tên ‘chính khí ca’ của Văn Thiên Tường, bậc chính nhân quân tử, vị anh hùng dân tộc thời mạt Tống, đã sống mãi với thời gian. Các bậc sĩ phu VN qua nhiều thời đại, coi đó như tấm gương để chọn một cách sống phi thường, xem nhẹ mạng sống rong rêu, bỏ lợi danh phù phiếm, để vì dân vì nước, trực diện với kẻ thù và cuối cùng chọn một cái chết trong tay giặc, danh thơm muôn thuở, làm ai biết tới cũng ngưỡng mộ. Ðó là Phạm Văn Phú, Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn… Trần văn Bá, Hoàng Cơ Minh, Trần Thiện Khải… của những trang Việt Sử hiện tại.

Hơn bảy mươi lăm năm qua, CSVN đã làm thật nhiều tội lỗi cho dân nước, mục đích chỉ để chiếm quyền, có quyền mà đổi đời, thay kiếp. Nay tất cả vật chất có đủ rồi nhưng rốt cục chỉ để đời khinh miệt, giống như những huyền thoại một thời của đảng sống đưọc bằng lớp mạ hào quang vay mượn của ngoại nhân, ngày nay thực chất lừa bịp được phơi bày, đã khiến cho mọi người hờn căm miên viễn. Luật đời, ai vay thì người đó trả, nhưng ở đây thì trái ngược, cộng đảng ăn ốc, quốc dân VN đổ vỏ, nghĩa là kiếp này, kiếp sau và không biết còn bao nhiêu kiếp nữa, người Việt mới hết è lưng gánh nợ oan khiên tiền kiếp mà VC đã bí mật ký kết với Nga Xô, Cu Ba, Bắc Hàn, Ðông Âu, Trung Cộng trước, sau và mới đây với giới tư bản da vàng, da trắng Á, Âu, Mỹ.

Trong tác phẩm ‘lạc đường vào lịch sử’, của Nguyễn mạnh Côn, đã vạch ra toàn bộ sự lừa đảo có một không hai của cộng sản Ðông Dương, từ vụ việc nhanh tay cướp chính quyền năm 1945, cho tới màn kịch dài Anh cho Pháp theo chân trong đoàn quân giải giới Nhật, xâm nhập Nam Kỳ, rồi Trung Hoa thỏa thuận để Pháp thay thế mình trên đất Bắc, sau đó là chiến tranh 9 năm… Tất cả đều nhắm tới mục đích hợp thức hóa chính quyền đảng cộng sản Ðông Dương trước công luận thế giới, để từ đó chiếm lĩnh toàn bộ giang sơn Hồng Lạc.

Ðầu tiên trong canh bài phản quốc là chuyện Hồ sang cầu viện Trung Cộng, cho nên đâu lạ gì ngày 10-1-1950, Trung Cộng là nước đầu tiên công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Việt cộng, lúc đó còn phất phơ trên rừng núi Việt Bắc nay ở mai dời. Cũng kể từ đó, để đem về VN tiền bạc, súng ống, đoàn cố vấn Trung Cộng đông đảo do Vi quốc Thanh, Trần Canh, Lã quý Ba… cầm đâu… đâu ai biết được Hồ đã ký hứa với Mao những gì… mà sau này hai nước anh em trở mặt, đem ra tố hết mình trên báo chí, sách vở, dư luận trong và ngoài nước, khiến cho thế giới và dân Việt há miệng vì không biết phải tin ai dù ai cũng đâu đáng tin.

Một mai mỉa lơn lao của cận sử là chính Trung Cộng đã bị đại bại trong chiến cuộc Ðông Dương lần thứ ba (1945-1975), chứ không phải Hoa Kỳ. Theo tài liệu của Trung cộng thì Việt cộng có thắng lợi ngày 30-4-1975. Bắt đầu năm 1950, Hồ được học hết bài vở của Mao từ chiến thuật, chiến lược, cho tới phương cách khủng bố dân lành, đấu tố gia đình, bạn bè, cải cách cướp giựt ruộng đất và tài sản của quần chúng… Ðể thưởng công, Tàu đã viện trợ ồ ạt quân trang dụng và người sang giúp, nên VC mới thắng Pháp tại Ðiện biên Phủ năm 1954.

Sau đó trong cuộc chiến 1955-1975, 85% chiến cụ của bộ đội miền bắc và VC miền nam, từ vũ khí, đạn dược, phi đạn, chiến đấu cơ, chiến xa… tới lương khô cũng đều của Anh lớn. Cố vấn Tàu Cộng ngập các Trung tâm huấn luyện, còn Hồng quân thì đóng dầy đặc mọi nơi để bảo vệ đất Bắc. Nhiều cán bộ người Việt gốc Hoa đưọc hồi kết về Nam, dưới quyền Tư Méo Trương gia Triều hay Trần bạch Ðằng, hoạt động hoa vận ở Hậu giang, Sài Gòn, Chợ Lớn.

Ðể trả ơn, trả nợ trên, cộng sản miền Bắc đã dành hết ưu tiên cho Tàu cộng, kể cả người Hoa sinh sống trên đất Việt. Trong chín năm kháng chiến chống Pháp (1946-1954), tại các vùng tạm chiếm ở Liên khu 5 (Nam, Ngãi, Bình, Phú), Hồ ra lệnh tiêu khổ kháng chiến tất cả, nhưng không được mó tới nhà cửa, của cải người Hoa.Thương mại đưọc miễn tô tại các hải cảng nên hàng hóa Trung Cộng ngập xứ Bắc. Văn hóa Hán tộc được Ðảng bưng về hay qua các đoàn văn công, văn nghệ, vô tình đồng hoá người Việt thành người Hoa lúc nào không biết, từ tư tưởng ra tới sinh hoạt vật chất bên ngoài… Nhưng đây cũng chỉ là phần nổi, còn mật thật bên trong mãi tới sau này mới bị bật mí từ năm 1977 khi CSVN chính thức theo Liên Xô chống lại Trung Cộng.

Mấy ngàn năm lịch sử, dân tộc Việt Nam luôn quật cường chống trả lại mọi cuộc xâm lăng của ngoại bang. Ðất nước được vẹn toàn trên hai mươi thế kỷ và tồn tại tới hôm nay là do công đức dựng và giữ nước của tiền nhân bao đời. Cho nên đừng thấy lạ khi tìm hiểu về tôn giáo đích thực của người Việt cả nước, mà dân tộc gọi là đạo Việt, thờ kính Ðức Phật, Các Anh hùng liệt nữ VN như Hai bà Trưng, Ðức Thánh Trần, Lê Lợi, Quang Trung… và Thần Nông. Tổ tiên ta bao đời ngoài võ công hiển hách để bảo vệ lãnh thổ, bản sắc tự chủ cũng như nền độc của mình, còn biết cách mềm mỏng kết thân với kẻ thù để hoà giải hiềm khích và hấp thụ những tinh hoa của Hán tộc. Nhờ biết người, biết ta, vừa can đảm anh hùng lại có óc thực tiễn. Tóm lại đây là chủ nghĩa anh hùng và chiến lược khôn ngoan của người Việt, mà các vi minh quân mọi thời đem áp dụng, để vừa đánh bại ngoại xâm, vừa giữ vững độc lập cho nước nhà trong danh dự.

Khác với tiền nhân trong suốt dòng lịch sử, rất khôn khéo và uyển chuyển mỗi lần chiến thắng, làm cho giặc thù khiếp vía bạt hồn đến nổi phải chun vào ống đồng trốn chạy hay quăng cả ấn tín để đào sanh, Vua chuá VN lại sang triều cống thiên triều để hòa giải và nhờ thế mới tránh đượ c Trung Hoa kiếm chuyện gây hấn tiếp, chỉ làm khổ cho dân chúng mà thôi. Trái lại VC từ trên xuống dưới, hèn hạ xảo quyệt, sớm đầu tối đánh, lúc nào cũng lừa bịp thiên hạ để tiên hạ thủ vi cường, vì nghĩ rằng mình là đỉnh cao trí tuệ loài vượn.

Vì vậy đừng làm lạ, khi biết năm 1958, Hồ ra lệnh cho Phạm văn Ðồng, quyền thủ tướng nước, công nhận hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền Trung Cộng để đổi lấy mọi thứ cần thiết cho cuộc xâm lăng miền Nam. Thế rồi khi biết chắc là nhờ sức của bọn đạo tặc phản quốc của miền nam trong cái gọi hoà hợp hoà giải cuội, vào giờ thứ 25, bắt VNCH phải tan hàng, cho nên VC liền phản thầy bằng cách tuyên bố tức khắc chủ quyền VC trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa mà trước đó vào năm 1974, giúp Trung Cộng tàn sát hải quân VNCH để cưỡng đoạt gấm vốc của tổ tiên Hồng Lạc.

Trên đất Bắc, từ năm 1954 tới nay, vì quyền lợi riêng tư mà đảng cộng sản hoặc nhắm mắt làm ngơ hay đã đồng thuận dâng hiến hoặc bất tài để cho Trung Cộng công khai chiếm đoạt nhiều đất đai của Việt Nam dọc theo biên thuỳ Hoa Việt. Trong sự mất mát này, quan trọng bậc nhất vẫn là ẢI NAM QUAN, với địa thế hiểm trở có một không hai, nằm trên con đường độc đạo Quảng Tây-Hà Nội.

‘Quỷ môn quan, quỷ môn quan
thập nhân khứ, nhất nhân hoàn.’

Nơi mà bao đời tiền nhân ta đã tạo nên những chiến công hiển hách vào năm 981 STL, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn bêu đầu Hầu nhân Bảo, năm 1076 Thân cảnh Phúc chận đứng 30 vạn quân Tống của Quách Quỳ để rồi bị Lý thường Kiệt giết trọn trên sông Như Nguyệt, tạo hứng cho Ðại tướng quân viết bài thơ thần ‘NAM QUỐC SƠN HÀ’ để khẳng định với giặc về cương thổ, độc lập của nam phương. Nhưng lừng lẫy nhất vẫn là trận Liễu Thăng, danh tướng số một của nhà Minh, bị các tướng Lam Sơn của Bình Ðịnh Vương Lê Lợi, chém rụng đầu năm 1427, nay vết tích vẫn còn nơi ‘Liễu Thăng Thạch’ và ‘Lê Thái Tổ kiếm’ như một bài học, thách thức người Hán trước ác mộng xâm lăng Ðại Việt.

Riêng trên Ðông hải, cũng do VC hèn nhục ký nhượng phần lớn lãnh hải của VN, khiến cho Trung Cộng ngang nhiên tuyên bố chủ quyền 200 hải ly tính từ Hoàng Sa, cộng thêm một hiệp ước khác vừa lén ký, cho phép Trung Cộng ra vào tự do trong vịnh Bắc Việt… làm cho vùng biển của VN, bây giờ thành cái ao của Trung Cộng nên mới dám hung tàn tập trận bắn đạn thiệt. Tóm lại hành vi bán nước của đảng cộng sản VN, chẳng những gây phẫn nộ cho cả nước, mà còn làm cho người ngoại quốc bất bình và khinh bỉ, riêng nhà báo người Pháp Sylvaine Pasquier, gọi đó là quốc nhục của dân tộc VN.

Theo nhận xét chung của các chính trị gia quốc tế, VN ngày nay dưới chế độ xã nghĩa, hoàn toàn trở thành chư hầu của Trung Cộng, từ quân sự cho tới lệ thuộc kinh tế, hàng hóa Tàu nhờ VC bỏ ngõ biên giới, cùng với bạch phiến, tiền giả… tràn ngập Bắc Nam. Thêm vào đó là sách vở, văn hoá, văn minh Hán Tộc cũng tràn ngập công khai và như tằm ăn dâu, ngày qua tháng lại tự nhiên đồng hóa người Việt, như Trung Cộng đã và đang thi hành tại Mãn Châu, Mông Cổ, Hồi Hồi và Tây Tạng suốt hai thế kỷ qua.

Lãnh thổ đem cắt, kinh tế giao phó, văn hiến thì mời nhập và mạng sống của cả nước nhờ vào hai vựa lúa Sông Hồng, Sông Cửu, nay cũng bị giặc Tàu kiểm soát lưu lượng trên đầu nguồn, bằng một hệ thống đập chằng chịt, khiến cho đồng bào Hậu Giang năm nào cũng bị lũ lút tàn phá, một hiện tưọng không bao giờ xãy ra trước năm 1975. Không kể thời Bắc thuộc, trong dòng sử VN ta thấy có một vài vua chúa vì muốn giữ chiếc ngai vàng cho riêng mình, nên năm 1405 Hồ Quý Ly dâng cho giặc Minh đất Cổ Lâu (Lạng Sơn), Mạc Ðăng Dung nhượng vùng La Phù vào năm 1540 và các chúa Trịnh cho giặc Bắc nhiều hang động của nước Nam, dọc theo biên giới Hoa Việt. Thời cận sử, từ năm 1930 cho tới ngày nay, cộng đảng đệ tam quốc tế và Hồ Chí Minh dám công khai nhượng bán hết đất biên giới, tới biển đảo cho giặc Tàu, mà nay người nào cũng đều biết. Vậy mà lúc nào, cũng nói Trần Thiểm Bình, Hồ Quý Ly, Lê Chiêu Thống…. cõng rắn cắn gà nhà, rước voi về dày mã tổ. Chỉ riêng thành tích bán nước cho giặc Tàu, thì Hồ Chí Minh và đảng VC, còn tệ mạt gấp ngàn vạn lần, những nhân vật bị đời bêu rếu. Tóm lại, ai nói hay nghĩ thế nào cũng được nhưng chắc chắc với một chánh quyền tham tàn, bạo ngược, hại dân và nhất là công khai bán nước và quốc thể cho ngoại bang, nên dù VC có được Trung Cộng hay Hoa Kỳ chống lưng, bảo vệ… thì sự sụp đổ của chế độ thối nát trên, nay đang sơn son thiếp vàng để bịp người, cũng chỉ là một lâu đài trên cát, chờ giờ sụp đổ như bao thiên đàng xã nghĩa đã tan tành, để bọn chóp bu sâu bọ đội lớp người đang uống máu dân đen khổ đau nhục hận, bị đồng bào trong và ngoài nước, lôi ra trước quốc dân và Tòa Án lịch sử đền tội.

Mới đây báo chí Trung Cộng đăng tin giặc Tàu đã chiếm vùng núi Lao Sơn tại biên giới Hoa Việt, trong cuộc chiến giữa hai nước từ 1979-1985. Chuyện này cũng chẳng có gì lạ, vì mấy năm qua, dư luận báo chí trong và ngoài nước đã không ngớt tố cáo Việt Cộng vì quyền lợi đảng và cá nhân của chóp bu, nên đã đem rất nhiều đất biên giới, đảo, biển và vùng đánh cá để dâng hiến cho chủ. Tóm lại đó chỉ là lấy vải the che mắt thánh, hòng chạy tội với quốc dân đồng bào mà thôi.


2- NHỚ TRẬN HẢI CHIẾN HOÀNG SA THÁNG 1-1974:

Tháng 7-1954, ngay khi chữ ký trên văn bản ngưng bắn tại Genève, chưa ráo mực, thì Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay tới chuyện chiếm miền Nam, để tron gói vơ vét và toàn quyền trên ngai vàng máu lệ. Do ý đồ trên, Hồ đã gài lại một số lớn cán binh bộ đội nằm vùng khắp lãnh thổ VNCH, khi có lệnh tập kết. Ðể chuyển quân cũng như tiếp tế, Hồ mở con đường chiến lược Trường Sơn trên bộ, xuyên qua lãnh thổ Lào và Kampuchia. Về mặt biển, Hồ thành lập đường 559B giao cho Ðồng văn Cống chỉ huy, và dĩ nhiên, muốn an toàn, đầu tiên là phải nhổ tuyệt hai tiền đồn của QLVNCH trấn đóng trên quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, đất đai thuộc lãnh thổ từ lâu đời của dân tộc Ðại Việt, đã được tổ tiên bảo toàn từ thời Hậu Lê, Nhà Nguyễn… nằm trong Ðông Hải.

Theo bản tin của UPI-AFB ngày 23-9-1958, được báo chí của Trung Cộng lẫn Việt Cộng đăng tải. Những tài liệu này, hiện vẫn được lưu trữ tại các thư viện quốc tế như Luân Ðôn, Paris, Hoa Thịnh Ðón, Bắc Kinh…. kể cả Hà Nội. Nhờ đó, ta mới biết được, vào ngày 14-9-1958, Phạm Văn Ðồng lúc đó là thủ tướng, theo lệnh của chủ tịch nước và đảng VC là Hồ Chí Minh, đã cam kết với Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bằng văn kiện xác quyết như sau ‘Chính phủ VNDCCH, tôn trọng quyết định, lãnh hải 12 hải lý cũng như hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, là Tây Sa-Nam Sa, của Trung Cộng’. Ngày 22-9-1958, Ðại sứ VC tại Bắc Kinh là Nguyễn Khang, dâng văn kiện xác nhận điều trên, do Phạm Văn Ðồng ký, lên Thiên Triều.

Ngay cả khi đã cướp chiếm được hoàn toàn miền Nam VN, vào tháng 5-1976, trên tờ Sài Gòn Giải Phóng của VC nằm vùng Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung… vẫn còn đăng lời xác nhận của đảng VC, là Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Cộng. Khôi hài hơn, VC nói, vì ta và Tàu sông liền sông, núi dính núi, nên Hoàng Sa-Trường Sa, của ai cũng thế thôi, nên VC muốn lấy lại đảo, lúc nào Trung Cộng vẫn sẵn sàng giao trả ‘. Luận điệu trên, rõ ràng VC đã xác nhận VN là thuộc địa của Tàu Cộng. Dù ngày 14-3-1988, VC và Trung Cộng đã giao tranh đẳm máu tại Trường Sa. ngay sau đó, trên tờ Nhân Dân, số ra ngày 26-4-1988, VC vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh bán hai đảo cho Tàu năm 1958 là đúng. Bởi có vậy, Trung Cộng mới viện trợ súng đạn, gạo tiền và cả triệu quân, để VC đánh chiếm VNCH từ 1955-1975.

+ QUẦN ÐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA CỦA VN:

Về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, theo chính sử cũng như những tài liệu của ngoại quốc như Ðại Nam thực lục, Ðại Nam nhất thống chí của Quốc Sử quán triều Nguyễn, Hoàng Việt địa dư chí thời vua Minh Mạng, Quảng Ngãi tỉnh trí của các Tuần Vũ Nguyễn Bá Trác và Nguyễn Ðình Chi, Quảng Ngãi nhất thống chí của Lê Ngại.đều đề cập tới và xác nhận đó lãnh thổ lâu đời của Ðại Việt.

Với các tác phẩm ngoại quốc, có nhiều thiên ký sự của các giáo sĩ Thiên Chúa trên tàu Amphitrite, viết năm 1701, của Ðô Ðốc Pháp tên là D’Estaing viết năm 1768 rằng: ‘Sự giao thông giữa đất liền và các đảo Paracel (Hoàng Sa) rất nguy hiểm, khó khăn nhưng Người Ðại Việt chỉ dùng các thuyền nhỏ, lại có thể đi lại dễ dàng.’ Nhưng quan trọng nhất, là tác phẩm viết về Hoàng Sa của Ðỗ Bá tự Công Ðạo, viết năm Chính Hòa thứ 7 (1686), trong đó có bản đồ Bãi Cát Vàng: ‘Ðảo phỏng chừng 600 dặm chiều dài và 20 dặm bề ngang. Vị trí nằm giữa cửa Ðại Chiêm và Quyết Mông. Hằng năm vào cuối mùa đông, các chúa Nguyễn Ðàng Trong, cho Hải Ðội Hoàng Sa gồm 18 chiến thuyền đến nơi tuần trú.’ Năm 1776, trong tác phẩm ‘Phủ Biên tạp lục’, Lê Quý Ðôn đã viết một cách rõ ràng: ‘Trước đây, các Chúa Nguyễn đã đặt Ðội Hoàng Sa 70 suất, tuyển lính tại Xã An Vĩnh, cắt phiên mỗi năm vào tháng 2 ra đi, mang theo lương thực 6 tháng. Dùng loại thuyền câu nhỏ, gồm 5 chiếc, mất 3 ngày 3 đêm, từ đất liền tới đảo.’

Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ của VN ngay khi người Việt từ đàng ngoài tới định cư tại Phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi vào khoảng thế kỷ thứ XV sau tây lịch. Hai quần đảo trên nằm ngoài khơi Ðông Hải: Hoàng Sa ở phía bắc và Trường Sa nằm về cực nam gần Côn Ðảo.

* QUẦN ÐẢO HOÀNG SA: Nằm giữa hai kinh tuyến đông 111-112 độ và vĩ tuyến bắc 15 độ 45 ố 17 độ 05. Ðây là một chuỗi đảo gồm 120 hòn lớn nhỏ nhưng qui tụ thành bốn nhóm chính. Muốn tới đảo, nếu khởi hành từ Ðà Nẳng, bằng tàu của Hải quân phải mất 10 giờ (chừng 170 hải lý), theo hướng 083. Bốn nhóm đảo chính là:

- NHÓM NGUYỆT THIỀM (CROISSANT): gồm các đảo Cam Tuyền hay Hửu Nhật (Robert), hình tròn, diện tích 0m2032, là đảo san hô nên có nhiều phốt phát. Toàn đảo chỉ có chim hải âu trú ngụ, tuyệt nhiên không có bóng người. Ðảo Quang Hòa Ðông (Duncan), diện tích 0 km2 48, phía đông đảo là rừng cây phốt phát và nhàn nhàn, phía tây toàn san hô là mơi trú ngụ của chim hải âu. Ðảo Quang Hòa Tây (Palon Island), hình tròn, diện tích 0km241, trên đảo toàn cây nhàn nhàn và phốt phát, đảo toàn san hô chỉ có chim ở. Ðảo Dung Mộng (Drummond) hình bầu dục, diện tích 0km241, toàn đảo chỉ có nhàn nhàn và phốt phát. Giữa đảo có một vùng đất rộng, thời Ðệ 1 Cộng Hòa trước tháng 11-1963, Tiểu Ðoàn 1 Thủy Quân Lục Chiến trấn đóng tại đây để bảo vệ lãnh thổ. Hiện trên đảo vẫn còn hai ngôi mộ lính VNCH và 3 ngôi mộ cổ khác với mộ bia viết bằng chử Hán.

Trong số này quan trong nhất vẫn là đảo Hoàng Sa (Pattle) có hình chữ nhật, chu vi 2100m, diện tích 0km230. Ðảo nay đã được khai phá từ lâu đời, nên có nhiều công trình kiến trúc như Ðồn quân trú phòng, Sở khí tượng, Hải đăng và cầu tàu để các chiếm hạm Hải quân/VNCH cập bến. Trên đảo có một ngôi miếu cổ thờ Bà Chúa Ðảo và do một Trung đội Ðịa Phương Quân thuộc Tiểu Khu Quảng Nam trấn đóng.

Ðảo vĩnh Lạc hay Quang Ảnh (Money) nằm biệt lập không thuộc nhóm đảo Nguyệt Thiềm, hình bầu dục, diện tích 0, 50 km2. Trên đảo toàn nhàn nhàn, phốt phát và một loại cây cao trên 5m, có trái như mít. Toàn đảo không có người ở.

Ðảo Linh Côn (Lincoln) cũng năm biệt lập và đã bị Ðài Loan cưỡng chiếm vào tháng 12-1946 khi Trung Hoa Dân Quốc, được lệnh LHQ tới đảo giải giới quân Nhật đang trú đóng trên đảo.

- NHÓM TUYÊN ÐỨC (AMPHITRITE) : cũng bị Ðài Loan chiếm năm 1946, nằm về phía bắc đảo Hoàng Sa, gồm 16 đảo nhỏ, trong số này quan trong nhất có đảo Phú Lâm (Woody Island), dài 3700m, rộng 2800m. Trên đảo có nhiều cây ăn trái như dừa, được Nhật Bổn khai thác phốt phát từ thời Pháp thuộc. Năm 1950, Trung Cộng đánh đuổi Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Ðài Loan, chiếm lục địa và luôn các hải đảo của VN, xây phi trường, làm đường xá, lập căn cứ quân sự. Ðây là nơi giặc Tàu phát xuất, tấn công chiếm các đảo của VN sau này.

* QUẦN ÐẢO TRƯỜNG SA: gồm chín đảo lớn nhỏ, nằm giữa hải phận của các nước VN, Phi Luật Tân, Srawak. Trong số này đảo lớn nhất là Trường Sa (Sparley), dài 700m, ngang 200m, nằm ở kinh tuyến 114 độ 25 và vĩ tuyến 19 độ 10 bắc. Ðảo cấu tạo bởi san hô, có nhiều hải âu trú ngụ, đẻ trứng rất to. Trên đó có nhiều loại cây ăn trái vùng nhiệt đới như dừa, bàng, mù u, nhàn nhàn, rau sam

+ ÐỘI HOÀNG SA:

Theo sử liệu cũng như nhân chứng, thì buổi trước, Ðội Hoàng Sa tập trung tại Vươn Ðồn, để luyện tập cũng như sửa chữa thuyền bè và nhận lệnh thượng cấp. Trước khi xuất quân, Ðội đến Miếu Hoàng Sa tế lễ. Ðây là một ngôi nhà gồm 3 gian, làm bằng gỗ tốt, lợp tranh dầy, mặt Miếu quay ra cửa Sa Kỳ, trước có 2 cây gạo cổ thụ. Trong Miếu thờ Một Bộ Xương Cá Ông rất lớn. Theo người địa phương, hơn 300 năm về trước, Ông lụy tại Hoàng Sa, nhưng đã được Hải Ðội dìu về đất liền. Sau ba năm chôn cất, những người lính, thỉnh cốt vào thờ trong Miếu. Từ đó về sau, hằng năm vào tháng 6, khi những người lính, mãn phiên từ Hoàng Sa trở về, dân làng tổ chức cúng lễ tại Miếu, gọi là ‘Ðánh Trống Tựu Xôi’.

Từ thị xã Quảng Ngãi, qua cầu Trà Khúc, bỏ quốc lộ 1, rẻ vào quốc lộ 24B, ngang qua Làng Sơn Mỹ dưới chân Núi Thiên Ấn, chừng 5 km, thì rẽ vào một con đường đất đỏ, chạy giữa sông Kinh và rừng dương sát biển. Ðó là xã Tịnh Kỳ, thuộc Huyện Sơn Tịnh, nơi khai sinh Hải Ðội Hoàng Sa, khoảng mấy trăm về trước, thời các Chúa Nguyễn, Nam Hà, thuộc Ðại Việt. Theo Quảng Ngãi địa dư chí, vùng đất này, trước năm 1898 thuộc trấn Bình Sơn.

Năm Thành Thái thứ 10, tách ra thành 2 Huyện Bình Sơn và Sơn Tịnh… Sau tháng 8-1945, khu Tịnh Kỳ được hoàn thành bởi ba xã An Kỳ-An Vịnh và Kỳ Xuyên. Xưa vùng này là một cù lao, nằm cách đất liền, phải dùng ghe vào các bến Mỹ Khê, Chợ Mới, Sa Kỳ hay xa hơn là Thị Xã Quảng Ngải và các Thị Trấn Ba Gia, Ðồng Ké, Sông Vê, Ba Tơ. Từ năm 1993, qua việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất nên hải cảng Sa Kỳ đã được mở rộng, đồng thời với con đường, chạy từ cầu Khê Kỳ, qua Cửa Lở tới Kỳ Xuyên. Có lẽ do địa thế sông nước bao quanh, nên từ mấy trăm năm về trước, Các Vị Chúa Nguyễn đã chọn An Vĩnh làm căn cứ, đặt Hải Ðội Hoàng Sa, với nhiệm vụ bảo vệ hải đảo, cũng như khai thác các tài nguyên ngoài Ðông Hải. Ðình làng An Vĩnh trước đây rất đồ xộ, là nơi Xuân thu nhị kỳ cúng tế những người lính Hoàng Sa, nay đả đổ nát, chỉ còn lại Chiếc Cổng Tam Quan. Ðiều này đủ để minh chứng với thế giới, việc Quần Ðảo Hoàng Sa-Trường Sa là lãnh thổ lâu đời của Ðại Việt. Người Tàu chỉ ỷ vào sức mạnh và tờ văn khế bán nước của Phạm Văn Ðồng năm 1958, để cướp chiếm nước ta, như sau này chúng đã làm tại biên giới Việt Trung và Lãnh Hải trong Vịnh Bắc Việt.

Ở đây, hiện còn nhà thờ Cai Ðôi Phạm Quang Ánh, là người được Vua Gia Long cử ra Hoàng Sa năm 1815, đo đạc, khảo sát lộ trình và tổ chức Hải Ðội. Ông được nhà Nguyễn phong chức Thượng Ðẳng Thần khi mất. Tóm lại, từ thời các Chúa Nguyễn (1558-1783), nhà Tây Sơn (1788-1802), Nhà Nguyễn (1802-1945), đã có Hải Ðội Hoàng Sa. Ðặc biệt, năm 1836, Minh Mạng thứ 17, quần đảo Paracel hay bãi cát vàng, được Công Bộ, đặt tên là ‘Bản Quốc Hải Cương Hoàng Sa Xứ, Tối thị Hiểm Yếu’.

Từ năm 1954, Hoàng Sa là một đơn vị hành chánh thuộc tỉnh Quảng Nam-VNCH, được Tiểu Ðoàn 1/TQLC bảo vệ. Từ năm 1959 tới 1974, Ðảo do các Ðơn Vị DPQ/Quảng Nam trú đóng. Giống như Quần Ðảo Trường Sa ở phía Nam, cũng là một đơn vị hành chánh, của tỉnh Phước Tuy và do DPQ của tỉnh này bảo vệ, cho tới ngày 30-4-1975.

+ TRUNG CỘNG CƯỚP CHIẾM HOÀNG SA:

Thật sự người Tàu chỉ chú ý tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN từ đầu thế kỷ XX vì dầu hỏa, khí đốt và vị trí chiến lược của hai đảo trên. Sự tranh dành cướp chiếm bắt đầu từ thời VN bị thực dân Pháp đô hộ, vì mất chủ quyền nên không vòm binh lực để bảo vệ lãnh thổ riêng của mình.

- 1907 Tổng đốc Quảng Châu đòi chủ quyền trên đảo Hoàng Sa.

- 1909 Hải quân Nhà Thanh tới Hoàng Sa hai lần, cắm cờ trên đảo và bắn 21 phát đạn đại bác để thị oai.

- Ngày 30-4-1921 chính quyền Quảng Ðông, ký văn thư số 831 tự động sáp nhập quần đảo Hoàng Sa của VN vào đảo Hải Nam nhưng đã bị Triều đình Huế phản đối dữ dội vào năm 1923.

- Năm 1933, Pháp vì bị báo chí trong nước phản đối dữ dội, nên đã đem hải quân ra đánh đuổi quân Tàu, chiếm lại quần đảo Hoàng Sa, lập đồn binh, cầu tàu, đài khí tượng trên hai đảo chính Hoàng Sa, Trường Sa.

- Tháng 12/1946 Ðài Loan lợi dụng việc giải giới Nhật, đã chiếm đảo Phú Lâm trong nhóm Tuyên Ðức trong quần đao Hoàng Sa. Ðảo này lại lọt vào Trung Cộng khi Mao Trạch Ðông chiếm lục địa Trung Hoa.

- Ngày 4/12/1950 Chu Ân Lai lớn tiếng đòi hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VN.

- Năm 1956 Trung Cộng lén lút chiếm thêm đảo Linh Côn trong quần đảo Hoàng Sa, đang thuộc chủ quyền VNCH.

- Ngày 21/12/1959 Hải quân VNCH với sự trợ chiến của Tiểu đoàn 1 Thủy Chiến Lục Chiến, đã đánh Tàu Cộng, chiếm lại các đảo Cam Tuyền, Duy Mộng, Quang Hòa trong nhóm Nguyệt Thiềm, bắt giữ 84 tù binh và 5 thuyền binh nguy trang tàu đánh cá. Ngày 27/2/1959 Trung Cộng sau khi thua trận, đã ra thông cáo mạt sát Chính phủ VNCH xâm phạm chủ quyền của Tàu, vì chính Hồ Chí Minh cũng như Phạm văn Ðồng đã chính thức xác nhận bằng văn kiện, là hai quần đảo trên qua tên Tây Sa, Nam Sa là lãnh thổ của Trung Hoa. Tuy nhiên để giữ hòa khí giữa hai nước, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã thả hết số tù binh trên về nước.

Từ ngày 4-9-1958, Trung Cộng vẽ bản đồ mới và tuyên bố lãnh hải của mình là 12 hải lý. Bản tuyên cáo này chỉ có Bắc Hàn công nhận đầu tiên. Tại Bắc Việt, Hồ Chí Minh họp đảng để nhất trí và ban lệnh cho Phạm Văn Ðồng, ký nghị định công nhận ngày 14-9-1958. Ngày 9-1-1974, Kissinger tới Bắc Kinh mật đàm với Mao Trạch Ðông, được cho coi văn kiện mà Phạm Văn Ðồng đã ký xác nhận, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của VNCH, chính là hai đảo Tây Sa-Nam Sa của Tàu. Theo văn kiện và tuyên cáo lãnh hải 12 hải lý, thì chính VNCH đã chiếm đất của Trung Cộng, từ năm 1958, do VC làm chứng và xác nhận. Ðược cơ hội vàng ròng, tên cáo già Kissinger tương kế tựu kế, nhân danh Nixon, bật đèn xanh, cho Mao đánh VNCH, đề thu hồi lãnh thổ.

Tính đến năm 1974, khi xảy ra trận hải chiến Hoàng Sa, Hải quân VNCH rất hùng hậu với quân số trên 40.000 người (sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ), phân thành 5 vùng duyên hải và 2 vùng sông ngòi. Hải quân có một hạm đội gồm 83 chiến ham đủ loại. Ðể bảo vệ các sông ngòi, kênh rạch ở Nam phần, Hải quân đã thành lập 4 Lực lượng dặc nhiệm hành quân lưu động, gồm LL tuần thám 212, LL thủy bộ 211, LL trung ương 214 và LL đặc nhiệm 99. Ngoài ra còn Lực lượng Duyên phòng 213, Liên đoàn Tuần giang, 28 Duyên đoàn, 20 Giang đoàn xung phong, 3 Trung tâm Huấn Luyện Hải quân và nhiều căn cứ yểm trợ khắp nơi. Khi xảy ra cuộc hải chiến, Ðề đốc Trần Văn Chơn là tư lệnh Hải quân. Tóm lại Hải quân VNCH rất hùng mạnh trong vùng Ðông Nam Á.

Ngay từ thời thượng cổ, người Tàu luôn kính nể dân Việt vì ‘họ tuy ở núi mà rất thạo thủy tánh, láy thuyền làm xe, lấy chèo làm ngựa. Ðến thì như gió thoảng, đi thì khó đuổi theo. Tính tình khinh bạc, hiếu chiến, không bao giờ sợ chết và luôn luôn quật khởi với kẻ thù’. Bởi vậy suốt dòng lịch sử, Hải quân Việt đã ba lần oanh liệt chiến thắng quân Tàu trên Bạch Ðằng Giang và sông Như Nguyệt. Sau năm 1975, nhiều tài liệu mật nhất là của Mỹ được bạch hóa, trong đó có tương quan lực lượng hải quân giữa Trung Cộng vùng đảo Hải Nam so với Hải quân của VNCH thì thua xa và rất yếu. Tình trạng này tới năm 1979 tình trạng quân sự của Trung Cộng vẫn còn lạc hậu, cho nên khi Ðặng Tiểu Bình muốn dạy VC một bài học về quân sự, lại bì thằng đàn em phản bội đá giò lái. Nhưng dù bị Mỹ dùng viện trợ ngăn cản, đâm sau lưng, Hải quân VNCH trong suốt hai mươi năm (1955-1975), đã anh dũng giữ vững lảnh hải của đất nước một cách gần như trọn vẹn, trước sự dòm ngó tranh dành hải đảo của cac nước Trung Cộng, Ðài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai Á, Nam Dương và Kampuchia…

+ HẢI QUÂN VNCH ANH DŨNG TRONG TRẬN HẢI CHIẾN VỚI GIẶC TÀU TẠI HOÀNG SA THÁNG 1-1974:

Sau khi đạt được thắng lợi ngoại giao với Hoa Kỳ qua cặp Nixon-Kissinger, đồng thời với sự đồng lỏa của Việt Cộng, nên giặc Tàu quyết tâm chiếm cho bằng được hai quần đảo ngoài Ðông Hải của VNCH. Dã tâm càng lớn từ năm 1973, sau khi được tin các hảng dầu thăm dò cho biết vùng này có trử lượng rất lớn về dầu khí. Lúc đó VNCH cũng đã bắt đầu ký nhiều hợp đồng, cho phép các hảng dầu tới hai vùng đảo trên khai thác.Thế là ngày 11-1-1974, Trung Cộng lại tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa. Ngày 19-1-1974, bất thần Trung Công tấn công Hoàng Sa, gây nên trận hải chiến, tuy ngắn ngủi nhưng đẫm máu. Trung Cộng dù chiếm được đảo nhưng thiệt hại gấp 3 lần VNCH.

Quần đảo Hoàng Sa thời Ðệ I Cộng Hòa (1955-1963) thuộc tỉnh Quảng Nam. Cũng trong thời kỳ này, chính phủ đã ban hành sắc lệnh số 134/NV ban hành năm 1956, sáp nhập quần đảo Trường Sa, vào tỉnh Phước Tuy. Nghị định số 241/BNV ban hành ngày 14-12-1960, do chính Tổng thống Diệm bổ nhiệm Nguyễn Bá Thước làm Phái viên hành chánh Hoàng Sa. Lại phối trí Tiểu đoàn 1 TQLC trú đóng khắp các đảo, để bảo vệ lãnh thổ VNCH.

Như thường lệ, vào ngày 18-1-1974 gần tới Tết Âm Lịch Nhâm Dần. Lúc đó Tuần Dương Hạm HQ.16 Lý Thường Kiệt, khởi hành từ Ðà Nẳng với công tác chuyển vận Ðơn vị Ðịa Phương Quân của Tiểu khu Quảng Nam, ra Hoàng Sa hoán đổi định kỳ. Trong chuyến công tác trên, còn có một Phái đoàn khảo sát điạ chất, gồm 7 sĩ quan công binh và hải quân. Ngoài ra còn có một người Mỹ tên Gerald Kosh, là nhân viên tùng sự tại Tòa Lãnh sự Hoa Kỳ Vùng I Chiến thuật.

Trước khi vào đảo đổi quân, tàu HQ.16 đã vòng các đảo để kiểm soát, nên đã phát hiện được nhiều tàu chiến của Trung Cộng sơn màu xanh ô liu, ngụy trang như các tàu đánh cá, trang bị toàn vũ khí nặng. Trong lúc đó còn có nhiều tàu chiến khác đang di chuyển từ đảo Phú Lâm, tiến về các đảo Quang Hòa, Duy Mộng và Hoàng Sa.Do tình hình quá khẩn cấp, nên HQ.16 đã báo về Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng 1 Chiến thuật, nên được tăng cường thêm các Chiến hạm như Khu trục hạm Trần Khánh Dư, Tuần dương hạm Trần Bình Trọng và Hộ tống hạm Nhật Tảo. Tuy nhiên tất cả đã được lệnh Trung ương, chỉ phòng thủ, không được tấn công trước khi địch chưa khai hỏa.

Theo sử liệu, trong trận hải chiến này, lực lượng hải quân của Trung Cộng rất hùng hậu vì đã chuẩn bị trước. Thành phần tham chiến gồm: Hộ tống hạm 271 Kronstadt, Ðại Tá Vương Kỳ Uy là hạm trưởng, tử thương. Hộ tống hạm 274 Kronstadt, Hạm trưởng là Ðại Tá Quan Ðức. Ðây cũng là Soái hạm, chỉ huy trận chiến, gồm Tư lệnh là Ðô Ðốc Phương Quang Kính, cũng là Phó tư lệnh của Hạm Ðội Nam Hải. Sau trận đánh, toàn bộ chỉ huy của Trung Cộng trên Soái Hạm này, gồm 2 Ðề Ðốc, 4 Ðại Tá, 6 Trung Tá, 2 Thiếu tá và 7 Sĩ Quan Cấp uý, đều bị trúng đạn đại bác tử thương. Trục lôi hạm 389, hạm trưởng là Trung Tá Triệu Quát tử thương. Trục lôi hạm 396, Hạm trưởng là Ðại Tá Diệp Mạnh Hải, tử thương. Phi Tiễn Ðỉnh 133 Komar, có hỏa tiễn địa điạ Styx, Hạm trưởng là Thiếu tá Tôn Quân Anh. Phi tiễn đỉnh 137 Komar, có hỏa tiễn địa địa Styx, Hạm trưởng là Thiếu Tá Mạc Quang Ðại. Phi tiễn đỉnh 139 Komar có hỏa tiên, Hạm trưởng là Thiếu tá Phạm Quy. Phi tiễn đỉnh 145 Komar có hỏa tiễn, Hạm trưởng là Thiếu Ta Ngụy Như và 6 Hải Vận Hạm chở quân chiến đấu. Ngoài ra còn một lực lượng trừ bị gồm 2 Tuần Dương Hạm, 4 Pháo Hạm, 4 Khu trục Hạm, trang bị hỏa tiễn Kiangjiang, 2 Phi đội Mig 19 và 2 phi đội Mig 21, do tư lệnh Hạm Ðội Nam Hải, tổng chỉ huy.

Bên VNCH, lực lượng tham chiến gồm Khu Trục Hạm HQ4 Trần Khánh Dư, Hạm Trưởng Trung Tá HQ.Vũ Hữu San. Tuần Dương Hạm HQ5 Trần Bình Trọng, Hạm trưởng Trung Ta HQ Phạm Trọng Quỳnh. Hộ Tống Hạm Nhật Tảo HQ10, Hạm Trưởng Thiếu Tá HQ.Ngụy Văn Thà. Trong khi giao chiến, HQ10 bị trúng đạn, toàn thể thủy thủ xuống xuồng nhỏ, thì Hạm Trưởng ở lại tuấn quốc với chiến hạm. Tuần Dương Hạm HQ16, Hạm Trưởng là HQ.Trung Tá Lê Văn Thư. Về lực lượng trừ bị, có Tuần Dương Hạm HQ6 Trần Quốc Toản, Hộ Tống Hạm HQ11 Chí Linh và Phi Ðoàn F5-A37, nhưng vì ở cách xa chiến trường, nên khi chưa tới nơi, thì chiến cuộc đã tàn. Riêng Sư Ðoàn 1 Không Quân, không can thiệp… Kết quả, phía VNCH, các chiến hạm 4, 5 và 16 bị hư hại nặng nhưng chạy được về Ðà Nẳng sửa chữa và tiếp tục hoạt động sau đó. Chỉ có Chiến Hạm HQ10 bị chìm, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà, bị thương nhưng quyết ở lại chết với tàu. Về phía Trung Cộng, Tư Lệnh Mặt Trận, Bộ Tham Mưu và 4 Hạm Trưởng tử thương. Hộ Tống Hạm 274 bị chìm, Hộ Tống Hạm 271 và 2 Trục lôi hạm 389-396 bị hư nặng và phá hủy cùng với 4 ngư thuyền bị bắn chìm

Có một điều bi thảm mà hiện nay ai cũng biết, là hầu hết các Chiến hạm mà Hoa Kỳ đã viện trợ cho Hải Quân VNCH, đều được hạ thủy năm 1940, loại phế thải được tân trạng. Bốn Chiến hạm tham chiến năm 1974, được coi là tối tân nhất, vì HQ4 hạ thủy năm 1943, HQ5 hạ thủy năm 1944, HQ10 hạ thủy năm 1942 và HQ16 hạ thủy năm 1942. Riêng các vũ khí trên tàu, các loại súng liên thanh đều được gỡ bỏ, khi cho VNCH.

Nhưng dù quân lực Miền Nam ít, chiến hạm vừa cũ kỹ lại nhỏ, vũ khí trang bị, chỉ có đại bác nhưng vì Các Sĩ Quan Hải Quân VNCH đều được huấn luyện như Âu Mỹ, rất thiện chiến và tài giỏi. Cho nên đã tác xạ rất chính xác, làm nhiều tàu giặc cũng như Hạm trưởng tử thương. Tệ nhất là người Mỹ, lúc đó vẫn còn là đồng minh của QLVNCH, vẫn đang có hiệp ước hỗ tương chiến đấu và bảo vệ cho nhau. Vậy mà khi cuộc chiến xảy ra, Hạm Ðội 7 Hoa Kỳ đang tuần hành gần đó, chẳng những đã không lên tiếng, không can thiệp mà ngay thủy thủ VNCH bị chìm tàu, cũng không thèm cứu vét, theo đúng luật hàng hải quốc tế.

Theo các nhân chứng đã tham dự cuộc hải chiến kể lại, thì lúc đó các chiến hạm của Hải quân/VNCH, đã chống trả với giặc rất dũng mãnh, nên chỉ trong mấy phút đầu, đã có nhiều tàu chiến của Trung Cộng đã bị bắn chìm. Về phía VNCH, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HO.16, bị bắn trúng bánh lái và sườn tàu, được HQ.11 dìu về Ðà Nẳng. Trên chiến trường lửa máu, chỉ còn HQ.10 và Hộ tống hạm Nhật Tảo, vùng vẩy chiến đấu vời hằng chục chiến hạm của Trung Cộng, được Không quân từ các căn cứ trên đảo Hải Nam tới yểm trợ.

Cuối cùng Hộ tống hạm Nhật Tảo đã bị bắn cháy và chìm giữa biển Ðông. Hạm trưởng chiến hạm này là Trung Tá HQ.Ngụy Văn Thà, tốt nghiệp khóa 12 sĩ quan hải quan Nha Trang, sinh năm 1943 tại Trảng Bàng, Tây Ninh. Khi tàu lâm nạn, với tư cách là chỉ huy trưởng, Trung Tá Thà đã ra lệnh cho Hạm Phó là Thiếu Tá HQ. Nguyễn Thành Trí, sinh năm 1941 tại Sa Ðéc, Tốt nghiệp khóa 17 sĩ quan hải quân/Nha Trang, hướng dẫn số quân nhân còn sống sót, trong tổng số 80 người trên tàu, dùng bè cao su về đất liền. Riêng Ông ở lại chết với tàu.

Trên biển, Thiếu tá Trí vì bị thương nặng nên đã chết trên bè, trước khi các quân nhân còn lại, được thương thuyền Skopionella của Hòa Lan, trên đường từ Hồng Kông đi Tân Gia Ba, cứu sống vào đúng đêm giao thừa Tết âm lịch Nhâm Dần (1974). Sau đó 22 quân nhân này được một chiến hạm cũa Hải Ðội 1 Duyên Phòng, đón về đất liền. Còn 16 Biệt Hải của Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, có lệnh giữ đảo Vĩnh Lạc, sau khi Hòang Sa thất thủ, đã dùng bè cao su vượt biển về đất liền. Lênh đênh nhiều ngày trên sóng nước, nắng mưa gió lạnh, cuối cùng cũng được một Tàu đánh cá cứu thoát đưa về điều trị tại Quân Y Viện Qui Nhơn, 2 người chết vì đói lạnh, số còn lại may mắn thoát được tử thần.

Cuộc hải chiến chấm dứt, các chiến hạm của VNCH đều rút lui, vì Hoàng Sa đã thất thủ. Bấy giờ giặc Tàu mới bắt đâu thu dọn chiến trường và xua quân chiếm đóng tất cả các đảo. Về phía VNCH còn kẹt lại trên đảo, gồm Trung đội DQP. Quảng Nam, các quân nhân Hải quân, 7 Sĩ quan công binh trong toán khảo sát địa chất, 4 nhân viên sở khí tượng và 1 người Mỹ làm việc ở Tòa lãnh sự Hoa Kỳ thuộc Quân đoàn 1. Tổng cộng là 42 người, đều bị giặc bắt làm tù binh, giải về thành phố Quảng Châu và giam trong một trại tù, cạnh dòng sông Sa Giang. Ðây cũng chính là nơi mà hơn mấy chục năm về trước, liệt sĩ Phạm Hồng Thái đã gieo mình tự vẫn, để không bị sa vào tay giặc Pháp, sau khi ném bom ám sát hụt Merlin, toàn quyền Ðông Dương đang có mặt tại Hồng Kông.

Lúc đó đúng 8 giờ sáng ngày mồng một tết nguyên đán, thời gian hạnh phúc nhất của các dân tộc Á Ðông vui xuân theo âm lịch, trong đó có VNCH. Riêng 42 tù binh VN liên tục bị bọn an ninh Trung Cộng, tra vấn, bắt buộc phải nhận tội là đã chiếm đóng bất hợp pháp lãnh thổ của Tàu. Nhưng rồi không biết vì sao, Ðặng Tiểu Bình ra lệnh phóng thích tất cả, đưa tới Hồng Kông để mọi người hồi hương.

Lịch sử lại tái diển, ngày 14-3-1988, Trung Cộng lại nổ súng vào Hải quân Việt Cộng, tại quần đảo Trường Sa. Trong cuộc hải chiến ngắn ngủi này, vì VC chỉ phản ứng có lệ, nên tài liệu cho biết phía Trung Cộng, không có ai bị tử thương cũng như tàu chìm. Ngược lại, bên VC có nhiều tàu chiến bị chìm, gồm: Chiến Hạm Thượng Hải của Tàu viện trợ, 1 Tuần Dương Hạm củ của VNCH để lại, 1 Hải Vận Hạm của Nga Sô viện trợ và trên 300 lính Hải quân bị thương vong.

Từ năm 1884, Pháp coi như chính thức đô hộ VN. Từ đó thực dân độc quyền ký kết, các hiệp ước song phương và những công ước quốc tế, về luật biển, hải đảo cũng như biên giới giữa các nước. Năm 1885, Pháp ký với Mãn Thanh hiệp ước Thiên Tân, hủy bỏ sự liên hệ giữa Nhà Nguyễn VN và Trung Hoa, hủy bỏ ấn phong vương, phân định lại đường ranh giới bằng cọc cắm và bản đồ. Năm 1887, Pháp và Trung Hoa lại ký Hiệp Ước Brévié, phân ranh vùng Vình Bắc Phần, từ Trà Cổ (Móng Cáy), dọc theo kinh tuyến Ðông 108. Theo đó, phía tây đảo Bạch Long Vĩ là lãnh hải của VN, phía đông là của Trung Hoa. Về sự tranh chấp hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa, cũng được quốc tế giải quyết năm 1882, theo công ước luật biển. Tháng 11-1993, công ước trên được LHQ phê chuẩn và thi hành vào năm 1994, với 170 quốc gia công nhận, trong đó có Trung Cộng và VC. Tóm lại đảng VC đã dối trá quốc dân VN, lén lút họp kín với Giặc Tàu trong 20 phiên họp kín. Rồi cũng tự động bí mật ký kết, còn quốc hội VC thì cũng lén lút thông qua.

Tóm lại, tất cả những ký kết điều hoàn toàn sai trái về pháp lý quốc tế và đạo lý dân tộc, đi ngược lại truyền thống hòa bình, tự chủ, không lấy thịt đè người của bản tuyên ngôn nhân quyền. Tất cả đều là những âm mưu xâm lăng, hay nói đúng hơn chính Hồ Chí Minh và đảng VC đã rước voi Tàu về dầy mã Việt, ngay từ khi bắt đầu nhận viện trợ của Trung Cộng năm 1950 cho tới cuộc chiến Ðông Dương lần thứ 2 (1960-1975) chấm dứt. Trung Cộng lợi dụng quân viện và nhất là trong cuộc chiến biên giới năm 1979 giữa Việt-Trung, đã xua hàng triệu dân Tàu gốc thiểu số tại các tỉnh biên giới, lấn đất dành dân, sâu trong nội địa VN. Theo báo chí ngoại quốc, VC đã bán cho Trung Cộng tại biên giới Việt Hoa, hơn 15.600 km2 và 20.000 km2 lãnh hải trong vịnh Bắc Phần… Như vậy tại Miền Bắc, ngày nay VN đã mất hẳn những địa danh hồn thiêng sông núi như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc, và Ðồng Ðăng với Phố Kỳ Lừa, Núi Ðất, Núi Bạc… an như mấy ngàn năm lịch sử.

Việc cộng sản Hà Nội tự chuyên lén lút bán nước cho Trung Cộng, nay đã là một biển hận, trời hờn, làm cho người Việt, bất cứ là ai, khi biết được cũng xấu hổ và căm thù bọn phản bội dân tộc. VN mất Ải Nam Quan, coi như đã tự mình hủy diệt một niềm tin quyết thắng, vì Nam Quan là hồn thiêng của sông núi, mà bất cứ một người VN nào khi chào đời, cũng đều, thuộc lòng. Giặc Tàu bao đời nuôi mộng phanh thây chiếm nước người Việt nhưng bao đời chúng đều bị người Việt, chận đứng trước cửa Nam Quan, vì đây chính mồ chôn quân xâm lăng phương Bắc.

Từ năm 1930 tới nay, Hồ Chí Minh và đảng VC, chỉ vì lợi lộc cá nhân và đảng hệ, mà cõng voi về đầy xéo đất nước, làm cho voi quen đường, chẳng những lấn đất dành biển, mà còn ngỗ ngáo sử dụng một mình một chợ thượng nguồn các con sông thiêng của VN, từ sông Hồng, sông Ðà, Lô, Thái Bình ở Bắc Phần cho tới sông Cửu Long tại miền Nam, khiến cho nước ta, từ hăm chin năm nay, chịu không biết bao nhiêu thiên tai bảo lụt, thiệt hại mùa màng tật bệnh, vì những hiện họa của Tàu đổ xuống các dòng sông, theo nước xuống tận đồng bằng sông Cửu Long và ra biển. Rồi đây, VN sẽ lãnh tất cả những chất độc như Cyanide, arsenic, acid… từ các quặng mỏ trong tỉnh Vân Nam, đổ xuống dòng sông Mekong ra biển. Chưa hết, Trung Cộng chẳng những đã xây các đập thủy điện khổng lồ tại Mãn Loan, Cảnh Hồg, Ðại Chiến Sơn… và Hồ chứa nước Lạn Thương Giang, trên sông Mêkong. Mà còn xúi các nước Thái, Miến, Lào cũng góp phần làm hủy hoại tận tuyệt con sông thiêng, khiến cho một ngày đó, phù sa sẽ không còn bồi đắp Mũi Cà Mâu và hủy diệt toàn bộ thủy tộc trên biển đông, vì hệ sinh thái cạn kiệt.

Dân chúng VN bao đời sống nhờ biển cá, VC ngày nay đem biển bán cho giặc Tàu, khiến cho nguồn lợi thủy sản bị hao hụt trầm trọng, tài nguyên dưới đáy biển bao đời, nay thuộc về ngoại bang.

Tháng 1-2005, ngư dân tỉnh Thanh Hóa, như thường lệ hành nghề trong lãnh thổ của tổ tiễn tại Vịnh Bắc Việt nhưng đã bị lực lượng quân sự của Trung Cộng bắn giết một cách tàn nhẫn tận tuyệt, bất chấp lòng nhân đạo và luật lệ của quốc tế. Sự cố đau lòng tủi nhục trên, khiến cho cả nước kể cả hải ngoại, ai cũng rớt nước mắt vì thường đồng bào mình, cũng như thân phận nhược tiểu VN và kiếp đời nô lệ dưới thiên đường xã nghĩa. Thì ta VC đã đồng thuận với Trung Cộng, cố tình dàn ra một bẩy để ngư dân sụp và coi như chuyện đã có không cần phải giải thích hay thông báo gì gì, cho tất cả người trong nước biết, là từ nay cấm bất cứ ai, không được bén mảng, tới nơi chốn, mà hai đảng đã mua bán xong xuôi, nếu không bị Trung Cộng giết hay cướp bóc tài sản, thì ráng chịu. Rồi nay mai, Trung Cộng sẽ khai thac dầu hỏa trong vịnh Bắc Phần, nạn tràn dầu, ô nhiễm chất phế thải sẽ khiến cho đồng bào duyên hải gánh chịu. Ðó là chưa nói tới, ngư dân sẽ bị Tàu cấm hành nghề, vì biển củ đả bị đảng bán cho giặc, vịnh Bắc Việt trở thành Vịnh Hải Nam của người Tàu.

Năm 1473, khi Thái bảo kiến dương bá Lê Duy Cảnh, được giao nhiệm vụ trấn giữ Ải Nam Quan, Vua Lê Thánh Tông đã ân cần nhắn gửi người ra đi: ‘Một thước núi, một tấc sông của ta, không được bỏ. Nếu ngươi làm mất, tội đó phải tru di’. Lý Thường Kiệt khi đại chiến với quân Tống, đã viết ‘Nam Quốc Sơn Hà, Nam Ðế Cư’ xác quyết đất đai của người Việt muôn đời là của Nước Việt, không có ai được quyền xâm lấn hay bán nhượng. Trái lại VC thì lúc nào cũng to miệng nhục mạ nhà Nguyễn, vua Gia Long là cõng rắn cắn gà nhà, quy tội cho người Việt không cộng sản là Việt gian, Mỹ Ngụy… Nhưng cuối cùng, khi Pháp rời Ðông Dương năm 1955, đã trả lại sông núi cho người Việt, không thiếu một tất đất, kể cả những cơ sở, đồn điền cũng giao hoàn. Suốt thời gian nội chiến 1955-1975, VNCH không hề bán nhượng cho Hoa Kỳ một cộng cỏ vì tới sáng ngày 30-4-1975, Mỹ đã rút hết về nước. Trái lại VC trong suốt bao năm, làm đủ chuyện phản tặc, từ công nhận Hoàng Sa-Trường Sa là của Tàu, rồi tiếp tục bán nhượng đất đai, sông núi của Tổ Quốc, đó là chưa nói tới, cái sự đem đất thế chấp làm vốn, để đầu tư với Tư bản kiếm tiền bỏ túi.

Trước năm 1975, lúc nào cũng nói VNCH tham nhũng, độc tài, Diệm-Nhu, Thiệu ốKỳ chạy theo Mỹ, nay rõ ràng hơn chính đảng VC và Hồ Chí Minh, mới đích thực sự là đầy tớ, hết Nga tới Tàu, nay sắp bỏ chân qua Mỹ-Nhật. Còn Cán bộ đảng thì tham nhũng, hốt trọn tài sản của dân nước, chuyển hết ra nước ngoài, rửa tiền, đầu tư, làm giàu và hưởng thụ, ai chết mặc bây. Ðó chính là thành tích lịch sử của Ðảng VC trong ba mươi năm quốc hận.

Mạnh được yếu thua là phương châm xử thế lâu đời của Trung Hoa. Bởi thế qua suốt mấy ngàn năm lập quốc, vì thái độ trên đã làm cho nước Tàu loạn lạc triền miên hầu như thời nào cũng có. Tóm lại người Hán dù là ai chăng nữa, chắc sẽ chẳng bao giờ quên đuợc nổi hận nhục trong thời gian nước Tàu bị liệt cường xâu xé từng mảnh. Người Anh đã chiếm Hồng Kông làm thuộc địa, còn Thượng Hải là tô giới. Tại đâythực dân đã lập bảng niêm yết nghiêm cấm, không cho người Hoa và Chó vào vườn hoa hay những nơi công cộng, dành cho người ngoại quốc. Trước cảnh đau hận của dân tộc Hán, một học giả Nhật đã cảm khái viết:

‘Á lục tiên hiền, ưng nhất tiếu
Anh nhân diệt hoản, sở cầm tù
Tùng kim hoán cải, công viên bảng
bất cẩm Anh nhân, cập cẩu lai’.

Liên Bang Sô Viết nay đã tan rã, chỉ còn lại đế quốc Trung Hoa là một tập hợp của nhiều vùng đất của các dân tộc Mãn, Mông, Tạng, Hồi và Bách Việt, bị người Hán xâm lăng và cưỡng chiếm. Một đất nước mênh mông với hàng ngàn dân tộc dị chủng, luôn mang thù hận và nghi kỵ, Trung Hoa không sớm thì muộn cũng sẽ bị tan rã như các đế quốc La Mã, Ai Cập, Thổ Nhỉ Kỳ, Mông Cổ, Hung Nô và gần nhất là Ấn Ðộ, Nam Tư và Liên bang Sô Viết.

Dân tộc Việt trong dòng sông lịch sử, cũng đã chấp nhận luật chơi ‘mạnh được yếu thua’, cho nên nay vì bất hạnh bị đảng VC hèn mạt cầm quyền, đã phải liên tục mất mát đất đai biển đảo vào tay giặc Tàu. Nhưng lịch sử luôn là sự trùng hợp, chắc chắc con cháu người Việt trong tương lai gần, se quật khởi chiếm lại tất cả lãnh thổ. kể cả hai quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bị VC dâng bán cho giặc khi cầm quyền. Thời nhà Trần, quân Ðại Việt dưới tài lãnh đạo của các vua Trần và Hưng Ðạo Ðại Vương, một lòng tử chiến nên cuối cùng đã chiến thắng quân Mông-Nguyên ba lần, khi chúng xâm lăng Ðại Việt. Nhờ vậy: ngày nay ta mới có:

‘Nam quốc sơn hà, Nam đế cư
tiệt nhiên định phận tại thiên thư
như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
nhữ đẳng hành khan thử bại hư ‘

Thương biết bao những anh hùng vị quốc, trong đó có những chiến sĩ Hải quân năm nào, đã anh dũng chống giặc Tàu xâm lăng, như tổ tiên ta đã bao đời banh thây đổ máu để có ‘Nam quốc sơn hà, nam đế cư’  -/-

Xóm Cồn
Mùa Gió Chướng 12-2007
Mường Giang

Posted in bán nước cầu vinh, Biển Đông VN, Công hàm PVĐ, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thành tích và Tội ác | Leave a Comment »

Đất nước bị xâm lăng – Đảng cộng sản làm ngơ!

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Đất nước bị xâm lăng – Đảng cộng sản làm ngơ!

Hay sự cần thiết phải có nhiều Đảng!

Trung Ngôn

1. Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý

Ngày 3.12, cho biết phản ứng của Việt Nam về tin Quốc vụ viện Trung Quốc vừa phê chuẩn việc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng nêu rõ: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. (báo Thanh niên, 04/12/2007)

2. Trung Quốc xâm lược

Việt Nam phản đối việc Trung Quốc thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý 3 quần đảo trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Hành động này đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. (báo Thanh niên, 04/12/2007)

3. Chữ vàng bị hoen ố

Mối tình hữu nghị “núi liền núi, sông liền sông” giữa Việt Nam và Trung Quốc là báu vật trời cho của nhân dân hai nước…Máu xương của nhiều thế hệ Việt Nam đổ ra cho sự nghiệp giải phóng dân tộc…Vì vậy, nhân dân Việt Nam càng trân trọng những “chữ vàng” mà phía Trung Quốc thường trang trọng nhắc đến mỗi khi cần nói đến mối quan hệ Việt Trung. Đáng tiếc là việc làm vừa rồi của Quốc vụ viện Trung Quốc phê chuẩn việc thành lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam trực tiếp quản lý ba quần đảo, trong đó gồm cả Hoàng Sa, Trường Sa, lãnh thổ bất khả xâm phạm của Việt Nam. Việc làm ngang ngược này đã trực tiếp làm hoen ố những chữ vàng thường được nói đến trên kia. (báo Thanh niên, 07/12/2007 bài của gs TƯƠNG LAI)

4. Họ có cần không?

Là một cường quốc, thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an LHQ, vị thế của Trung Quốc trong khu vực và trên trường quốc tế đang cần có một diện mạo thân thiện…Việc bất chấp sự thật lịch sử về chủ quyền của một nước, ngang nhiên đưa Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vào một huyện của mình, điều ấy sẽ khiến cho Trung Quốc hiện diện trước thế giới như thế nào đây? (báo Thanh niên, 07/12/2007 bài của gs TƯƠNG LAI)

5. Nỗi nhục xâm lăng

Sắc chỉ của Minh Thành tổ ngày 21.8.1406 gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng “…một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách vở và bản in đạo Phật, đạo Lão thì không tiêu hủy, ngoài ra, hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến những loại ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ nhỏ, loại sách có câu thượng đại nhân, khưu ất kỷ… một mảnh, một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước, phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều gìn giữ cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá hủy tất cả, một chữ chớ để còn…”. (báo Thanh niên, 07/12/2007 bài của gs TƯƠNG LAI)

6. Niềm hy vọng

Hy vọng rằng, trong bối cảnh mới của thế giới bước vào kỷ nguyên của thế kỷ XXI với xu thế hòa bình và hợp tác, ý chí và tinh thần dân tộc của Việt Nam bắt gặp được ý chí và nguyện vọng hòa bình của nhân dân Trung Quốc, lời nói đi đôi với việc làm, cùng nhau tôn trọng những chữ vàng hữu nghị để trong vị thế địa-chính trị chiến lược núi liền núi, sông liền sông cùng nhau sánh bước đi lên trong đời sống hòa bình và phát triển của khu vực Đông Nam Á, châu Á và cả thế giới.(báo Thanh niên, 07/12/2007 bài của gs TƯƠNG LAI)

7. Việc ấy nhẫn tâm làm được thì việc gì mà không nhẫn tâm làm được

Việc làm của Quốc vụ viện Trung Quốc khiến người Việt Nam nhớ đến, cũng lời răn của Khổng Tử: “Thị khả nhẫn dã, thục bất khả nhẫn dã”, tạm dịch là “Việc ấy nhẫn tâm làm được thì việc gì mà không nhẫn tâm làm được” (Luận Ngữ, thiên Bát Dật), điều mà đức Khổng Tử thường lên án: “Xảo ngôn, lệnh sắc, tiển hỉ nhân”, tạm dịch là “nói năng khéo léo, nét mặt vờ niềm nở, hạng người đó ít lòng nhân” (Luận Ngữ, thiên Học Nhi). (báo Thanh niên, 07/12/2007 bài của gs TƯƠNG LAI)

8. Yêu nước cũng cần phải xin phép ĐẢNG ?.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Dũng nói: Chúng tôi được biết sáng 9.12.2007, một số người dân đã tụ tập trước cửa Đại sứ quán và Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bày tỏ bất bình đối với các hành động gần đây của Trung Quốc liên quan đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Đây là việc làm tự phát chưa được phép của các cơ quan chức năng Việt Nam. Khi các vụ việc trên xảy ra, các lực lượng bảo vệ của Việt Nam đã kịp thời có mặt, yêu cầu bà con chấm dứt việc làm này”. (báo Thanh niên, 10/12/2007)

Lời Bình:

“Việc ấy nhẫn tâm làm được thì việc gì mà không nhẫn tâm làm được” Câu nói này là của Khổng Tử một nhà nho Trung Quốc được giáo sư Tương Lai mượn trích đã nói lên tầm quan trọng của vấn đề! Đó là nay Trung Quốc xâm chiếm của Việt Nam 2 hòn đảo thì ngày mai sẽ là cái gì to hơn nữa! Thực tế là năm trước họ đã dịch đường biên giới của ta, bắn chết dân ta đi đánh cá ở đảo Trường sa…

Ý tứ đó mọi người dân Việt Nam đều biết, giới Trí thức càng biết, chỉ có Đảng cộng sản làm ngơ! Nhà nước XHCN làm ngơ!

Nếu Đảng cộng sản không LÀM NGƠ thì hãy chứng minh đi!

Nếu Trung Quốc lời nói không đi đôi với việc làm thì Việt Nam làm gì đây?

Nước nhà bị hoạ xâm lăng mà Chính thể nhà nước, Đảng duy nhất không ai làm gì cả ư?

Thật hèn!

Sự cần thiết phải đa đảng!

Đất nước chỉ có 1 Đảng, Đảng đó đầu hàng, người dân vô vọng, họ chẳng có Đảng nào nữa để mà lãnh đạo họ đi chiến đấu chống kẻ thù của đất nước. họ chỉ còn biết biểu tình phản đối vậy mà Nhà nước ngăn cấm họ? Đảng không cấp phép cho người dân yêu nước à?

Ngăn cấm người dân biểu tình phản đối thì chắc Đảng cộng sản phải có hành động gì tốt hơn đây?

Một chính quyền của nước Việt chưa bao giờ thấy nước khác xâm lăng lại ngồi đó để “…cực lực phản đối…” và nói khích KẺ THÙ rồi HY VỌNG kẻ thù xấu hổ mà tha cho ta!

Thật nhục!

Không thể! Không thể! Không thể!

Ta luôn nhớ:

“Việc ấy nhẫn tâm làm được thì việc gì mà không nhẫn tâm làm được!”

Người dân VIỆT nếu không làm gì thì hoạ mất nước không còn xa nữa!!!

Trung Ngôn.

(Nguon:hungviet.org)

Posted in bán nước cầu vinh, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thành tích và Tội ác | Leave a Comment »

Bài điều trần của Giáo-sư TRẦN ĐẠI-SỸ (IFA): việc đảng Cộng-sản Việt-Nam Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, hải phận cho TQ

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Bài điều trần của Giáo-sư TRẦN ĐẠI-SỸ (IFA)
Về việc đảng Cộng-sản Việt-Nam Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc

Ngày 10-11-2001

Docteur Trần Đại-Sỹ
5, place Félix Éboué
75012 PARIS, FRANCE
Tél. 01.43 07 51 46 hay 06 63 79 92 16
E-mail1: <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy76768 = ‘Trandaisy’ + ‘@’; addy76768 = addy76768 + ‘yahoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy76768 ); document.write( ” ); //–>\n Trandaisy@yahoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–>
E-mail2: <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy50123 = ‘Ifa532′ + ‘@’; addy50123 = addy50123 + ‘yahoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy50123 ); document.write( ” ); //–>\n Ifa532@yahoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–>

Bí ẩn về việc đảng Cộng-sản lãnh đạo nhà nước Việt-Nam nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc

Giáo-sư Trần Đại-Sỹ

Đôi lời của IFA với người Việt.

Trong mấy tháng giữa năm 2001, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động vì tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc. Đau đớn nhất cho người Việt là địa danh lịch sử, đi vào tâm tư, là niềm tự hào của họ là cửa Nam-quan, suối Thiên-tuyền (Phi Khanh) nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quốc. Ngay cả hang Pak-bo, là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở rất xa biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở sát lãnh thổ Trung-quốc.

Trong suốt 25 năm qua Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, vì ký khế ước làm việc với:

– Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP)
– Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC),

Trong đó có điều căn bản là :

“Không được viết, được thuật những gì với báo chí về Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại. Không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc, Việt-Nam”.

Nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều gì mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên ông đã bị một cơ quan X (chúng tôi dấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này ngày 10-11-2001. Theo luật lệ hiện hành, mà Bác-sĩ Trần phải tuân theo. Rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôi.

Lập trường của chúng tôi (IFA):

Dù theo cổ sử, dù theo khảo cổ, dù theo Quốc-tế công pháp thì hai quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa), Trường-sa (Nam-sa) đều thuộc Việt-Nam. Trung-quốc chỉ mới nhảy vào vòng tranh chấp khi được Thủ-tướng Phạm Văn Đồng của nước VNDCCH ký văn kiện nhượng cho năm 1958 mà thôi. Còn Phi-luật-tân, Mã-lai càng không có một chút lý nào để đòi chủ quyền tại đây. Vấn đề quá rõ ràng, không cần bàn tới. Trong khi điều trần, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ đã đứng trên quan điểm này.

Cuộc điều trần khá dài, nên Bác-sĩ Trần ngắt ra thành từng đoạn, để cử tọa đặt câu hỏi. Vì cử tọa là những người có kiến thức rất rộng, rất cao về vùng Á-châu, do thế Bác-sĩ Trần không đi vào chi tiết. Sau cuộc điều trần, vô tình một vài yếu nhân trong cử tọa làm tiết lộ. Vì các bản bị lộ không thống nhất, nên độc giả rất dễ hiểu làm. Mãi tới hôm nay (10-1-2002) chúng tôi mới được phép phổ biến toàn văn, cũng như những câu hỏi, câu trả lời (trừ một vài câu hỏi).

Kể từ hôm Gs Trần Đại-Sỹ, điều trần(10-11-2001) cho đến hôm nay (10-1-2002) chúng tôi đã nhận được:

– 1723 thư do Bưu-điện chuyển.
– 2431 E-mail:
1124 về <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy25995 = ‘Institut.Franco-Asiatique’ + ‘@’; addy25995 = addy25995 + ‘Wanadoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy25995 ); document.write( ” ); //–>\n Institut.Franco-Asiatique@Wanadoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–> ,
532 về <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy48355 = ‘Trandaisy’ + ‘@’; addy48355 = addy48355 + ‘Yahoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy48355 ); document.write( ” ); //–>\n Trandaisy@Yahoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–> ,
còn lại về TQJV.
Đa số bằng Việt-ngữ, còn lại bằng Anh-ngữ, Pháp-ngữ, Hoa-ngữ. Nội dung thư chia ra:

– Nhiều nhất là xin hình, tài liệu bổ túc.
– Thắc mắc.
– Công kích.
– Thảo luận.
– Xin bản Hiệp-ước: Pháp ký với Thanh-triều 1887, và Hoa-Việt(1999 và 2000).

Chúng tôi xin nhắc lại, đây là một bài điều trần mật. Đánh giá về độ chính xác của bản điều trần là các vị cử tọa hôm đó, và IFA chịu trách nhiệm trước cơ quan X.

– Sự việc đã chấm dứt, chúng tôi không thể tái thảo luận. Xin ngừng gửi ý kiến tới.
– Chúng tôi cũng không cần nghe, đọc bất cứ sự công kích nào.
– Chúng tôi không thể cung cấp tài liệu, hình ảnh cho bất cứ đòi hỏi nào.

Chúng tôi đã yêu cầu Gs. Trần Đại-Sỹ cũng phải nghiêm chỉnh tuân theo nguyên tắc này.

Xin nhắc lại, bài viết của Gs. Trần Đại-Sỹ bằng tiếng Pháp. Văn phòng của chúng tôi dịch sang các tiếng của CE: Anh, Đức, Ý, Na-uy, Thụy-điển, Đan-mạch, Hòa-lan, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha để chuyển cho tất cả các vị cử tọa. Gs. Trần Đại-Sỹ e rằng những bản dịch không đúng ý của mình, nên đã cẩn thận đính kèm các bản dịch trên bằng một bản tiếng Việt. Ông ghi chú:

“Thưa ngài…

Dưới đây là bản dịch từ tiếng Pháp sang tiếng của Ngài về bài điều trần của tôi. Tôi sợ rằng bản dịch có đôi điều không đúng ý . Vì vậy tôi xin đính kèm một bản tiếng Việt. Hiện khắp châu Âu, nơi nào cũng có trí thức gốc người Việt định cư. Vậy nếu Ngài có điều gì thắc mắc, xin trao bản tiếng Việt và tiếng nước Ngài, cho một người Việt, tại nước Ngài để so sánh. Như vậy sẽ không sợ bị hiểu lầm”.

Nhưng khi một vài vị cử tọa, nhờ người Việt so sánh. Các vị (gốc VN) ấy, vẫn còn chút lòng son với đất nước, bèn sao lấy một bản, rồi chuồn cho báo chí, cho Internet. Do đó có rất nhiều sai lạc, hoặc bị cắt, hoặc bị thêm vào nhiều đoạn.

Sau khi biết rằng bản điều trần mật bị lộ, chúng tôi xin cơ quan X. cho phổ biến toàn văn. Chúng tôi không thể gửi đến từng cá nhân, mà chỉ gửi đến các cơ quan truyền thông Việt-Hoa. Nếu Quý-vị phổ biến xin:

– Giữ nguyên bản, không thêm bớt.
– Phổ biến toàn bộ hình đính kèm.

Trân trọng (IFA)

***

Kính thưa Ngài …
Kính thưa Quý Ngài…
Kính thưa ông Giám-đốc…
Kính thưa Quý-liệt-vị,

Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để trình bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay chúng tôi lại được gửi tới trình bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Đây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô tư. Vì:

– Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần, vào thế kỷ thứ 13. Mà nay tôi phải nói về những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.

– Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đã viết trên mười bốn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước. Mà suốt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc; bị tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.

– Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp, thường bị vài tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi đầu người. Một vị Đại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu, mời tôi về nước, (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đã biết rất rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả. Thế nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong hoảng 98 phút, bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình thức khủng bố, khủng bố tôi, và khủng bố cả người bạn tôi đang là một Đại-sứ của VN, đã mời tôi. Ông Đại-sứ này được Quý-vị kính trọng về tư cách và về kiến thức. Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ, vì tôi biết rất rõ kiến thức, mục đích của họ. Trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội gì để kết tội tôi. Hơn nữa tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)

Chú giải 1

(1), Trong lần về Việt-Nam này, chúng tôi thuê xe đi Lạng-sơn. Khi tới trạm biên giới mới, chúng tôi xin sang lãnh thổ Trung-quốc mới (Nam-quan cũ) thì bị Công-an Việt-Nam từ chối. Chúng tôi đặt vấn đề: Chúng tôi mang thông hành Liên Âu, có visa hợp pháp vào Việt-Nam, thì chúng tôi có quyền ra khỏi Việt-Nam chứ? Công-an cửa khẩu trả lời rằng: Ông có visa ra vào cửa khẩu Tân-sơn-nhất, Nội-bài, chứ không có quyền rời Việt-Nam bằng cửa Hữu-nghị. Chúng tôi xin chụp hình cửa khẩu mơí, thì họ không cho. Chúng tôi đành trở về, rời Tân-sơn-nhất, đi Quảng-châu. Từ Quảng-châu đi Nam-ninh. Từ Nam-ninh thuê xe tới Bằng-tường là đất Trung-quốc với ải Nam-quan. Rồi vào Nam-quan cũ. Đứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người. Tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa. Anh ta hỏi:

– Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học à?

Tôi lắc đầu, khóc tiếp. Anh an ủi:

– Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực, nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đất này tạ tội rồi. Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiều.

Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôi. Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng ( xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữ Hán xin phiên âm như sau:

Nam-quan thứ 3 của Trung-quốc), xây sau 1953,

Trường hận Nam-quan

1. Thử địa cựu Nam-quan,
2. Biên ải ngã cố hương.
3. Kim thuộc Trung-quốc thổ,
4. Khấp, khốc, ký đoạn trường.

5. Lê Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6. Thường Kiệt truy Bắc phương,
7. Hưng Đạo đại sát Đát,
8. Lê Lợi trảm Vương Thông.

9. Nam xâm, Càn-Long nhục,
10. Kiếm hồng Bắc-bình vương.
11. Ngũ thiên niên dĩ tải,
12. Hoa, Việt lập dịch trường.

13. Mao, Hồ tình hữu nghị,
14. Nam, Bắc thần xỉ thương,
15. Huyết lệ vạn dân cốt,
16. Hồng-kỳ thích ô hoang.

Đại-Việt vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ
Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001

Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, chỗ núi Kẹp, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem. Nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôi. Xin tạm dịch:

1. Đất này xưa gọi Nam-quan,
2. Vốn là biên địa cố hương của mình.
3. Hiện nay là đất Trung-nguyên,
4. Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay?

5. Vua Lê thắng Tống chỗ này,
6. Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,
7. Thánh Trần sát Đát liên miên,
8. Lê Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,

9. Càn-Long chinh tiễu than ôi,
10. Quang-Trung truy sát muôn đời khó quên.
11. Năm nghìn năm cũ qua rồi,
12. Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoa.

13. Ông Hồ kết bạn ông Mao,
14. Sao răng lại cắn, máu trào môi sưng?
15. Vạn dân xương trắng đầy đồng,
16. Để lại trên lá cờ Hồng vết nhơ.

(Người nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ, khóc đề ngày 6 tháng 9 năm 2001)

Câu 5. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bại.

Câu 6. Năm 1076, vua Tống Thần-tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánh Đại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường Kiệt đánh đuổi.

Câu 8. Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầu.

Câu 10. Vua Quang-Trung còn có tước phong là Bắc-bình vương.

Câu 14. Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao Trạch Đông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ Chí Minh kết thân với nhau. Việt-Hoa ví như răng với môi. Vì sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hồ. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các tỉnh biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ròng ròng.

Tôi chợt nhớ một chuyện, mấy năm trước, mỗi khi qua đây tôi đều tìm đến suối Phi-Khanh. Tôi lò mò đến suối Phi-Khanh. Ngọn suối Phi-Khanh này không xa Nam-quan làm bao, không nổi tiếng bằng Ải Nam-quan, nhưng đối với dân địa phương thì lại là một vùng đất linh của lịch sử. Nhìn thấy suối Phi-Khanh bây giờ thuộc Trung-quốc, tôi khóc như một người điên. Anh sĩ quan Công-an nói với nhân viên phụ trách quan thuế:

– Tội nghiệp cho vị tiên sinh này! Chắc con của ông ấy tử trận trong lần mình dạy tụi Nam-man bài học! Ông ấy thương tâm quá rồi.

Tôi nghe anh ta nói, lại khóc to hơn. Cái suối Phi-Khanh này ra sao?

Câu chuyện suối Phi-Khanh như thế này:

Nhà Minh lấy cớ giặc Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần (1400), sai bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh sang đánh (1406). Thăng-long( Đông-đô) thất thủ, rồi Tây-đô (Thanh-hóa) cũng thất thủ. Cha con giặc Hồ chạy đến cửa biển Ky-la. Có một lão ông ra bái yết nói:

“Chỗ này tên Ky Lê, trên núi có động Thiên-cầm; đều là điềm không tốt, xin đừng lưu ở đây”.

Hai cha con họ Hồ giết ông lão ấy, rồi quả nhiên bị bắt.

Chữ Ky có nghĩa là trói, buộc. Nguyên tổ tiên Hồ Quý Ly là con nuôi ông Lê Huấn, mới đổi ra họ Lê. Nay gặp cửa Ky Lê nghĩa là trói bọn Lê. Còn hang Thiên-cầm thì Thiên là trời, cầm là đàn. Cái hang này khi gió thổi vào tạo thành âm thanh như tiếng đàn. Nhưng ông lão đó khuyên Hồ Quý Ly rời đi vì cầm tuy viết khác, nhưng cùng âm với cầm là bắt. Hang Thiên-cầm nghĩa là hang trời bắt.

Tháng 6 năm Đinh Hợi, 1407, Trương Phụ sai Hoành-hải tướng quân Lỗ Bân, Đô-đốc thiêm-sự Liễu Thăng bắt giải Quý-Ly, Hán Thương, Nguyên Trừng, Triệt, Uông, cháu là Nhuế, Mỗ, Phạm, em là Quý-Tỳ; con Quý-Tỳ là Vô Cữu, ngụy tướng quân Hồ Đỗ, Đoàn Bồng; ngụy Hành-khiển Nguyễn Nghiện Quang, Lê Cảnh Kỳ, Nguyễn Phi Khanh sang Kim-lăng.

(Thời còn niên thiếu, nho sinh Nguyễn Phi Khanh được quan Tư-đồ Trần Nguyên-Đán tuyển làm gia sư cho các con. Trong các con của quan Tư-đồ có cô Trần Thị Thái đang tuổi dậy thì. Lửa Phi-Khanh gần rơm Thái thì phải bén là lẽ thường. Thế rồi cô Trần Thị Thái mang bầu. Nho sinh Phi-Khanh sợ tội bỏ trốn. Quan Tư-đồ sai người đi bắt về, rồi gả con gái cho. Bà Thái ông Khanh sinh ra Nguyễn Trải. Thời thơ ấu Nguyễn Trãi được ông ngoại yêu thương dạy dỗ tận tình hơn tất cả các cháu. Sau khi giặc Hồ Quý-Ly cướp ngôi nhà Trần, Nguyễn Phi Khanh ứng thí, rồi được bổ làm quan).

Nguyễn Trãi thương xót cha, đi theo đoàn tù binh để phụng dưỡng. Lúc tới Nam-quan thì quan nhà Minh đuổi những người theo tiễn sang Trung-quốc trở lại. Cha con khóc lóc tiễn biệt nhau, Phi-Khanh khuyên con hãy trở về lo phục quốc. Tương truyền, bình nước Nguyễn Trãi mang theo để cho cha uống đã hết, tại cửa ải không tìm đâu ra nước, ông lang thang vào bãi cỏ bên đường, ngửa mặt nhìn trời, rồi khấn:

“Nếu trời xanh chưa nỡ hại nước Việt tôi, cho tôi đuổi được giặc, phục hồi cố thổ thì xin cho tôi bầu nước tiễn cha”.

Uất khí bốc lên ông dậm chân, thì dưới chân vọt ra một nguồn nước. Ông uống nước đó, rồi hứng đầy bầu dâng cho cha. Từ đấy dân Nam-quan gọi suối ấy là suối Phi-Khanh. Khi vụ án Lệ-chi viên xẩy ra, Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, thì suối ấy đổi tên là Thiên-tuyền. Rồi khi vụ án được vua Lê Thánh-tông giải oan, suối ấy lại mang tên Phi-Khanh truyền đến nay.

Suối vẫn còn đây! Phi-Khanh ở đâu? Nguyễn Trãi ở đâu? Trên không mây vẫn bay, sương mờ vẫn giăng trên núi, nước vẫn chảy. Nhưng đất đã đổi chủ. Tôi cảm ứng cầm bút vạch trên tảng đá bài thơ cổ phong (quá buồn tôi làm thơ, để bầy tỏ sự đau đớn, chứ tôi không phải là thi sĩ), rồi lại trở sang Bằng-tường khắc bài thơ lên mảnh granite, và gắn lên tảng đá trong vách núi gần suối. Bài thơ như sau:

Phi-Khanh tuyền.

1. Ngụy Hồ thất nhân tâm,
2. Minh xử Trương Phụ xâm.
3. Nhị đô giai thất thủ,
4. Quân, thần nhục Thiên-cầm.

5. Thử địa Ức Trai thệ,
6. Uất khí biệt phụ thân,
7. Nam-quan khốc tống biệt,
8. Thiên tứ nhất linh tuyền.

9. Lục bách niên vân tải,
10. Việt Dân tưởng anh huân,
11. Kim thuộc Trung-quốc thổ,
12. Ẩm thủy thương ngã tâm.

Đại-Việt, vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ,
Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.

Tạm dịch:

Giặc Hồ làm mất dân tâm,
Minh sai Trương Phụ đem quân đánh mình,
Quân thua thất thủ hai kinh,
Vua tôi bị bắt ở quanh Thiên-cầm.

Ức-Trai hiếu tử tiễn cha,
Nam-quan thề quyết không tha giặc trời.
Hay đâu linh khí muôn đời,
Phun ra ngọn suối, tuôn hoài nước thiêng.

Sáu trăm năm cũ ai quên,
Đại công quét sạch giặc Minh chỗ này.
Bây giờ, suối vẫn còn đây,
Đau lòng vì suối đã thay chủ rồi.

(Người nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ,
khóc đề ngày 6 tháng 9 năm 2001)

Hết chú giải 1, trở lại bản điều trần

– Tháng 9 vừa qua (2001), Đảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhất, vì năm 1997 tôi đã viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm Trung-quốc của Tổng Bí-thư Đỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Nhất là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi viết dưới hình thức hai hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, USA, số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết trình của tôi với Quý-vị cuối năm 1997 (Phụ bản 3 đính kèm). Như Quý-vị biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai phản động, có nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấy.(2)

Chú giải (2)

Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rõ ai chủ trương, ai kết tội tôi. Nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết trên, tôi đã tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm, khiến họ sợ hãi mà thôi. Điều tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Đức-Anh bị Trung-quốc đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại. Rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm, những vụ đầu độc cùng một phương pháp:

– Một ký giả Việt tên Tô Văn, thuộc loại nghiện hút, vô tư cách, thường được gọi là Cậu-chó. Ông ta từ Hoa-kỳ sang Pháp, theo tên Trương Như Tảng, cùng kéo nhau sang Bắc-kinh, định dâng Việt-Nam cho Trung-quốc (Nhưng Tảng không cho ông đi). Trung-quốc biết là bọn lưu manh không nhận, bọn họ trở về nói láo được Trung-quốc chi 4 tỷ đô la để đánh VC! Ít lâu sauTô Văn được bán thân bất toại để bảo mật.

– Ông Lê QT, một lãnh tụ kháng chiến có thực lực. Lực lượng kháng chiến này do Trung-quốc yểm trợ. Sau ông có ý ly khai Trung-quốc. Ông đang ở tuổi trẻ, không bệnh tật, (ông không hề bị huyết áp cao, đái đường cũng như mỡ cao trong máu), ông cũng bị đột quỵ, tai biến mạch máu não, rồi được Trung-quốc trị khỏi. Sau đo ít lâu, ông từ trần đột ngột khi ăn cơm tại một nhà hàng nhỏ ở ngoại ô Paris.

– Trong kỳ đại hội 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Thứ-trưởng Ngoại-giao, ông Đào Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương thức. Nhưng tôi không biết ai đã làm công việc đó.

– Gần đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam, tỵ nạn tại Pháp, từng dính dáng với nhóm Trương Như Tảng. Sau đó đã tỵ nạn lần thứ nhì sang Canada, năm trước đây (2000), nghe tin Bác-sĩ Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp. Ông lén từ Canada sang Paris gặp bà này, mưu kiếm ít xôi thịt từ Bắc-kinh. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.

Tôi chỉ cử mấy tỷ dụ, nếu tính tất cả những người Việt bị giết bằng phương pháp này, lên tới con số 37!

Ngắt đoạn 1,

Có 2 câu đánh số 1-2, hỏi về những nhân vật bị đầu độc, loại thuốc đầu độc. Không phổ biến.

Kính thưa Quý-vị,

Tuy tôi đã tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua (3-2001). Nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:

“Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt-Nam họ đã nộp lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc. Tôi cũng không vì lòng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm nay hoàn toàn vô tư”.

1. Những tranh chấp biến giới trong quá khứ

Trước hết tôi xin trình bày một vài nét về tranh chấp lãnh thổ Việt-Hoa trong quá khứ gần đây nhất:

– Trong thời gian từ 1010 đến 1225, dưới triều Lý, bên Trung-quốc là triều Tống. Đại-Việt là nước nhỏ, hằng năm phải tiến cống Trung-quốc một số sản vật tượng trưng: Voi, ngà voi, hương liệu, đôi khi một vài vật dụng bằng vàng, bạc. Trong thời gian trên, trước sau có 18 lần đụng độ, tranh chấp biên giới. Trong 18 lần đó, có sáu lần quân Việt vượt biên đánh sang Trung-quốc. Quan trọng nhất là cuộc tiến quân năm 1075-1076, quân Việt tiến tới vùng thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam hiện thời. Sau đó Trung-quốc mang 40 vạn quân và 50 vạn dân phu sang trả thù. Quân Trung-quốc đã tiến chiếm lãnh thổ Đại-Việt tới cách thủ đô Thăng-long (Hà-nội) có 25 cây số, rồi bị đánh bật về biên giới. (3)

Chú giải (3)

Về việc đánh Tống có sáu lần, thì trong đó có năm lần đánh sang lãnh thổ Trung-quốc và một lần kháng chiến chống quân Tống xâm-lăng.

1.1, Lần thứ nhất,

Năm 1022, do vua Lý Thái-tổ ban chỉ, Khai-Thiên vương tổng chỉ huy, đánh sang trại Như-hồng của Tống đốt kho đụn rồi rút về. Cuộc xuất chinh để trừng phạt quân Tống tại đây thường vượt biên sang trấn Triều-dương của Đại-Việt cướp bóc. Trấn Triều-dương nay thuộc tỉnh Hạ-long. Trại Như-hồng thuộc Quảng-Tây Nam-lộ. Đại-Việt toàn thắng. Cuộc chiến tranh có tính cách trừng phạt một khê-động. Tống triều im lặng.

1.2, Lần thứ nhì,

Năm 1028, tướng Tống là Lý Tự đem quân vượt biên, cướp phá trên lãnh thổ Việt. Việt ra quân đánh tràn sang châu Thất-nguyên của Tống. Cuộc ra quân do Khai-Quốc vương lãnh đạo, tổng chỉ huy là công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa và phò-mã Thân Thừa-Quý. Mục đích chiếm lại mấy châu động đã mất về Tống, do các biên thần Tống chủ trương. Giết chết Lý Tự. Toàn thắng. Cuộc chiến có tính cách tự vệ, dằn mặt các biên thần Quảng-Tây. Tống triều không chủ trương.

1.3, Lần thứ ba,

Dưới thời vua Thái-tông, do Khai-Quốc vương lãnh đạo (1053), mục đích chiếm lại lãnh thổ thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, bị người Hán chiếm mất (Nay thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Quý-châu, Hồ-Nam), rồi đẩy dân Việt về sống ở vùng Bắc-cương thành 207 trang-động. Cuộc khởi binh thành công, đưa Nùng Trí-Cao lên làm vua, lấy lãnh thổ vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu lập thành nước Đại-Nam. Cuộc ra quân này, đã tôi đã thuật chi tiết trong bộ Anh-linh thần võ tộc Việt. Nhưng khi Nùng Trí-Cao thành công, y lại trở mặt với Đại-Việt. Nên khi quân Tống đánh Cao, Đại-Việt không tiếp cứu, Cao bị bại. Cuộc chiến tranh có tính cách toàn diện. Đại-Việt không ra mặt khai chiến với Tống. Tống biết, nhưng không dám trả thù.

1.4, Lần thứ tư,

Cũng do Khai-Quốc vương lãnh đạo, diễn ra dưới thời vua Thánh-tông. Vùng tấn công là Khâm-châu. Người tổng chỉ huy là công-chúa Bình-Dương với phò mã Thân Thiệu-Thái (1059-1060). Mục đích cuộc Bắc phạt này là chiếm lại một số trang động do các bộ tộc thiểu số tự trị; bị Tống lấn chiếm, hoặc chiêu dụ các động chủ phản Việt, đem cả đất lẫn dân theo Tống. Sau khi chiếm lại các trang đã mất, trả đất cho các tộc bị mất, quân Việt tiến sâu vào vùng Tả-giang, Hữu-giang, chiếm hơn mười ải, giết nhiều tướng Tống. Tống cực kỳ phẫn uất, nhiều đại thần khuyên vua Tống Nhân-tông đem quân sang đánh Đại-Việt để trừng phạt; nhân đó chiếm nước đặt làm quận huyện. Ngặt vì bấy giờ phía Tây, Tống đang mắc họa với Hạ, phía Bắc thì Liêu chiếm đất, đòi cống vàng lụa; vả vua Tống cũng sợ binh hùng tướng mạnh của Đại-Việt, nên bàn hòa. Công-chúa Bình-Dương đòi nhiều điều kiện khắt khe mới chịu rút quân. Tống cũng phải nhượng. Thắng toàn diện. Chiến công oanh liệt trên thuật trong bộ Nam-quốc sơn-hà. Đến đây chiến cuộc leo thang. Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống, nhưng để cho công chúa Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái làm.

1.5, Lần thứ năm,

Diễn ra dưới thời vua Nhân-tông vào năm 1075, bấy giờ vua mới chín tuổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu phụ chính. Vua còn thơ, chư sự lớn nhỏ đều do Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định. Nguyên do: Vua Tống Thần-tông dùng những cải cách về kinh-tế, nông-nghiệp, binh-bị, tài-chánh của Vương An-Thạch từ năm 1066, đã được chín năm, khiến binh lực trở thành hùng hậu, quốc-sản sung túc. Nhà vua muốn nhân đó tiến quân lên Bắc đánh Liêu, chiếm lại đất cũ, để rửa nhục. Nhưng Vương An-Thạch lại khuyên nên đánh Đại-Việt trước. Sau khi bại Đại-Việt, thì Chiêm-thành, Chân-lạp, Ai-lao, Xiêm-la, Đại-lý phải quy hàng. Bấy giờ dùng nhân lực, tài lực sáu nước, đem lên Bắc, thì thắng Liêu dễ dàng. Vua nghe theo, bí mật cho các châu Nam biên luyện binh, tích trữ lương thảo. Cuộc chuẩn bị được ba năm, thì bị Đại-Việt biết được. Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định: Ngồi yên đợi giặc, sao bằng mình ra tay trước. Mục đích cuộc hành quân là phá hết các kho lương thảo, vũ khí, thành trì, cầu cống, diệt các đạo quân mới huấn luyện của Nam thùy Tống. Thế là cuộc Bắc phạt nổ ra vào cuối năm 1075. Quân Việt tiến đánh 18 ải dọc biên thùy Tống, rồi công phá các châu Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch, cùng diệt viện quân ở núi Đại-giáp (Nay thuộc lãnh thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam). Nhiệm vụ chu toàn rồi, quân Việt rút về. Thắng toàn diện. Đến đây Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống. Cả hai bên cùng đem toàn lực ra đối phó với nhau.

Cuộc ra quân của Việt lần này quá lớn lao, phá nát kế hoạch cải cách của Tống ở Giang-Nam. Quá uất hận, Tống chịu nhục; nhường Hạ ở phía Tây, cắt đất dâng cho Liêu ở phương Bắc… để cho rảnh tay, rồi họ mang quân nghiêng nước sang định chiếm Đại-Việt đặt làm quận huyện (1076-1077). Nhưng Tống lại bị thất bại phải rút quân về, và chịu hòa. Người có hùng tâm, tráng-chí, lãnh đạo là một thiếu phụ ở tuổi ba mươi, đó là Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan). Còn người Tổng chỉ huy cuộc vượt biên Bắc phạt là Lý Thường-Kiệt, Tôn Đản, Lý Hoằng-Chân, Lý Chiêu-Văn, Lý Kế-Nguyên. Tôi đã thuật trong bộ Nam-quốc sơn hà.

1.6, Lần thứ sáu,

Sau cuộc Bắc phạt, và giữa lúc cuộc kháng Tống của Đại-Việt, chiến cuộc đang diễn ra cực kỳ khốc liệt (1076), Vương An-Thạch bị cách chức Tể-tướng, giáng xuống tri Giang-ninh phủ, lĩnh Trấn-Nam quân tiết độ sứ, Đồng-bình chương-sự. Lúc Vương độ giang, bị một nhân sĩ bắt con sâu bỏ lên xe rồi làm bài thơ mỉa mai như sau:

Thanh-miêu, trợ-dịch lưỡng phương nông,
Thiên hạ ngao ngao oán tướng công.
Độc hữu hoàng trùng thiên cảm đức,
Hữu tùy xa giá, quá Giang-Đông.

Dịch :

Thanh-miêu trợ dịch hại canh nông,
Thiên hạ nhao nhao oán tướng công.
Chỉ có sâu vàng theo tiễn biệt,
Cùng trên xa giá, quá Giang-Đông.

Có người ví cái thất bại của Vương An-Thạch cũng đau đớn như cái thất bại của Hạng Võ xưa, khuyên Thạch nên tự tử:

Khi Hạng-Vương mưu đuổi hươu ở Trung-nguyên, bị thất bại, lui về Nam; lúc qua sông này tự cảm thấy xấu hổ, đã tự tử, mà hậu thế kính phục. Tôi khuyên ông cũng nên tự tử để lưu danh muôn thủa.

Nhưng Thạch không đủ can đảm.

Tiếc thay, một cuộc cải cách về kinh-tế, binh-bị, tài-chánh, xã-hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ; bị tan vỡ, bị hủy bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại-Việt của Vương An-Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung-quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung-quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng muôn đời mặt trời vẫn ở phương Đông, chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ thứ 18 cho đến nay và bao giờ..???…???

Sau cuộc ra quân của Đại-Việt, trên từ vua Tống Thần-tông cho tới các quan đều uất hận. Tống xuất quân nghiêng nước, 40 vạn binh, 50 vạn dân phu (phụ lực quân) sang đánh trả thù (1066-1067). Nhưng khi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ tiến đến cách Thăng-long 50 dặm (25 cây số) thì bị đánh bật về Bắc. Sau đó Tống rút quân chịu hòa.

Tuy Tống chịu hòa, nhưng còn giữ của Đại-Việt các châu Quảng-nguyên, Tô-mậu mà bọn động trưởng Lưu Kỷ, Vi Thủ-An đem cả dân lẫn đất theo Tống. Quan trọng nhất là châu Quảng-nguyên có mỏ vàng. Năm 1078, Việt sai sứ sang Tống đòi đất. Tống không trả. Mãi năm 1081, Việt trả tù binh trong trận 1075-1077, Tống mới trả châu Quảng-nguyên. Năm 1084, Việt sai Binh-bộ thị-lang Lê Văn Thịnh (Thị lang tương đương với ngày nay là một giám-đốc) nghị hòa với các đại thần Tống, Tống chịu trả cho Việt thêm 6 huyện, 3 động. Việt tặng Tống con voi lớn. Danh sĩ Trung-quốc nhân chuyện này làm thơ than:

Nhân tham Giao-chỉ tượng,
Khước thất Quảng-nguyên kim.

(Vì tham voi Giao-chỉ, Chịu mất vàng Quảng-nguyên).

Hết chú giải 3

2. Vụ nhượng đất duy nhất trong lịch sử

- Trong suốt thời gian từ 1010 đến 1539, ngoại giao Việt-Hoa khi đẹp, khi xấu. Hai bên xẩy ra nhiều cuộc chiến, chính sự Đại-Việt khi thịnh, khi suy, nhưng phía Việt chỉ chịu cống Trung-quốc một số sản phẩm tượng trưng, chứ không bao giờ nhượng đất, nhượng dân.

- Cho đến năm 1540, giặc Mạc Đăng-Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Minh sai tướng Mao Bá Ôn, Cừu Loan đem 22 vạn quân tới biên giới lấy lý do Hưng diệt kế tuyệt (trung hưng triều Lê bị diệt, dựng lại dòng họ Lê bị tuyệt). Mạc Đăng-Dung đem một số tùy tùng lên ải Nam-quan, tự trói mình sang Trung-quốc, quỳ lạy các tướng Minh, xin đầu hàng, chịu lệ thuộc Minh, dâng nộp sổ sách về đất đai, quân dân, quan chức. Lại cũng dâng các động Tê-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, An-lương, La-phù. Đây là lần duy nhất trong lịch sử Việt, mà bọn Mạc cắt đất cho Trung-quốc. Suốt từ năm 1540 cho đến nay, sử sách, cùng tất cả người Việt đều nguyền rủa Mạc Đăng-Dung bằng tất cả những lời lẽ nặng nề nhất. Tuy Mạc dâng đất cho Trung-quốc, nhưng vẫn giữ lại cửa ải Nam-quan, làm ranh giới giữa Hoa-Việt. (4)

Chú giải (4)

Về vụ việc này sách Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), phần Chính-biên, quyển 27 chép:

Canh Tý, năm thứ 8 (1540). (Mạc, năm Đại-Chính thứ… Minh, năm Gia-Tĩnh thứ 19)

Tháng 11, mùa đông, Mao Bá Ôn nhà Minh đóng quân ở ngoài cửa ải. Mạc Đăng-Dung đến cửa quân tướng Minh, xin hàng và đem đất 5 động hối lộ nhà Minh.

Trước kia, tướng Minh là bọn Cừu Loan và Mao Bá-Ôn đã đến Quảng-tây, trưng tập các lang binh của thổ quan ở các tỉnh Lưỡng-Quảng, Phúc-kiến và Hồ-quảng. Lại truyền hịch đi Vân-nam sai tập họp binh lính, để chờ đợi nhật kỳ xuất quân.

Bọn Cừu Loan lại bàn:

“Chia chính binh làm ba đội tiểu binh, từ Quảng-tây đi các xứ Bằng-tường, Long-châu và Tư-minh.

Chia kỳ-binh làm hai toán tiểu binh: Toán xuất phát từ châu Quy-thuận gọi là Sơn-tiểu, toán xuất phát từ núi Ô-lôi gọi là Hải-tiểu.

Kể cả chính binh và kỳ binh trên đây cộng 22 (ChbXXVII, 32) vạn người.

Lại chia quân Vân-nam ở ghềnh Liên-hoa làm ba toán Tiểu binh, mỗi toán gồm 21.000 người. Tất cả đều lên đường đồng thời xuất phát”.

Lại truyền hịch sang ta dụ bảo về nghĩa phục hưng nước đã mất, nối lại dòng họ đã tuyệt, sự đánh dẹp chỉ nhằm một mình cha con Đăng Dung là kẻ có tội; còn ai biết đem quận huyện nào ra hàng, thì liền được trao cho chức quan ở quận huyện ấy để cai quản. Ai bắt hay chém cha con Đăng Dung mà ra hàng, thì cứ tính theo từng tên tội nhân một, mỗi tên là được thưởng 2 vạn nén vàng và được cho làm quan đến phẩm trật cao sang.

Tướng Minh lại dụ bảo cha con Đăng Dung nếu tự trói nộp mình đợi tội, thành khẩn dâng hết các sổ sách về đất đai và nhân dân thì được tha cho tội chết.

Bọn Bá-Ôn đóng quân dựng đồn ở gần nơi biên giới.

Bấy giờ Đăng Doanh chết rồi, Đăng Dung được tin, cả sợ, sai sứ giả đến cửa quân tướng Minh, trần tình, nguyện xin ra khỏi bờ cõi, đầu hàng, và kính cẩn vâng theo lịnh trên phân xử.

Lời lẽ của Đăng Dung rất là khiêm nhún, thiết tha. Bọn Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh, ưng thuận, hẹn đến mồng 3 tháng 11 cho Đăng Dung sang làm lễ đ?u hàng.

Bọn Bá-Ôn thiết lập MaÏc-phủ và tướng-đài ở Nam-quan chờ đợi. Đến kỳ đã định, Đăng Dung để Phúc-Hải ở lại coi giữ việc nước, còn mình cùng với người cháu là Văn Minh cùng bè đảng là bọn Vũ Như-Quế hơn 40 người do đường Nam-quan đi sang: ai nấy buộc dây thao vào cổ , đi chân không, gieo mình vào nơi Mạc-phủ tướng Minh, khúm núm, phủ phục, khấu đầu lạy, dâng tờ biểu xin hàng, nộp trình sổ sách, đất đai và nhân dân do mình cai quản.

Đăng-Dung lại xin dâng đất các động Tỳ-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, La-phù, An-lương thuộc châu (ChbXXVII, 33) Vĩnh-an ở Yên-quảng để lệ thuộc vào Khâm-châu nhà Minh. Lại xin nhà Minh ban cho chính sóc và ấn chương đã ban từ trước để Đăng Dung coi giữ việc nước trong khi chờ đợi mệnh lệnh có thay đổi hoặc quyết định ra sao.

Bọn Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh dụ bảo Đăng Dung hãy cho đái tội, về nước, chờ đợi mệnh lệnh phân xử sau.

Đăng-Dung lại sai Văn Minh và Nguyễn Văn Thái đem tờ hàng biểu sang Yên-kinh.

Lời cẩn án – Sử cũ chép đầu hàng nhà Minh, xin nộp các động Ty-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, La-phù và An-lương thuộc châu Vĩnh-an ở (ChbXXVII, 34) Yên-quảng cho lệ thuộc vào Khâm-châu. Nay xét Khâm-châu chí của nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia-Tĩnh (1522-1566), Đăng Dung nộp trả năm động Ty-phù, La-phù, Cổ-sâm, Liễu-cát và Kim-lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến động An-lương. Lại tra cứu đến Quảng-yên sách thì thấy động An-lương hiện nay là phố An-lương thuộc châu Vạn-ninh nước ta. Có lẽ về động An-lương, Đăng Dung chưa từng dâng nộp, mà chỉ là do sử cũ chép sai sự thật đó chăng?

Lại xét – Trong năm Mạc Minh-Đức thứ 2, tức là năm Minh Gia-Tĩnh thứ 7 (1528), sử cũ chép Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội, bèn tính chuyện cắt đất đem dâng hai châu Quy, Thuận: vua Minh nhận. Từ đó, Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu. Nhưng, nay tra cứu bản đồ nước ta thì có Quy-hóa châu và Thuận-châu. Hai châu này hiện nay thuộc tỉnh Hưng-hóa. Trong Đại-Thanh nhất thống chí tuy có chép châu Quy-thuận nguyên thuộc phủ Trấn-an tỉnh Quảng-tây nhà Thanh đấy thật, nhưng hai châu mà sử cũ gọi là Quy, Thuận có lẽ tức là Quy-hóa và Thuận-châu đó thôi.

Lại xét – Minh sử thông giám kỷ sự: hồi năm Mạc Đại-Chính thứ 9 (1538), Mạc Đăng-Dung được tin quân Minh sang đánh, cả sợ, sai sứ xin hàng, nói dối là họ Lê không có người kế tự, cha con Đăng-Dung có công với nước, được mọi người suy tôn. Còn Đăng-Dung sở dĩ không dâng được biểu chương, cho sứ sang tiến cống, là chỉ vì trước kia bị Trần Cung chiếm cứ Lạng-sơn làm nghẽn đường, đến sau lại bị quan giữ biên cương đóng cửa ải, không tiếp nhận.

Nay, từ năm Gia-Tĩnh thứ 7 (1528) đến năm thứ 17 (1538) trải hàng 10 năm chưa từng có sứ đi thông hiếu, thế mà sử cũ ở năm Gia-tĩnh thứ 7, đã vội chép rằng: “Đăng-Dung tính chuyện cắt đất dâng nộp hai châu Quy, Thuận, từ đó Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu”. Về việc này, những điểm sử cũ chép đó đều xa sự thực, nên nay rút bới đi mà chép phụ vào đây để tham khảo.

(KHĐVSTGCM, bản dịch của viện Sử-học Việt-Nam, NXB Giáo-dục, 1998, trg. 113-117)

Hết chú giải (4)

Hình chụp tháng 8-2001, trên núi Tô-thị, thành nhà Mạc con lưu di tích

Nhờ dâng đất, được Minh triều bao che, con cháu Mạc Đăng-Dung còn cát cứ vùng biên giới Cao-bằng, Lạng-sơn một thời gian. Chiếu Vidéo trong 5 phút về núi Tô Thị tại Lạng-sơn.

Tượng nàng Tô-thị tại quận Đồng-đăng, tỉnh Lạng-sơn, ghi lại di tích người chinh phụ bế con chờ chồng, rồi hóa đá. Hồi Tổng bí-thư Lê Duẩn cầm quyền, để xóa bỏ văn hóa tộc Việt, phát huy văn hóa Mác-xít, tượng bị đem nung làm vôi. Hình chụp tượng mới tạc lại.

Ca dao có bài hát:

Con cò bay lả bay la,
Bay ra ruộng lúa, bay vào Đồng-đăng,
Đồng-đăng có phố Kỳ-lừa,
Có nàng Tô-thị, có chùa Tam-thanh,
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.

Không phải chùa Tam-thanh mà là động Tam-thanh. Hồi 1979, Hồng-quân sang “dạy” Việt-Nam bài học, đã san bằng Lạng-sơn. Chưa hả giận, họ còn dùng đại pháo bắn phá động Tam-thanh. Cửa động trước ở chỗ cột cờ, với hàng trăm bài thơ lưu niệm của danh sĩ Việt. Nay cửa động bị phá, cửa động mới tụt lùi vào trong.

Ngắt đoạn 2, không có câu hỏi nào.

Kính thưa Quý-vị,

Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay, về việc:

- Đảng Lao-động Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa (VNDCCH, 1945-1975).
- Đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001) nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc gọi tắt là Trung-quốc.

3. Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quốc,

3.1, Kết quả của văn kiện 14-9-1958

Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lãnh hải 12 hải lý kể từ đất liền của họ, có đính kèm bản đồ rất rõ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Bắc Cao (Cộng-hòa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội trao, Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng tuân lệnh Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý Quốc-vụ viện Trung-quốc Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1):

“Chính-phủ nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa tôn trọng quyết định ấy, và sẽ chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa trên mặt biển”.

Ngắt đoạn 3,

Cử tọa thắc mắc, câu hỏi 3:

Ngoài bản văn này, liệu chúng ta có thể tìm lại một vài chi tiết khác không?

Gs. TĐS:

Thưa Ngài nhiều lắm, nhưng tôi chỉ xin cử vài tài liệu mà thôi:

1, Bản tin UPI-AFP ngày 23-9-1958 .

2, Vụ việc này báo chí Việt-Hoa đều có đăng tải ngày 23-9-1958, Quý-vị có thể tìm tại thư viện Paris, London và cả một số thư viện Trung-quốc (Bắc-kinh), Việt-Nam (Hà-nội). Nội dung UPI- AFP đều đánh đi đại lược:

“Ngày 22 tháng 9 năm 1958, Đại-sứ của VNDCCH tại Trung-quốc là ông Nguyễn Khang, đã trao công hàm cho ông Cơ Bằng Phi, Thứ-trưởng Bộ Ngoại-giao Trung-quốc. Nội dung như sau:

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung-quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển”.

3, Tháng 5 năm 1976 (chúng tôi quên ghi ngày), nhật báo Sài-gòn Giải-phóng, cơ quan ngôn luận của Thành-ủy Thành phố Hồ Chí Minh viết một bài xác nhận quần đảo Hoàng-sa, thuộc Trung-quốc. Nguyên văn có câu:

“Trung-quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là ông thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng-sa thuộc Trung-quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Trung-quốc với là hai nước sông liền sông, núi liền núi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này, Trung-quốc sẽ sẵn sàng giao lại”.

4, Sau trận hải chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988 với Trung-quốc, cơ quan ngôn luận chính thức của đ?ng Cộng-sản Việt-Nam, tờ Nhân-dân, số ra ngày 26 tháng 4 năm 1988, tự biện hộ về việc nộp lãnh hải của Bộ Chính-trị thời Hồ Chí Minh như sau:

“Đúng là có những lời tuyên bố đó. Cần phải đặt lại những lời tuyên bố này trong bối cảnh lịch sử của nó…Trong cuộc chiến đấu một mất một còn, chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân sự lớn hơn mình nhiều, Việt-Nam tranh thủ được Trung-quốc gắn chặt với cục chiến đấu của Việt Nam càng nhiều bao nhiêu và ngăn chận Mỹ sử dụng hai quần đảo cũng như vùng biển Đông chống lại Việt-Nam, thì càng tốt bấy nhiêu”.

Kính thưa Quý-vị, tôi xin tiếp tục,

Theo bản tuyên bố này thì những nước liên hệ là :

- Trung-hoa Dân-quốc (Đài-loan),
- Nhật-bản,
- Hoa-kỳ (hạm đội 7),
- Phi-luật-tân,
- Mã-lai,
- Brunei,
- Indonésia,
- VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH).

Thế nhưng từ hồi đó đến nay các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á-châu Thái-bình-dương (ACTBD) không hề để ý đến văn thư trên. Ngay VNCH, bấy giờ cơ quan tình báo được gọi là Sở Nghiên-cứu Chính-trị và Xã-hội, được chỉ đạo bới một trí thức siêu việt, đào tạo tại Pháp là ông Ngô Đình Nhu, mà cũng không để ý tới. Vì đọc bản tuyên bố lãnh hải kể từ đất liền, là 12 hải lý, đúng theo công ước Liên-hiệp quốc họp tại San Francisco năm 1951, thì có chi bận tâm?

Vì sao một người tinh minh, mẫn cán như ông Ngô Đình Nhu mà cũng bị sơ sót?

Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung-quốc, rồi cũng được các báo Trung-quốc đăng lại, mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giới (kể cả Hoa-kỳ, Trung Hoa Dân Quốc, VNCH) cứ nhìn trên bản đồ Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh hải từ 1887 mà cho rằng: theo Quốc-tế công pháp thì lãnh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lý, kể từ thềm lục địa. Vụ Trung-quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của họ là một sự bình thường. Cái tưởng lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người chống đối vụ nhường đất cho Trung-quốc ở trong nội địa Việt-Nam, cũng như hải ngoại chỉ kết tội vu vơ, không rõ ràng, không chứng cớ vì nguyên do không bản đồ này.

Do kết quả không có bản đồ đính kèm của Trung-quốc tuyên bố lãnh hải của họ (gần như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công nhận), nên suốt thời gian 1958-2001:

- Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lãnh hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung-quốc, mà Trung-quốc vẫn ngậm bồ hòn.

- Chiến hạm của Pháp, Đức, Ý cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu vớt người Việt trốn chạy trong vùng, mà Trung-quốc đành im lặng.

Hôm nay tôi cần phải trình bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ.

Kính thưa Quý-vị,

3.2. Những bí ẩn

Cái bí ẩn đó không có gì lạ cả, rất rõ ràng, rất chi tiết.

- Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung-quốc, họ cứ nhìn vào bản đồ đã phân định từ 1887, giữa Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nhìn bản đồ của các nước vùng Nam-hải, của Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ, rồi cho rằng lãnh hải 12 hải lý thì đúng công ước quốc tế.

Nhưng nếu họ có bản đồ về lãnh thổ đính kèm bản tuyên bố thì họ sẽ toát mồ hôi ra. Vì bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính lãnh hải 12 hải lý, tính từ các đảo này thì:

- Lãnh hải Trung-quốc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt miền Trung, Bắc Việt-Nam.
- Phía Đông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Brunei,
- Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-lai.

Trở lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị ấy có bản tuyên bố lãnh hải của Trung-quốc, thìï cũng có bản đồ chi tiết. Nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó thì có nghĩa rằng:

Họ đồng ý nhường cho Trung-quốc toàn bộ:

- Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.
- Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lý, nghĩa là toàn bộ biển Nam-hải.

Bản đồ tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Trung-quốc ngày 4-9-1958. Theo bản đồ này thì lãnh hải của họ chiếm hết biển Nam-hải, cách Phan-thiết, Quảng-Nam Mã-lai, Phi-luật-tân có 50 hải lý. Quyết định này được đảng Cộng-sản VN tán thành.

Kính thưa Quý-vị,

3.3, Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa)

Từ trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng:

- Tại sao năm 1974, thình lình Trung-quốc đem quân đánh quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH. Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị thiệt hại gấp ba VNCH (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quốc). Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ. Trong khi Trung-quốc có hỏa tiễn địa-địa, chiến hạm lớn đông gấp bội VNCH. VNCH lại đang có nội chiến, phải đương đầu với quân đội VNDCCH, vì vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa. Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiến tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiếng bênh vực VNCH? Ngay việc thủy thủ VN, tầu bị chìm, mà hạm đội 7 cũng không vớt theo luật hàng hải Quốc-tế.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 4:

- Xin Gs cho biết trong trận hải chiến này, phía Trung-quốc, VNCH, bên nào nổ súng trước?

Gs TĐS:

- Thưa VNCH. Hải-quân VNCH rất thiện chiến, tác xạ rất chính xác, các sĩ quan đều được huấn luyện theo tiêu chuẩn Âu-Mỹ, thêm kinh nghiệm VN. Ngay loạt đạn đầu tiên khiến 4 hạm trưởng Trung-quốc tử trận.

Tôi xin trở lại đầu đề:

Vì:

Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quốc (Mao Trạch Đông). Phía Trung-quốc trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lãnh hải 4-9-1958 cùng bản đồ. Ông Kissinger đã công nhận bản tuyên bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc hai ngày, thì ngày 11 tháng 1 năm 1974, Trung-quốc tuyên bố hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa) là của Trung-quốc, rồi Trung-quốc đem hạm đội xuống Hoàng-sa. Bấy giờ Hoàng-sa do VNCH trấn đóng.

Vì:

Văn thư của ông Phạm Văn-Đồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc chiếm Hoàng-sa chỉ là việc chiếm lại lãnh thổ được văn thư 14-9-1958 công nhận. Nghĩa là Trung-quốc chiếm lại lãnh thổ đã bị VNCH xâm lăng 16 năm.

Ngắt đoạn 4,

Cử tọa hỏi, câu hỏi 5, cấm phổ biến.

Về nguồn gốc tài liệu cuộc mật đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Đông và Cố-vấn Kissinger. Gs Trần trình bày chi tiết. Toàn bộ cử tọa chấp nhận; nhưng chúng tôi bị cấm không được phổ biến.

Sau khi Gs Trần trình bầy, một trong ba vị chủ tọa phát biểu:

Tôi xin bổ túc những gì Gs Trần lướt qua. Bấy giờ (1974) là thời điểm chiến tranh Đông-dương đang diễn ra cực kỳ sôi động, mà tình hình giữa Liên-sô với Trung-quốc cũng căng thẳng cực kỳ. Qua những cuộc mật đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Đông với Cố-vấn Kissinger; Trung-quốc, Hoa-kỳ đã đi đến những thỏa thuận quan trọng. Rồi Tổng-thống Richard Nixon thăm Trung-quốc.

Chúng ta đều biết sự hiện diện, của Hoa-kỳ tại Đông-dương là ngăn chặn hai mũi dùi Cộng-sản từ Afghanistan, Đông-dương nối với nhau. Bây giờ Hoa-kỳ biết chắc Trung-quốc, Liên-sô không thể hàn gắn lại, khối Cộng bị vỡ làm nhiều mảnh. Vì vậy sự hiện diện của Hoa-kỳ trở thành vô ích, vừa tốn tiền, vừa tốn máu. Cho nên họ muốn rút ra khỏi Đông-dương, dùng Đông-dương làm bình xăng tưới vào ngọn lửa đang thiêu đốt căn nhà ngoại giao Trung-Sô.

Chìa khóa của Đông-dương là Việt-Nam. Mà tại Việt-Nam, mọi quyết định do Bộ Chính-trị. Chủ-tịch Hồ Chí Minh chết 5 năm rồi, vấn đề tranh quyền đã ngã ngũ, phe chạy theo Liên-sô Lê Duẩn, Lê Đức Thọ thắng thế. Trung-quốc biết rất rõ. Suốt bao năm Trung-quốc cưu mang cho Bắc VN, nay bỗng dưng Trung-quốc mất hết, chỉ còn tay trắng ư? Trung-quốc phải kiềm chế Bắc VN. Thế nhưng Trung-quốc muốn kiềm chế mà không được. Mao tìm cách nắm Cambodge mà bấy giờ Cambodge còn nằm trong tay Bắc VN. Vì vậy Trung-quốc muốn tìm cách dùng Nam VN (VNCH) làm bức tường cản Bắc Việt-Nam (VNDCCH). Trung-quốc tìm cách gần Nam VN bằng hai ngả:

Ngả thứ nhất: Mật sứ của Trung-quốc tại Londre gặp Đại-sứ Nam VN (VNCH) ngỏ ý cho biết Hoa-kỳ đang muốn trao VNCH cho Bắc VN. Nếu VNCH muốn, Trung-quốc sẽ giúp như sau: Mặt Bắc, chặn con đường tiếp tế từ đường bộ Liên-sô qua lãnh thổ Trung-quốc. Trung-quốc đem đại quân ép Bắc biên. Mặt Nam tiếp tế vũ khí cho VNCH. Như vậy bắt buộc Bắc VN phải rút quân về.

Ngả thứ nhì, Trung-quốc qua mấy nhân vật trí thức VN trong Phong Trào Liên Bang Đông Nam Á (hội tư luật 1901) tại Paris, trực tiếp nói cho Tổng-thống, và Bộ Ngoại-giao VNCH biết rằng: Việc Hồng-quân tiến xuống Trường-sa chỉ là cái cớ để Trung-quốc với VNCH ngồi vào bàn hội nghị. Nhưng không rõ VNCH quan niệm ra sao, mà lại khai hỏa trước.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 6:

- Hồi đầu năm 1974, tôi có đọc trên một tờ báo Anh-ngữ xuất bản tại Hương-cảng tường thuật về trận đánh giữa VN (VNCH) và Trung-quốc ngày 19-1-1974 trong vùng quần đảo Hoàng-sa. Giáo-sư có thể cho biết: Lực lượng tham chiến của hai bên ra sao? (Người đặt câu hỏi nguyên là Đô-đốc)

Gs TĐS:

- Thưa Ngài tôi xin chiếu lên màn ảnh để Ngài thấy.

Về phía VNCH:

1. Lực lượng tham chiến:

4 chiến hạm:

- Khu trục hạm Trần Khánh Dư, ký số HQ4, hạm trưởng là Trung-tá Vũ Hữu San.

- Tuần dương hạm Trần Bình Trọng, ký số HQ5, hạm trưởng là Trung-tá Phạm Trọng Quỳnh.

- Hộ tống hạm Nhật-tảo, ký số 10, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Văn Thà. Khi chiến hạm hỏng máy, bị chìm, trong khi tất cả thủy thủ đoàn xuống xuồng chạy, thì ông cương quyết ở lại, chết với tầu của mình. Tuẫn quốc.

- Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, ký số HQ16, hạm trưởng là Trung-tá Lê Văn Thự.

2. Lực lượng trừ bị:

- Tuần dương hạm Trần Quốc Toản, ký số HQ6,

- Hộ tống hạm Chí-linh, ký số HQ11

- Không quân: Phi -đoàn F5-A37.

Nhưng lực lượng trừ bị Hải-quân ở quá xa chưa kịp can thiệp thì trận chiến đã kết thúc. Không quân thuộc Quân-khu I, không can thiệp. Vì vậy sau trận đánh, Tư-lệnh Hải-quân ra lệnh cho các sĩ quan tham dự, không thuyết trình cho Tư lệnh quân khu I là tướng Ngô Quang Trưởng.

Về phía Trung-quốc:

1. Lực lượng tham chiến:

14 chiến hạm:

- Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 271, hạm trưởng là Đại-tá Vương Kỳ Uy, tử thương.

- Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 274, hạm trưởng là Đại-tá Quan Đức, tử thương. Đây là soái hạm của chiến dịch. Tư lệnh mặt trận là Đô-đốc Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó hạm đội Nam-hải của Trung-quốc với bộ tham mưu đi trên chiến hạm này. Khoảng giữa trận chiến, ông cùng bộ tham mưu tử thương (1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy).

- Trục lôi hạm, ký số 389, hạm trưởng là Trung-tá Triệu Quát, tử thương.

- Trục lôi hạm, ký số 396, hạm trưởng là Đại-tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.

- Phi tiễn đỉnh Komar 133, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx hạm trưởng là Thiếu-tá Tôn Quân Anh.

- Phi tiễn đỉnh Komar 137, trang bị hỏa tiễn đĩa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Mạc Quang Đại.

- Phi tiễn đỉnh Komar 139, trang bị hỏa tiễn địa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Tạ Quỳ.

- Phi tiễn đỉnh Komar 145, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Như.

- 6 Hải vận hạm chở quân.

2. Lực lượng trừ bị:

- 2 Tuần dương hạm.

- 4 Pháo-hạm.

- 4 Khu trục hạm trang bị hỏa tiễn Kianjiang.

- 2 Phi đội MIG 19.

- 2 phi đội MIG 21.

Do chính Đô-đốc Tư-lệnh hạm đội Nam-hải chỉ huy. Chúng tôi không biết tên ông.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 7:

- Tổn thất 2 bên ra sao? (Vẫn vị cựu Đô-đốc trên)

Gs TĐS:

- Xin mời ngài xem bảng so sánh, tôi chiếu lên.

Về phía VNCH,

- 3 chiến hạm bị thương (HQ 4-5-16 bị thương nhẹ, rút về Đà-nẵng, sau khi sửa chữa, lại hoạt động như cũ.

- HQ10 bị chìm.

- Một hạm trưởng tử thương.

Về phía Trung-quốc,

- Tư lệnh mặt trận, bộ tham mưu (1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy) và 4 hạm trưởng tử thương,

- Hộ tống hạm 274 bị chìm.

- Hộ tống hạm 271, hai trục lôi hạm 389-396 bị hư hại nặng phải ủi bãi, sau đó phải phá hủy.

- 4 ngư thuyền chở quân bị chìm.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 8:

Cấm phổ biến: Nội dung về nguồn gốc tài liệu tổn thất về phía Trung-quốc.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 9:

- Tôi nghe Hoa-kỳ trang bị cho VN (VNCH) những vũ khí, cũng như chiến hạm tối tân nhất. Trong khi Giáo-sư chiếu hình 4 chiến hạm tham chiến đều thuộc loại hạ thủy vào thập niên 1940, quá cũ kỹ. Vũ khí cũng vậy. Tại sao VN (VNCH) không đem những chiến hạm, vũ khí tối tân ra tham chiến? (Người đặt câu hỏi nguyên là kỹ sư hàng hải).

Gs TĐS:

- Thưa quả đúng như Ngài nhận xét. Tất cả chiến hạm Hoa-kỳ viện trợ cho VNCH đều thuộc loại phế thải. Thay vì Hoa-kỳ phá hủy, họ tân trang lại rồi trao cho VN. Bốn chiến hạm tham dự trận đánh đều là những chiến hạm tốt nhất mà VN nhận được. HQ4 hạ thủy năm 1943. (Cử tọa bật cười). HQ5 hạ thủy năm 1944. HQ10 hạ thủy năm 1942. HQ 16 hạ thủy năm 1942. Còn vũ khí, cũng có chiến hạm trang bị loại đại bác bắn liên thanh. Nhưng khi trao cho VN thì Hoa-kỳ tháo đi. Dường như Hoa-kỳ đoán trước có cuộc hải chiến này, nên một chiến hạm trang bị loại đại bác trên, tuy đã trao cho VNCH, nhưng bị tháo đi trước đó mấy tháng. Bằng không phía Trung-quốc bị thiệt hại còn nặng hơn nhiều.

Quý vị có biết không? Hộ tống hạm ký số HQ10, giữa trận đánh, máy bị hỏng, do cũ quá chứ không phải bị trúng đạn, vì vậy không di chuyển được, làm bia lĩnh đạn, sau đó bị chìm.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 10:

- Trong quá khứ, giữa VN với Trung-quốc đã xẩy ra những trận thủy chiến nào? Kết quả ra sao? (Người hỏi nguyên là giáo sư sử Đông-Á)

Gs TĐS:

- Thưa Ngài trong lịch sử 5000 năm của Hoa-Việt, chiến tranh liên miên. Về bộ chiến, kị chiến thì cả hai bên khi khi thắng khi bại. Duy thủy chiến, bao giờ Việt cũng thắng.

Cử tọa hỏi câu hỏi 11:

- Xin cho biết những trận nào?

Gs TĐS:

- Trận cổ nhất vào năm 42 sau Tây-lịch. Chiến địa xẩy ra ngoài biển Đông. Đô-đốc Trung-quốc là Đoàn Chí. Đô-đốc Việt là Trần Quốc, một nữ tướng. (Cử tọa ồ lên). Kết quả hạm đội Trung-quốc bị đánh chìm hết. Đoàn Chí bị giết.

- Hồi đó người Việt theo chế độ mẫu hệ ư?

- Thưa không. Nhưng vị Hoàng-đế cai trị là một phụ nữ. Trong suốt năm nghìn năm lịch sử, đời nào VN cũng có những nữ tướng kiệt hiệt.

- Hiện có còn chứng tích nào về vị nữ Đô-đốc này không?

- Nếu Ngài du lịch VN, xin tới Hà-nội, thuê xe, bảo tài xế đưa đến làng Hoàng-xá, xã Kiêu-kỵ, huyện Gia-lâm là nơi có đền thờ bà. Tôi xin chiếu vidéo về đền thờ này. (chiếu vidéo 5 phút).

- Thưa Ngài trận thứ nhì do Vua Ngô (938), trận thứ ba do vua Lê (981), trận thứ tư do Hưng Đạo vương (1288). Cả ba trận sau đều diễn ra trên sông Bạch-đằng, Trung-quốc đều bị bại. Trận 1288 là trận khủng khiếp nhất, bên Trung-quốc do vua Mông-cổ là Hốt Tất Liệt chỉ đạo. Kể từ đó cho đến năm 1974, mới có trận Hoàng-sa.

Đền thờ công chúa Gia-hưng Trần Quốc, đại đô đốc thời Lĩnh-Nam (vua Trưng), tại làng Hoàng-xá, xã Kiêu-kỵ, huyện Gia-lâm, Hà-nội. Bốn chữ đại tự trên là VẠN CỔ ANH PHONG. Có 3 câu đối ở mặt tiền, câu thứ 2 nói lên huân nghiệp của ngài:

Tô khấu tước bình trực bả quần thoa đương kiếm kích,

Trưng vương dực tải hảo tương cân quắc hộ sơn hà.

(Bình giặc Tô Định, đem quần thoa, chống với kiếm kích. Phò Trưng vương, đem khăn yếm giữ non sông)

Đền Kiếp-bạc, thờ Hưng Đạo vương. Bốn chữ đại tự trên là: DỮ THIÊN VÔ CỰC. Bốn chữ dưới là TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG TỪ.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 12:

- Xin cho biết lực lượng hải quân Trung-quốc và Việt-Nam hiện giờ?

Gs TĐS:

- Trình bày chi tiết, cử tọa chấp nhận. Nhưng chúng tôi bị cấm không được phổ biến.

Tôi xin trở lại với bài điều trần:

- Cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-quốc (Đài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thế sao hải quân Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến 14 tháng 3 năm 1988. Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ?

Nay tôi xin thưa:

Do văn thư của ông Phạm Văn-Đồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc.

Lập luận phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng đã công nhận vùng này là lãnh hải Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam còn hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam xâm phạm lãnh thổ Trung-quốc. Quân đội Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Đài-loan đóng tại đây, mà Trung-quốc không tấn công vì quân Đài-loan thì cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc. Còn Phi, Mã-lai với Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo này chưa ngã ngũ; thì quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quốc không thể tấn công họ, vì như vậy là Trung-quốc ỷ lớn hiếp nhỏ.

Đối với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải quyết bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì lý do này mà Trung-quốc chỉ chấp nhận đàm phán về vùng đảo với từng nước, mà không chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên hệ. Có nghĩa họ gạt Việt-Nam ra ngoài, vì Việt-Nam đã công nhận các đảo này là của Trung-quốc.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 13:

- Giáo-sư có thể cho biết chi tiết về trận đánh ngày 14-3-1988 không? Tổn thất hai bên như thế nào?

Gs TĐS:

- Về phía Trung-quốc dường như không có ai tử thương. Cũng không có chiến hạm nào bị chìm. Về phía VN, thì:

- 1 Chiến hạm Thượng-hải do Trung-quốc viện trợ cho trước đây, bị chìm.

- 1 Tuần dương hạm của VNCH để lại, bị chìm.

- 1 Một hải vận hạm do Nga-sô viện trợ bị chìm.

- Nhân mạng khoảng trên 300 chết.

Kính thưa Quý-vị,

Tôi xin trở lại phần điều trần.

3.4, Về hoàn cảnh Mạc Đăng-Dung năm 1540

Ta có thể hiểu tại sao giặc Mạc lại làm công việc táng tận lương tâm, ô danh bậc nhất cổ kim trong lịch sử tộc Việt ấy. Vì:

- Bấy giờ tuy Dung và con cháu đang cai trị Đại-Việt. Nhưng tại Thanh-hóa con cháu nhà Lê đã thiết lập triều đình mới, đang tiến quân về Thăng-long.

- Phía Bắc bị 22 vạn quân Minh dàn ra định tràn xuống đánh. Vì tính mạng bản thân và gia đình, họ hàng bị đe dọa, nên Mạc Đăng-Dung phải đầu hàng Minh triều, rồi cắt đất dâng cho Minh.

3.5, Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm 1958, và chính phủ VNDCCH

Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:

- Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc, giặc Mạc Đăng-Dung bị lịch sử Việt-Nam kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền rủa bọn Mạc.

- Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng đất của mình sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau. VNDCCH không có ngoại thù.

- Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH. Không có áp lực ngoại xâm.

- Năm 1958, là lúc thịnh thời nhất của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, của Đại-tướng Võ Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt-Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất, 246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng Lao-động (Cộng-sản), dân chúng… bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng. Không còn kẻ nội thụ

- Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội VNCH là Việt-gian, là Ngụy. Họ phải hết sức giữ gìn để khỏi mất chính nghĩa.

- Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm của tộc Việt?

- Bàn về việc ký thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông qua Quốc-hội. Bấy giờ VNDCCH cũng có Quốc-hội. Nhưng Quốc-hội không được hỏi đến, không được bàn đến và nhất là không được thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.

3.6, Một câu hỏi được đặt ra:

Vậy thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng lãnh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng?

Cho đến nay, tôi cũng không tìm ra lý do thỏa đáng.

Tôi không tìm ra vì:

- Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định nhượng lãnh hải, đều đã từ trần. Các vị trong nội các Phạm Văn-Đồng hồi ấy, không biết nay có ai còn sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằng Đại-tướng Võ Nguyên-Giáp, vừa là Bộ-trưởng bộ Quốc-phòng, vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn tại thế. Đại-tướng là người có học thức cao nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành của Đại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm Văn-Đồng ký văn kiện này Đại-tướng phải biết. Nay Đại-tướng đang đi vào những ngày cuối cùng của đời người. Nếu sĩ khí, dũng khí của Đại-tướng còn, xin Đại-tướng cho quốc dân biết không? (5)

Chú giải (5)

Sau cuộc cải cách ruộng đất. Thấy dân chúng, cán bộ quá bất mãn. Chủ-tịch Hồ Chí-Minh sợ có biến, vội đưa vụ sửa sai. Nhận thấy bấy giờ duy có Đại-tướng Võ Nguyên Giáp là có uy tín nhất, Bộ Chính-trị tập hợp dân chúng, cán bộ, rồi mời ông ra thay Đảng… xin lỗi.

- Nếu nói rằng khi ký văn kiện trên, là tự ý Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng thì không thể nào tin được. Vì chính ông Phạm Văn-Đồng từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm, nhưng không có quyền hành gì, ngay cả việc muốn thay một Bộ-trưởng cũng không được. Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện nhượng đất cho Trung-quốc!

- Ví thử ông Phạm Văn-Đồng tự ý ký văn kiện trên, thì năm 1977 văn kiện ấy lộ ra ngoài. Người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm Văn-Đồng hãy còn sống, sao Bộ Chính-trị, Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra tòa về tội phản quốc? Tội này trong hình luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?

- Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn phòng Bộ Chính-trị, văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bố cho quốc dân biết không? Nếu quý vị im lặng, thì muôn nghìn năm sau, lịch sử còn ghi: Đảng Cộng-sản bán nước, mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu tài; chứ không phân biệt rằng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, chứ Bộ Chính-trị 2001 không hề làm việc này.

Chúng tôi xin ngừng lời để Quý-vị thắc mắc, trước khi điều trần sang phần thứ nhì.

Không có câu hỏi nào.

Kính thưa Quý-vị,

Bây giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nhì, đó là:

4. Vụ nhượng lãnh thổ mới đây

* Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999, ký tại Hà-nội giữa bộ trưởng Ngoại-giao Việt-Nam là Nguyễn Mạnh-Cầm với bộ trưởng Ngoại-giao Trung-quốc là Đường Gia-Truyền.

*. Hiệp định phân định vịnh Bắc-bộ giữa Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000, ký tại Bắc-kinh giữa bộ trưởng Ngoại-giao Việt-Nam là Nguyễn Dy Niên và bộ trưởng Ngoại-giao Trung-quốc là Đường Gia Truyền, dưới sự chứng kiến của Chủ-tịch Việt-Nam Trần Đức Lương và Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân.

4.1, Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định

Hai hiệp định này đều ký trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam thì:

- Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,

- Ông Trần Đức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,

- Ông Nông Đức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,

- Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.

- Ông Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng Ngoại-giao.

Ai chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá nhân thì tôi không biết, nhưng có một điều tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam.

Không cần biết người ký là Chủ-tịch Trần Đức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm, Nguyễn Dy Niên. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.

Những người quyết định là ai?

Ông Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm ư? Hai ông này không có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể quyết định một mình. Ông Trần Đức-Lương, Nông Đức-Mạnh càng không có quyền gì.

Vì vậy tôi mới quyết đoán rằng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tất cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn còn sống, rất khỏe mạnh. Khi quyết định nhượng đất, biển cho Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rõ rằng:

- Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Trình độ dân chủ, phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh năm 1958. Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng, chứ không thể là một khối như Bộ Chính-trị hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu điều biết trước rằng: Ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, dấu diếm đảng viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! Vì vậy phải có nguyên do gì trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết không?

Đến đây một cử tọa nói bâng quơ, câu hỏi 14:

- Không lẽ trong Bộ Chính-trị, mà tìm chẳng ra một người yêu nước ư?

Gs TĐS đáp:

- Tôi tin rằng có rất nhiều người đầy tâm huyết. Song họ không thể bơi ngược dòng thác đổ. Nếu như ở Tây-phương, người nào không đồng ý, có thể từ chức. Nhưng ở các nước Cộng-sản thái độ này bị coi là phản động, tính mệnh khó toàn. Chính những vị này đã tiết lộ tin tức vụ nhượng đất ra ngoài.

Kể từ khi ký, dân chúng, đảng viên không được biết nội dung Hiệp-ước nói gì.

Mãi tới tháng 2-2001, Thứ-trưởng Ngoại-giao Lê Công-Phụng, người trực tiếp vụ này mới công bố trên Tạp chí Cộng-sản, Quý-vị có thể tìm thấy bài này trên Internet.

(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6-lecongphung.htm) (Phụ bản 1)

Tạp-chí Tư-tưởng Văn-hóa số 3-2001 cũng tóm lược sự kiện. Quý vị có thể tìm trên Internet.

http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong…kyhiepdinh.htm) (Phụ-bản 2) (5)

Ghi chú (5) cuả IFA, dành cho bản Việt-Ngữ

Sau khi bài điều trần của chúng tôi bị tiết lộ, báo chí, Internet bình luận sôi sục, thì hai bài này bị xóa bỏ).

- Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản lấn át Chủ-tịch Nhà-nước, cũng như Thủ-tướng nhất. Đến nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng chỉ vì nói một câu không mấy lịch sự với người đàn bà có thế lực trong đảng, mà bị bắt giam không lý do, Thủ-tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoại.

- Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là cựu Tổng Bí-thư Đỗ Mười, cựu Chủ-tịch nhà nước Lê Đức-Anh và cựu Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng hoàng thời phong kiến. Tuy mang danh Cố-vấn, nhưng ba ông vẫn còn uy quyền tuyệt đối. Chắc Quý-vị còn nhớ bản điều trần của tôi vào tháng 9-1997, về vụ Tổng-bí thư Đỗ Mười và Thủ-tướng Võ Văn Kiệt mật đàm với Chủ-tịch Giang Trạch Dân. (Xin xem phụ bản 3).

- Cũng trong thời gian ấy, cả thế giới (trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại giao rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt-Nam. Nhất là Tổng-thống Clinton ký sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-kỳ. Nói tóm lại thời gian từ nửa năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quốc tế nguy hiểm nào, đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được viện trợ vũ khí, để được che chở.

- Cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có tranh chấp lãnh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh.

Vậy vì lý do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc?

4.2, Chi tiết vụ cắt đất,

Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999, thì tôi được biết tin chi tiết, do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000. Nghĩa là 10 ngày sau. Nhưng mãi đến ngày 14-2-2000, tôi mới có bản hiệp ước bằng cả hai thứ tiếng Việt, Hoa. Theo tinh thần bản hiệp định thì:

- Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nươc), quan trọng nhất là vùng thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.

- Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là:

- Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lãnh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam. Trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới.

- Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan. (6)

Ghi chú (6) của IFA

IFA chúng tôi có nguyên văn hai bản Hiệp-định này bằng Hoa-văn, Việt-văn. Hiện đảng Cộng-sản cũng như nhà nước VN, giữ kín 2 bản văn này, đến nỗi cấp Bộ-trưởng, Đại-sứ, Ủy-viên Trung-ương đảng bộ cũng không có, nhiều vị không biết gì cả. Nhiều người Hoa-Việt gửi thư xin hai bản Hiệp-định này, chúng tôi cũng như Gs. Trần không thể thỏa mãn, vì cho thì vi phạm tác quyền. Chúng tôi không muốn gây hấn với đảng Cộng-sản của Trung-quốc và Việt-Nam. Vậy Quý-vị muốn có, xin hỏi tác giả là bộ Chính-trị đảng CS, bộ Ngoại-giao Trung-quốc cũng như bộ Chính-trị và bộ Ngoại-giao Việt-Nam.

Đây là cuộc điều trần rất vô tư, Gs Trần giữ đúng ngôn từ ngoại giao, không hề có lời lẽ công kích, hay nhục mạ đối với đảng Cộng-sản và nhà nước Trung-quốc cũng như Việt-Nam. Mục đích của cuộc điều trần chỉ để thính chúng hiểu uyên nguyên sự thực mà thôi. Đường lối ngoại giao của Liên-Âu và của chính phủ Pháp đối, Việt-Nam rất mềm dẻo, chưa từng có hành động hay ý tưởng gây khó khăn cho nước Pháp thoại này. Chúng tôi (IFA), và Gs Trần cũng phải tuân hành nghiêm chỉnh.

Về con số lãnh thổ

Ngày 1-2-2002, Ngài Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại-giao VN, đặc trách vụ việc đàm phán với Trung-quốc có lên tiếng với báo chí qua cuộc phỏng vấn của nữ ký giả xinh đẹp Thu-Uyên (trên Web. Vasc Orient, http://www.Vnn.Vn) rằng giữa Hoa-Việt có 227 km2 cần giải quyết tranh chấp. Chúng tôi hiểu là Ngài Lê Công-Phụng muốn nói 227 km2 hiện phải thảo luận. Còn những vùng mà Trung-quốc đóng quân, được nhượng dần dần từ 1947 đến giờ thì không tính. Nay hiệp định ký chỉ để hợp thức hóa truyện đã xẩy ra mà thôi. Có lẽ cách tính này của Ngàii Lê Công-Phụng cao minh hơn, giản dị hơn chúng tôi. Vì chúng tôi tính theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887 và 1895, cho nên con số của chúng tôi là 789 km2. Sai biệt tới 562 km2. Khi công bố con số này, sở Kỹ-thuật của chúng tôi đã phải tính toán chi li, kiểm đi kiểm lại. Cách tính căn cứ vào ba bản đồ:

- Ngay khi có bản hiệp định 30-12-1999 Hoa-Việt, sở Kỹ-thuật của chúng tôi đã căn cứ vào bản đồ mới nhất của Trung-quốc đính kèm Hiệp-định. Xin nói thêm là bản đồ của Trung-quốc, Việt-Nam (cs), và các nước Cộng-sản theo hệ thống khác. Chúng tôi phải đổi, thành hệ thống UTM tỷ lệ xích 1/25000 .

- Lại so sánh với bản đồ của Sở địa chánh thời Pháp (1900-1955) (service géographique de l’Indohine) đã đổi ra tỷ lệ xích 1/25000 hệ UTM. Tức là bản đồ theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887 và 1895, sau đó được thi hành nghiêm túc suốt thời gian 1987-1955. Bản đồ này rất đúng, bằng cớ là trong chiến tranh Đông-dương, quân đội Pháp và Quốc-gia Việt-Nam đã dùng cho Pháo-binh, Không-quân tác xạ, rất chính xác.

- Trong chiến tranh 1960-1970, VNCH có hẳn một Nha Địa-dư Quốc-gia tại Đà-lạt. Cơ quan này căn cứ vào đường phân ranh của Pháp, rồi sửa đổi những biến đổi do thời gian, do khí hậu, được vệ tinh Hoa-kỳ chụp không ảnh trao cho để vẽ lại. Hồi trước 1975 quân đội VNCH, Hoa-kỳ, Đại-hàn, Thái-lan, Úc-đại-lợi, Tân-tây-lan; đã dùng cho Pháo-binh tác xạ, Không-quân oanh tạc rất chính xác.

Sau khi đo, chúng tôi tìm thấy có 789 Km2 trước kia thuộc lãnh thổ Việt, nay theo hiệp ước 30-12-1999 thuộc Trung-quốc. Trong khi những bài công kích của đối lập ở trong nội địa VN gửi ra là 720 km2, sai biệt với con số của chúng tôi là 69 km2. Còn theo Đại-tá Quân-đội CHXHCNVN Bùi Tín thì con số là 900 km2. Phải hiểu rằng Đại-tá Bùi Tín là người từng qua lại biên giới Hoa-Việt nhiều lần, ông lại lớn tuổi, không thể đưa ra con số hàm hồ. Nhưng tại sao lại có sự sai biệt:

- Con số của Ngài Lê Công-Phụng và Đại-tá Bùi Tín 673 km2 (227-900).

- Con số của Ngài Lê Công-Phụng và đối lập trong nước 493 km2 (227-720).

- Của chúng Ngài Lê Công Phụng với chúng tôi (IFA) 562 km2 227-789).

Chúng tôi xin giải đoán:

- Về con số của đối lập trong nước, hẳn họ căn cứ vào bản đồ hiệp định trên bộ như chúng tôi, rồi so sánh với bản đồ thời Pháp dùng cho học sinh, nhưng họ đo bằng lối ước tính trên giấy, kém chính xác một chút, bản đồ ấy theo hệ thống UTM, trong khi bản đồ của hiệp định theo hệ thống CS.

- Về con số của Đại-tá Bùi Tín chúng tôi giải đoán: giữa biên giới Hoa-Việt có 5 khu đất 29,300km2, 26,750 km2, 17,400km2, 21,003 km2, 16.547km2, vào thời Nguyễn; Nguyễn-Thanh coi như của chung, để cho hai bên dân chúng trao đổi hàng hóa (như vùng Andora của Pháp-Tây Ban Nha, không thuộc nước nào). Sau hiệp ước 1887 và 1895 tình trạng vẫn không thay đổi. Nhưng trên thực tế, Hoa coi là của Hoa, Việt bảo rằng của Việt. Trong chiến tranh 1945-1954 cac khu này thuộc Trung-quốc, nhưng trên pháp lý vẫn là của chung. Nay đảng Cộng-sản VN nhượng cho Trung-quốc, nên Đại-tá Bùi coi như VN mất đứt khu này.

Về hang Pakbo

Về hang Pak-bó, sở Kỹ-thuật của chúng tôi đo, kể từ biên giới cũ, đến cửa hang là : 50.035 m. Nay biên giới mới chỉ còn cách cửa hang có 1.511 m. Bản tin của Câu-lạc-bộ sinh viên (http://dungday.tripod.com) công bố ngày 5-2-2002 thì khoảng cách: Cũ là 48.900 m nay là 1.500 m. Hai con số gần với nhau.

Vậy chúng tôi ghi ra đây. Dù sao thì vấn đề này quan trọng đối với người Việt, người Hoa. Còn đối với IFA chúng tôi thì sự việc đã xong. Sổ sách đã khép lại. Chúng tôi (IFA) và Gs Trần Đại-Sỹ không dám có ý tưởng tranh cãi với Ngài Thứ-trưởng Lê Công Phụng. Hơn nữa chúng tôi không cần, không có thời giờ tranh cãi một vụ việc đã qua với bất cứ ai. IFA chúng tôi rất thông cảm nỗi khổ tâm của Ngài Lê Công Phụng, vì ngài tuân lệnh trên mà làm, nếu chống thì e tính mạng khó toàn. Sau khi hai hiệp định ký, Ngài Lê Công-Phụng được trao cho chức vụ đầy uy quyền là Trưởng-ban Biên-giới. Độc giả đừng coi thường từ Trưởng-ban. Chức vụ này rất lớn. Bởi với chức vụ này Ngài Lê ngồi cao hơn các Vụ-trưởng trong bộ Ngoại-giao. Trước kia ban này thuộc phủ Thủ-tướng, mới đây đưa xuống bộ Ngoại-giao. Từ nay Ngài Lê là người phác họa, quyết định đường lối về biên giới Việt-Nam, mà không phải trình lại thượng cấp (Bộ-trưởng) như đã trả lời cuộc phỏng vấn của nữ ký giả Thu-Uyên.

Khi vụ việc nhượng đất-biển bùng nổ, Ngài Lê Công- Phụng còn trẻ, tuổi đảng thấp, cũng chẳng là Ủy-viên Trung-ương; chỉ có công lao, thành tích là đảm trách đàm phán với Trung-quốc, nhượng lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc, mà được trao cho chức Trưởng-ban Biên-giới. Không chừng tương lai được lên làm Bộ-trưởng Ngoại-giao nữa.

Về thác Bản-giốc

Thác Bản-giốc, theo Ngài Thứ-trưởng Lê Công Phụng thì trước hiệp định 30-12-1999, địa danh này chỉ nằm về ranh giới VN có 1/3, còn 2/3 thuộc Trung-quốc. Nay thì Trung-quốc, Việt-Nam cưa đôi. Điều này làm chúng tôi hơi ngạc nhiên. Vì suốt thời gian 1887-1955 trong thời Pháp thuộc, thác này nằm khá xa biên giới Hoa-Việt. Năm 1993, 1995, 1997 chúng tôi có giúp đỡ cho ba công ty nước khoáng châu Âu thăm dò lưu lượng nước, thăm dò thành phần nước để khai thác thương mại. Các chuyên viên xin visa vào Việt-Nam:

- 1993 Kỹ-sư J.P. Renault,

- 1995, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, kỹ sư F. Puririer,

- 1997 Dược-sĩ Marie Christine Le.

Dưới hình thức du lịch, rồi tới Bản-giốc. Như vậy rõ ràng trước 1997 thác này còn nằm trên lãnh thổ Việt-Nam. Chứ nếu nằm trên lãnh thổ Trung-quốc thì phải xin visa vào Quảng-Tây, rồi tới Bản-giốc! Vả địa danh Bản-giốc đã in sâu vào tiềm thức giới trẻ VN vì họ từng đi cắm trại, sinh hoạt tại đây. Một số sách Việt-ngữ dành cho tuổi trẻ đã nói nhiều về thác này. Nay Ngài Thứ-trưởng bảo thác đó nằm trên lãnh thổ Trung-quốc từ thời Pháp-Thanh, chúng tôi e tuổi trẻ nay thành tuổi nhỡ, tuổi già VN, cũng không ai chịu. Chúng tôi theo dõi rất kỹ, từ lâu cuộc đàm phán Hoa-Việt về biên giới, nên rất thông cảm với Ngài Thứ-trưởng.

Chúng tôi cũng xin thưa rằng: sau khi vụ việc ký hai hiệp định nhượng đất, dư luận người Việt trong và ngoài nước sôi sục căm hờn, thì Bộ Chính Trị cũng như Chính-phủ Việt-Nam tuyên dương bộ Ngoại-giao là bộ “Năng động, hữu hiệu toàn diện nhất năm 2001″. Như vậy đủ tỏ rằng bộ Chính-trị hiện thời với bộ Chính-trị thời Lê Khả Phiêu nhất trí với nhau trong vấn đề nhượng đất, biển.

Hình chụp cửa hang Pak-bo.

Hồi chiến tranh Hoa-Việt (1979) Hồng-quân Trung-quốc đã phá hủy tất cả di vật, cũng như cửa hang này.

Thác Bản-giốc thuộc tỉnh Cao-bằng. Suốt năm nghìn năm lịch sử, thuộc lãnh thổ Việt. Nay cưa đôi, Trung-quốc, Việt-Nam mỗi nước một nửa.

Thưa Quý-vị,

4.3, Ảnh hưởng vụ cắt đất,

4.3.1, Mất biểu tượng năm nghìn năm của tộc Việt,

Khu Ải Nam-quan này là vùng đất thiêng, là Thánh-địa trong mấy nghìn năm của người Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng phía Nam Ải Nam-quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thần tự chủ, cho niềm niềm tự hào của họ. Đây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và tâm tư toàn thể người Việt.

Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch-Đông và Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch-Đông đã nói:

“Cái tên Ải Nam-quan, nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa, Việt làm xấu tình hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nhìn về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại coi như mắt của nhân dân Việt luôn nhìn về Bắc với tình hữu nghị”.

Chủ-tịch Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung-quốc in trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan mà thôi. Còn phía Việt-Nam trên bản đồ hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ cửa Hữu-nghị.

Ghi chú đặc biệt của Trần Đại-Sỹ

Sau khi bài lày lộ ra, có 71 bài nghiên cứu cãi nhau về cái tên Nam-quan, xếp bắt tôi phải im lặng, mặc cho họ cãi nhau, kệ họ là thầy bói xem voi. Người thì bảo Nam-quan của Trung-quốc, kẻ thì bảo của Việt-Nam. Rồi họ cãi nhau lung tung về vị trí đích thực của Nam-quan.

Tháng 8-2002 nhân tôi sang Hoa-kỳ (California) thăm thân hữu, bị mấy nữ ký giả truyền hình quay như chong chóng, tôi đã buột miệng nói ra, thôi thì sự đã rồi, bây giờ tôi xin trình bầy ở đây (tôi vốn yếu bóng vía trước các người đẹp).

Có tất cả có 5 “Nam-quan”.

NAM QUAN THỨ NHẤT, của Trung-quốc (1558-1885)

Vua Gia-Tĩnh, triều Minh ban chỉ kiến tạo năm 1558, mang tên Trấn Nam-quan, nhưng thường gọi bằng danh tự Nam-quan. Trấn Này nằm giữa hai ngọn núi nhỏ, chặn ngang đường từ Lạng-sơn đi Ung-châu (Nam-ninh). Nằm về phía Nam trấn này 2 dặm là ải Phả-lũy của Việt-Nam. Biên giới Hoa-Việt được kể từ chân ải Nam-quan. Tháng 6 năm Đinh Hợi 1406, tại phía Nam ải này có cuộc tiễn đưa lịch sử giữa Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi, rồi có suối Phi-Khanh.

Năm 1884, triều đình Nguyễn ký hiệp ước chịu sự bảo hộ của Pháp. Thiếu-tướng Francois Oscar De Négrier được cử làm tư lệnh vùng biên giới phía Đông của Hoa-Việt. Trong lúc giao thời Pháp-Việt, ải Phả-lũy bỏ không. Quân Thanh tràn sang phá ải, rồi cướp phá vùng Đồng-đăng. Ngày 24 tháng 3 năm 1884, Thiếu-tướng De Négrier tổ chức cuộc hành quân đánh đuổi quân Thanh. Quân Thanh đại bại, Tổng-binh Sầm Quang Anh bị giết. Ngày đầu năm 1985, Tổng-binh Nùng Mặc Sơn, đem một trung đoàn Thanh tấn công, chiếm đồn Phả-lũy rồi tràn vào Lạng-sơn cướp phá. Tướng De Négrier đem 3 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Pháo-thủ, một Tiểu-đoàn bộ binh thuộc địa), đánh đuổi quân Thanh, giết Nùng Mặc Sơn. Ngày 5-1-1885, chiếm ải Nam-quan, đặt chất nổ san bằng.

Hình ải Nam-quan 1558-1885

NAM QUAN THỨ NHÌ, của Trung-quốc, Việt-Nam (1886-1952)

Sau khi thỏa ước Pháp-Thanh ký, Nam-quan được xây lại bằng ngân sách của chính phủ Đông-dương và Thanh-triều. Ải xây bằng đá mài, mái cong rất đẹp. Trong ải một nửa thuộc Pháp, một nửa thuộc Thanh. Mỗi bên đều có cơ quan Cảnh-sát, lính biên phòng, quan thuế. Tiền tu bổ hằng năm, do ngân sách tỉnh Quảng-Tây và Lạng-sơn đài thọ.

Biên giới Hoa-Việt được kể từ giữa ải: Nam của Việt, Bắc của Hoa. Thời gian này VN soạn thảo sách giáo khoa Việt-ngữ, bởi vậy mới có câu:

” Nước Việt-Nam dình chữ S chạy từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu”

Trong chiến tranh Quốc-Cộng 1949, ải này bị phá hủy.

NAM QUAN THỨ BA, (Mục Nam-quan) của Trung-quốc (1952-2001)

Hồi chiến tranh Việt-Pháp (1946-2001), sau chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chủ-tịch đảng Cộng-sản Việt-Nam là Hồ Chí Minh sang Trung-quốc cầu viện với Chủ-tịch đảng Cộng-sản Trung-quốc. Hai bên thỏa thuận bằng những hiệp ước mật. Trung-quốc cho xây Mục Nam-quan, lùi vào lãnh địa Việt-Nam. Hình trên, không thấy hai ngọn núi và suối Phi-Khanh đâu. Mục đích việc lùi biên giới này như sau: Vùng phía Bắc Mục Nam-quan tuy là lãnh thổ Việt-Nam, nhưng bây giờ là của Trung-quốc. Như vậy Pháp không dám dùng không quân oanh tạc. Đó là vùng an ninh để Hồng-quân lập các trung tâm huấn luyện quân Việt-Minh. Sau chiến tranh (1954) Trung-quốc giữ luôn. Trong chiến tranh 1960-1975, không quân Hoa-kỳ cũng ê càng không dám oanh tạc khu này.

NAM-QUAN THỨ TƯ, (1952-1979)

Phía Nam Mục Nam-quan mấy trăm thước, chính phủ Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa cũng cho xây một cửa ải nữa, mang tên cửa Hữu-nghị. Tại đây có đầy đủ các cơ quan như: Công-an biên phòng, Hải-quan, Bưu-điện v.v. Trong chiến tranh 1979, Trung-quốc san bằng cái cửa Hữu-nghị này. Chúng tôi không còn lưu trữ được hình ảnh.

Sau chiến tranh, VN cho xây lại một cữa Hữu-nghị khác. Nhưng từ khi ký hiệp định 1999, thì cái Hữu-nghị này phá bỏ. Việt Nam xây cửa Hữu-nghị mới lùi lại sau mấy trăm thước nữa.

NAM QUAN THỨ NĂM, (2001- ?).

Cửa Hữu-nghị mới xây lại năm 2001.

Ảnh chụp tháng 8-2001, cửa Nam-quan cũ lùi lại sau, Cửa Hữu-nghị mới!!!

4.3.2, Mất cửa ngõ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt,

Tôi đã nhiều lần từ Việt-Nam sang Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lại. Lãnh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Đây là cửa họng giao thông của Trung-quốc, Việt-Nam bằng đường bộ. Suốt hơn mấy nghìn năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính vì vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch Việt-Nam đều chép rằng:

” Con đường Bắc-Nam khởi từ ải Nam-quan”.

Hoặc :

“Lãnh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu, theo hình chữ S”.

Bây giờ nếu Quý-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị sẽ không thấy hàng chữ trên, mà chỉ thấy câu:

“Lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.

Thưa Quý-vị,

Cái cây số không đó là cây số 1,5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở nằm giửa Mục Nam-quan và cửa Hữu-nghị mới. Từ cây số Zéro đến cây số 1, nay thuộc Trung-quốc.

Sát Mục Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:

- Cơ sở Hải-quan,

- Bãi đậu cho hằng trăm xe tải, để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.

- Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport,

- Đồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thổ,

- Hằng chục cơ quan, khác như Bưu-điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.

- Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn.

Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quốc đã san bằng hết. Kể cả cây cột biên giới.

Tuy vậy sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ, và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc. Những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất. (Hình đính kèm)

Hình chụp từ phía lãnh thổ Trung-quốc mới (VN cũ) sang, căn nhà này là Nam-quan thứ 5, trong nước gọi là cửa khẩu Hữu-nghị của VN (mới)

4.3.3, Mất dân, mất di tích lịch sử,

Đi sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây số nữa là quận lỵ Đồng-đăng, rồi tới tỉnh lỵ Lạng-sơn. Đây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc Việt: Động Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa là Thủ-đô của con cháu giặc Mạc Đăng-Dung, mà năm 1540 đã dâng đất cho Trung-quốc, để được bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san bằng. Chắc Quý-vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quốc đã làm ở Lạng-sơn. Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào làm hư hại rất nhiều.

Đi sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đã diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết. Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa thì đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Đầu-quỷ.

Tại ải Chi-lăng, núi Đầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sử.

Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1979, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện cũ thì họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lại. May mắn thay khu này vẫn còn thuộc lãnh thổ Việt. (2 hình đính kèm)

Bia lưu niệm Ải Chi-lăng

Cửa Ải Chi-lăng, yết hầu biên giới vào đồng bằng Bắc-bộ

Trở lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm nghìn năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung-quốc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ngòi, về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng hãnh diện đời nọ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm nghìn năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc tới. Thương tổn tinh thần quá lớn.

Gần đây nhất, trong chiến tranh 1979, phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả mìn. Sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 vòng đai. Mấy chục nghìn chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình liệt sĩ đã ghi dấu tưởng niệm thân hân họ. Nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dĩ. Các vòng đai phòng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiều.

Ghi chú của IFA

Chúng tôi xin sao nguyên văn bản hiệp ước Pháp-Thanh ngày 26-6-1887 tại văn khố Pháp.

Les Commissaires nommés par :

- Le Président de la République Française,

- et par S.M l’Empereur de Chine,

en exécution de l’article 3 du Traité du 9 Juin 1885 pour reconnaître la frontière entre la Chine et le Tonkin ayant terminé leur travaux,

Monsieur Ernest Constans, député, ancien Ministre de l’intérieur et des cultes, commissaire du Gouvernement, envoyé extraordinaire de la République Française,

d’une part,

Et S.A. le Prince K’ing, prince du second rang, président du Tsoung-li-Yamen, assisté de Son Exc. Souen-Yu Quen, membre du Tsoung-li-Yamen, premier vice-président du ministère des travaux publics;

Agissant au nom de leurs gouvernements respectifs;

Ont décidé de consigner dans le présent Acte les dispositions suivantes destinées a régler définitivement la délimitation de ladite frontière:

1° Les procès-verbaux et les cartes y annexées qui ont été dressées et signés par les Commissaires Français et Chinois sont et demeurent approuvés;

2° les points sur lesquels l’accord n’avait pu se faire entre les deux commissions, et les rectifications visées par le deuxième paragraphe de l’article 3 du Traité du 9 Juin 1885 sont réglés ainsi qui suit:

Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestés qui sont situes a l’est et au nord-est de Monkạ, au-delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de délimitation, sont attribués à la Chine.

Les îles qui sont à l’est du méridien de Paris 105° 43′ de longitude est, c’est à dire la ligne nord-sud passant par la pointe orientale de l’île de Tch’a Kou ou Ouanchan (Tra-co) et formant la frontière, sont également attribuées a la Chine. Les îles Go-tho et les autres îles qui sont à l’ouest de ce méridien appartiennent à l’Annam. Les Chinois coupables ou inculpés de crimes ou de délits qui chercheraient refuge dans ces îles , seront, conformément au stipulations de l’article 27 du Traité du 25 Avril 1886, recherchés , arrêtés et extradiés par les Autorités Françaises.

Sur la frontière du Yun-Nan, il est entendu que la démarcation suivra le tracé suivant: De Keou-teou-tchai (Cao-dao-trai) sur la rive gauche du Siao-tou-tcheou-ho (Tien-do-chu-ha), point M de la carte de la deuxième section, elle se dirige pendant 50 lis (20 km) directement de l’ouest vers l’est en laissant à la Chine les endroits de Tsui-kiang-cho ou Tsui-y-cho (Tu-nghia-xa), Tsui-mei-cho (Tu-mi-xa) Kiang-fei-cho ou Y-fei-cho (Nghia-fi-xa), qui sont au nord de cette ligne, à l’Annam celui de Yeou-p’ong-cho (Hu-bang-xa) qui en est au sud, jusqu’aux points marqués Pet Q sur la carte annexe ou elle coupe les deux branches du second affluent de droite de Hoi-ho (Hac-ha) ou Tou-cheou-ho (Do chu-ha).A partir du point Q, elle s’infléchit vers le sud-est d’environ 15 lis(6 km),jusqu’au point R, laissant à la Chine le territoire de Nan-ian (Nam-don) au nord de ce point R; puis à partir de ce dit point remonte vers le nord-est jusqu’au point S,en suivant la direction traçée sur la carte par la ligne R-S,le cours de Nan-teng-ho (Nam-dang-ha) et les territoires de Manmẹ (Man-mi), de Mong-tong-chang-s’oun (Muang-dong-troung-then), de Mong-tuong-chan (Muong-dong-son), de Mong-tuong-tchoung-ts’uon (Muong-dong-truong-thon) et de Meng-tuong-chia-ts’ou (Muong-dong-ha-thon) restant a l’Annam. A partir du point S (Meng-tuong-chia-ts’ou ou Muong-dong-ha-thon), le milieu du Ts’ing-chouei ho (Than thuy ha) indique jusqu’à son confluent, en T, avec la rivière Claire, la frontière adoptée. Du point T, son tracé est marqué par le milieu de la rivière Claire jusqu’au point X, à hauteur de Tch’ouan-teou (Thuyen-dan). Du point X, elle remonte jusqu’au point Y, en passant par Paiche-yai (Bach-thach-giai) et Lao-ai-k’an (Lao-hai-kan), la moitié de chacun de ces deux endroits appartenant a la Chine et à l’Annam ; ce qui est à l’est appartient à l’Annam, ce qui est a l’ouest à la Chine. A partir du point Y, elle longe, dans la direction du nord, la rive droite du petit affluent de gauche de la rivière Claire, qui la reçoit entre Pien-pao-kia (Bien-bao-kha) et Pei-pao (Bac-bao) et gagne ensuite Kao-ma-pai (Cao-mabach), point Z ou elle se raccorde avec le tracé de la troisième section. A partir de Long-po-tchai (cinquième section), la frontière commun du Yun Nan et de l’Annam remonte le cours du Long-po-ho jusqu’à son influent avec le Ts’ing-chouei-ho, marqué A sur la carte ; du point A, elle suit la direction générale du nord-est au sud-ouest jusqu’au point B indiqué sur la carte, endroit ou le Sai-kiang-po reçoit le Mien-chouei-ouan ; dans ce parcours, la frontière laisse à la Chine le cours du Ts’ing-chouei-ho. Du point B, la frontière, la direction est-ouest jusqu’au point C elle rencontre le point Teng-tiao-tchiang au dessous de Ta-chou-tchio ; ce qui est sud de cette ligne appartient à l’Annam, ce qui est au nord, à la Chine. Du point C, elle descend vers le sud en suivant le milieu de la rivière Teng-tiao-Tchiang jusqu’à son confluent au point D avec le Tsin-tse-ho. Elle suit ensuite le Tsin-tse-ho pendant environ 30 lis et continue dans la direction est-ouest jusqu’au point D ou elle rencontre le petit ruisseau qui se jette dans la rivière Noire (Hei-tciang ou Hac-giang) à l’est du bac de Meng-pang. Le milieu de ce ruisseau sert de frontière du point E au point F.A partir du point F, le milieu de la rivière Noire sert de frontière à l’ouest.

Les Autorités locales Chinoises et les Agents désignés par le Résident générale de la République Française en Annam et au Tonkin seront chargés de procéder a l’abornement, conformément aux cartes dressées et signées par la Commission de délimitation et au tracé ci-dessus. Aux présents actes sont annexées trois cartes en deux exemplaires, signées et scellées par les deux parties. Sur ces cartes, la nouvelle frontière est tracé par un trait rouge et indiquez sur la carte de Yun Nan par les lettres de l’alphabet française et les caractères cycliques Chinois.

Fait a Pékin, en double expédition, le 26 Juin 1887.

(Signature et cachet du Plénipotentiaire Chinois)

Signé:Constans

(Cachet de la légation de France à Pékin)

Phụ đính 1

Bản đồ biên giới vùng Nam-quan theo hiệp ước Pháp-Thanh 26 tháng 6 năm 1887

4.4, Vụ cắt lãnh hải

Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000

Từ giữa thế kỷ thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rõ lãnh hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 15, Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà vua sai vẽ Hồng-đức bản đồ. Theo bản đồ này thì các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) thuộc Đại-Việt. Và hai quần đảo đó đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lý thuyết).

Vào những thời kỳ ấy (1500-1887) , Thủy-quân cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao, nên chưa có những đụng chạm.

Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam ký hòa ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của Pháp; thì người Pháp mới định rõ lãnh hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam, đã ký với Thanh-triều hòa ước 1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh Bắc-Việt. Đối với hòa ước này, Việt-Nam đã chịu khá nhiều thiệt hại, vì mất một số đảo, mà dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên các đảo này vẫn còn nói tiếng Việt, ẩm thực theo Việt, và dùng y phục Việt. (Chúng tôi đã từng thăm vùng này hồi 1983).

Tuy nhiên với hòa ước 1887, lãnh hải vịnh Bắc-Việt được phân chia như sau:

Trung-quốc 38 %

Việt-Nam 62%

Đối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rõ tình trạng giữa Trung-hoa và Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%, thì cho rằng mình thắng thế. Còn Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuống. Vì trong quá trình lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh Bắc-Việt là của Việt-Nam.

Chứng cớ:

- Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng Bắc-hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc họ phải gọi là thị xã Nam-hải chứ? Rõ ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.

- Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây đảo Hải-Nam, phía Đông Bắc Việt-Nam mà Pháp-Hoa ký hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Bắc-Việt. Trung-quốc cũng gọi là vịnh Bắc-bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy thì rõ ràng vịnh này của Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc thì họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ?

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 15:

- Có sách Tây-phương nào viết về vấn đề này không?

Gs TĐS:

- Nhiều lắm, tôi xin cử ra vài tài liệu mới đây:

Edward H.H, Schafer trong Shore of Pears (châu Nhai)

(Berkley-London 1970),

Tác giả căn cứ vào khai quật, cũng như khảo cổ đã kết luận rằng:

Vào thời Hán, đảo Hải-Nam không có đường thông thương với Trung-quốc. Đảo này thuộc Giao-chỉ. Tất cả thương thuyền đều từ Giao-chỉ tới. (TĐS ghi chú dành riêng cho người Việt: Tôi đã tới Hải-Nam nghiên cứu 2 lần. Tại đây tôi tìm ra nhiều di tích thời vua Trưng, nên trong bộ “Cẩm-khê di hận” tôi đã thuật lại trận chiến giữa Hán-Việt. Nhiều “học giả” ngu dốt, công kích tôi, thấy họ ngu quá tôi không trả lời.)

Cử tọa hỏi câu hỏi thứ 16:

- Xin cho biết việc phân chia lãnh hải Hoa-Việt theo hiệp ước 1887?

Gs TĐS:

- Tôi xin chiếu lên để Ngài thấy.

Đảo Hải-Nam, lãnh thổ thời Lĩnh-Nam (vua Trưng) về trước. Hình vẽ trong sách của E.H. Schefer.

Bản đồ Hiệp-ước Pháp-Hoa 1887

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 17:

- Tôi thấy bản đồ đính kèm bản tuyên bố 1958 của Trung-quốc, chỉ ấn định vùng biển Nam-hải, mà không đề cập đến vịnh Bắc-bộ. Như vậy có nghĩa rằng họ công nhận lãnh hải trong vịnh theo Hiệp-ước Pháp-Thanh 1887?

Gs TĐS:

- Quả đúng như Ngài suy đoán. Nhưng chỉ vì gần đây Trung-quốc biết được trong vịnh có trữ lượng dầu lửa lớn, nên mới đòi VN, cắt vùng này cho họ.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 18:

- Cho chúng tôi chứng cớ.

Gs TĐS:

- Thưa có rất nhiều.

Trước hết là những hoạt động của Trung-quốc trong vùng vịnh này.

- Ngày 19 rồi 30-8-1992, Trung-quốc đưa hai tầu tìm dầu lửa trong vịnh Bắc-bộ.

- Ngày 30-9-1992 tầu Nam-hải 6 của Trung-quốc xâm nhập vùng cách Đông-Nam cửa biển Ba-lạt của VN 112km.

- Tầu Phấn-đấu 5 nghiên cứu tại cửa biển Hải-phòng, cách bờ biển Thái-bình 70 dậm.

Phía VN phản đối, nhưng Trung-quốc chối rằng họ đâu có nhập hải phận VN.

- Trung-quốc tự định lãnh hải trong vịnh Bắc-bộ, vượt ranh giới lãnh hải ấn định bởi Hiệp-ước Pháp-Thanh, họ tự đặt tên là Tây-thủ (Main de l’Est, Hands off area), rồi cấm ngư phủ, Thủy-quân Việt đi vào.

- Về phía chúng ta, từ năm 1970, người Hoa-kỳ đã thăm dò tìm dầu lửa trong biển Nam-hải, và vịnh Bắc-bộ. Tài liệu của báo Petroleum News (USA, Feb.1984), đăng bản đồ của Selig S. Harrison chỉ rõ khu có dầu lửa.

Khu vực Trung-quốc tự ấn định mới đây (1983) rồi cấm Hải-quân, Thương-thuyền, thuyền đánh cá Việt-Nam đi vào mang tên Tây-thủ (Hands off area)

Kính thưa Quý-vị

Chúng tôi xin chiếu bản đồ phân chia lãnh hải, cũng như khu vực đánh cá mới theo Hiệp-định 25-12-2000

Bản đồ hiệp định mới về khu vực đánh cá dành cho Trung-quốc (25-12-2000)

Bản đồ lãnh hải theo hiệp định 25 tháng 12 năm 2000

Như vậy theo hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 thì vùng vịnh Bắc-bộ được chia ra như sau:

Việt-Nam 53%

Trunguốc 47%.

So với trước 1887 thì Việt-Nam chỉ mất có 38%, nay mất thêm 9% nữa, cộng chung là 47%!

4.5, Ảnh hưởng vụ cắt lãnh hải

4.5.1, Mất lãnh hải, quốc sản

Theo hiệp định này thì rõ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Trung-quốc tới 9% lãnh hải vùng vịnh Bắc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượïng là vùng:

- Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực là những loại hải sản quý.

- Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt, và dầu lửa.

- Một số đảo trong vùng nhượng, thuộc Trung-quốc.

4.5.2, An ninh quốc gia bị đe dọa

Nếu vụ nhượng đất nguy hại về phương diện tinh thần, kinh tế, thì vụ nhượng lãnh hải lại nguy hại về an ninh. Vì Trung-quốc có thể dùng các đảo này làm phi trường quân sự, căn cứ Hải-quân để uy hiếp Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh trung châu Bắc-Việt và miền Trung, miền Nam Việt-Nam. Nhất là hai qyan đảo Hoàng-sa, Trường-sa.

Tin của ECL ghi lại, trong những cuộc hội đàm Hoa-Việt về lãnh hải, Trung-quốc đòi cho được mấy đảo nhỏ trong vùng, nhất là đảo Bạch-long vĩ. Hiện thì đảo này vẫn thuộc Việt-Nam. Nhưng trong các cuộc đàm phán hiện còn đang tiếp diễn thì Trung-quốc cố đòi, phía Việt-Nam, trong nội bộ cũng đã đồng ý. Cũng những tin của ECL về các cuộc hội của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam thì việc chủ trương nhượng các đảo do quyết định của toàn thể, không do ba ông Cố-vấn Đỗ Mười, Lê Đức-Anh hay Võ Văn-Kiệt. Để tỏ ý hoàn toàn quy phục Trung-quốc. Chính ông Lê Khả Phiêu, đã trao cho Trung-quốc toàn bộ kế hoạch phòng thủ phía Bắc Việt-Nam. Theo ý kiến chúng tôi, thì trong Bộ Chính-trị bấy giờ, nhóm quân đội rất mạnh, chủ chốt có ba vị tướng là Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn. Trong tài liệu này, có phần ước tính tình hình Trung-quốc, Việt-Nam, đại lược như sau:

“- Trung-quốc không có khả năng dùng Không-quân tấn công vào Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh đồng bằng Bắc-bộ. Vì khoảng cách từ các phi trường Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Hải-Nam quá xa. Phi cơ chỉ có thể tới oanh tạc, nhưng trở về thì không đủ nhiên liệu.

- Nếu Trung-quốc tiến công bằng đường bộ, thì ít nhất phải có một triệu quân. Với một triệu quân mỗi ngày cần 10.000 lượt ô-tô tiếp tế. Mà đường bộ thì các ngả Lai-châu, Lào-cai, Hà-giang không dùng được. Chỉ có ba ngả chính tạm dùng. Một là Lạng-sơn, hai là Hạ-long (Quảng-yên cũ) ba là Cao-bằng. Ba ngả đó đường xá gồ ghề, núi non hiểm trở. Với 10.000 lượt xe, thì chỉ ba ngày là đường nát hết.

- Địa thế hiểm trở, khúc khuỷu của ba con đường này, chỉ cần ba người đóng một chốt, cũng đủ cản trở một ngày tiếp tế.

- Trong bối cảnh chiến tranh Hoa-Việt xẩy ra, thì Thủ-đô cũng như Bộ Chính-trị, Bộ Tổng Tư-lệnh có thể chuyển vào Thành-phố Hồ Chí-Minh.

- Trường hợp đó bắt buộc Trung-quốc phải dùng đường biển tiếp tế, chuyển quân. Hai quân cảng lớn sử dụng sẽ là Bắc-hải, Quảng-châu, Hải-Nam. Cả ba cùng xa, rất khó khăn”.

Nếu bây giờ Trung-quốc được mấy đảo trong vịnh Bắc-Việt, nhất là đảo chiến lược Bạch-long-vĩ,rất gần với thềm lục địa của trung châu Bắc-bộ , miền Trung và miền Nam. Nếu như Trung-quốc được đảo này, rồi thiết lập căn cứ Không-quân, Hải-quân, trạm tiếp vận tại đây, thì toàn bộ lãnh thổ Việt-Nam bị uy hiếp nặng nề. Ông Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn đều là tướng lãnh, từng cầm quân trên 40 năm, thì các ông phải biết rõ điều đó. Biết, nhưng các ông vẫn làm, thì có nghĩa là các ông muốn: “Việt-Nam vĩnh viễn nằm trong vòng kiềm tỏa của Trung-quốc”. Còn như các ông ấy làm việc đó để được gì, cho ai, vì ai ? thì tôi chịu.

4.6. Về bộ Chính-trị

Bộ Chính-trị hiện giờ (2001) gồm có 15 vị, xếp theo thứ tự quyền hành là:

1, Nông Đức Mạnh, Tổng-bí thư.

2, Trần Đức Lương, Chủ-tịch nhà nước.

3, Phan Văn Khải, Thủ-tướng.

4, Nguyễn Minh Triết, Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

5, Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng, Thường-trực chính phủ.

6, Lê Minh Hương, Thượng-tướng, Bộ trưởng bộ Công-an.

7, Nguyễn Phú Trọng, Bí thư thành ủy Hà-nội.

8, Phan Diễn, Bí thư Thành-ủy Đà-nẵng.

9, Lê Hồng Anh, Phó Chủ-nhiệm ủy ban kiểm tra trung ương.

10, Trương Tấn Sang, Trưởng ban Kinh-tế trung ương.

11, Phạm Văn Trà, Thượng-tướng, Bộ-trưởng bộ Quốc-phòng.

12, Nguyễn Văn An, Trưởng ban Tổ-chức trung ương.

13, Trương Quang Được, Trưởng ban Dân-vận trung ương.

14, Trần Đình Hoan, Chánh văn phòng Trung-ương đảng.

15, Nguyễn Khoa Điềm, Bộ trưởng bộ Văn-hóa Thông-tin.

Không như bộ Chính-trị thời 1954-1960, bộ Chính-trị hiện thời, mỗi vị là một mảng. Nếu Hoa-kỳ có đảng Dân-chủ, Cộng-hòa thì bộ Chính-trị hiện giờ có 15 ông, như 15 đảng khác nhau.


5. Kết luận

Kính thưa Quý-vị,

Cảm ơn Quý-vị đã kiên nhẫn ngồi nghe chúng tôi điều trần. Trước khi chấm dứt, chúng tôi xin có đôi giòng kết luận:

5.1, Phần thứ nhất,

Theo những huyền thoại cổ thì vị hoàng đế lập quốc Việt-Nam và Trung-quốc là anh em cùng cha khác mẹ, lãnh thổ Việt-Nam Bắc tới hồ Động-đình, tức bao gồm phần Hoa-Nam, kể từ sông Trường-giang đến vịnh Thái-lan. Thế nhưng trải gần 5 nghìn năm, bị Trung-quốc chiếm dần, cuối cùng chỉ còn lại phần lãnh thổ hiện nay. Trong thời gian ấy, bất cứ triều đại nào, vị vua nào của Trung-quốc cũng muốn chiếm Việt-Nam đặt làm quận huyện. Tính chung, Việt-Nam bị Trung-quốc đô hộ gần nghìn năm. Cho nên bất cứ người Việt-Nam sinh ra cũng đều biết rằng họ luôn luôn phải cảnh giác với cái họa Trung-quốc đe dọa. Hóa cho nên trong giáo dục , trong văn học, trong tín ngưỡng, người Việt luôn đề cao các anh hùng chống xâm lăng Trung-quốc. Thời nào cũng thế, người Việt có thể chia rẽ, chém giết nhau, nhưng khi có họa xâm lăng của Trung-quốc, thì tất cả quên hết, để cùng nhau giữ nước.

Nhưng không ngờ!

Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng nổi!

Toàn thể người Việt trong nước cũng như ở ngoại quốc cũng không thể tin được rằng:

Đảng Cộng-sản từ năm 1930 đến nay (2001), lúc nào cũng nêu cao ngọn cờ yêu nước, mà họ lại cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc. Họ vỗ ngực tự tôn rằng họ với Trung-quốc bang giao trên thế bình đẳng. Việt-Nam với Trung-quốc luôn luôn thân với nhau như môi với răng. Bây giờ họ lại chịu nhục như thế. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt-Nam lại chịu lụy Trung-quốc như vậy!

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 19:

- Chúng tôi có một thắc mắc hết sức quan trọng là đối với Hoa-kỳ, Canada, Úc-đại-lợi, Liên-Âu thì VN dè đặt, nghi ngờ trong vụ việc đầu tư. Sau khi đầu tư rồi, họ tìm đủ cách để làm cho tê liệt các hoạt động. Đối với Hoa-kỳ, Pháp, đều có thời là kẻ thù của họ, thì hiểu nổi. Còn Canada, Úc, Liên-Âu, họ cũng đối xử cùng một thái độ.Trong khi đối với Trung-quốc thì họ hết sức dễ dàng, sau khi đầu tư, họ dành cho mọi ưu đãi?

Gs TĐS:

- Thưa Ngài Chủ-tịch. Vấn đề này rất dài. Xin ngài cho tôi 2 giờ trong cuộc điều trần định kỳ vào tháng 3-2002 mới có thể nói hết được.Tuy nhiên tôi xin tóm lược một câu: sách lược chung của chủ nghĩa Cộng-sản Léninisme, Maoisme là coi tất cả các quốc gia không Cộng-sản là kẻ thù.

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 20:

-Đối với Tây-phương, chính sách của VN nghi ngờ có thể hiểu được. Ban điểm báo cũng như sưu tầm không ngớt trình cho chúng tôi những tin tức, những lời kêu gọi Việt-kiều về nước đầu tư. Chúng tôi điểm lại, không thấy Việt-kiều nào về nước đầu tư mà thành công. Hầu hết họ bị cướp đoạt, thậm chí bị tù, mà không có tội gì cả. Không lẽ chính quyền Việt-Nam lại lỡ làm những việc đạo tặc như vậy sao? Xin Giáo-sư vắn tắt cho các vị hiện diện hôm nay biết vụ việc đó.

Gs TĐS:

- Người Việt ở ngoại quốc, đối với đảng Cộng-sản, đều là Ngụy, là Việt-gian, là Phản-động. Đảng Cộng-sản Việt-Nam có chính sách kỳ thị chủng tộc nhất thế giới, ngay cả vấn đề hôn nhân. Nếu về phương diện y khoa, chúng ta khuyến khích các tộc, dòng nên kết hôn với những tộc, dòng khác, để tạo cho lớp trẻ sau thông minh, xinh đẹp, thì hiện nay tại VN vẫn coi một người Việt kết hôn với người ngoại quốc là một tội. Trong cuộc điều trần trước Quốc-hội năm ngoái, Thứ trưởng Ngoại-giao Nguyễn Đình Bin, chỉ vì có con gái kết hôn với một ngườii Đan-mạch mà bị chụp mũ, bị làm nhục đến không thể tưởng tượng nổi. Do tinh thần đó, nên bất cứ người Việt nào mang tiền về đầu tư, thì họ muốn lấy, muốn bỏ tù, tùy thích. Tôi xin tường thuật một vụ tiêu biểu nhất là vụ Trịnh Vĩnh-Bình ở Hòa-lan. (Tóm lược vụ việc trong 15 phút).

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 21:

- Có bao nhiêu vụ như vụ Trịnh Vĩnh-Bình?

Gs TĐS:

- Nhiều, rất nhiều, cực nhiều. Tổng kết chúng tôi sưu tầm trong 10 năm từ 1990-2000 được 204 hồ sơ, mà số vốn đem về từ 1,5 triệu USD trở lên rồi bị mất trắng. Hầu hết họ đem tiền về đầu tư không qua chính quyền nơi họ cư ngụ, mà đem thẳng về. Nên các quốc gia nơi họ cư ngụ không nắm được chi tiết.

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 22:

- Xin cho biết một vụ tại Pháp, dễ kiểm chứng nhất.

Gs TĐS:

- Đó là một người trẻ 45 tuổi (sinh 1949), tên là Hoareau Jules. Quốc tịch Pháp đã 2 đời. Bố, mẹ gốc là người Việt, nhập tịch Pháp vào năm 1943. Bố nguyên là sĩ quan, trong quân đội Pháp. Mẹ là thương gia. Anh em đều thành đạt, có người là dược sĩ, có người là thương gia, có người là kỹ sư. Jules cũng có học, từng kinh doanh tại Pháp, thành công về tài chánh. Trong một chuyến du lịch VN năm 1993, Jules được chào mời về đầu tư. Trở lại Paris, Jules quyết định mang một số tiền lớn về đầu tư vào dịch vụ Hotel-Restaurant. Năm 1994, Jules thành lập Hotel-Restaurant mang tên Quick tại đường Nguyễn Đình-Chiểu, thuộc quận 3, TP Hồ Chí-Minh. Địa điểm này gần với tòa Lãnh-sư Pháp. Vì rất kinh nghiệm trong nghề, nên chỉ một thời gian ngắn, cuối năm 1994, cơ sở của Jules đã nổi tiếng, lợi nhuận lên cao. Nhưng tiền vào bao nhiêu lại ra đi bấy nhiêu, vì:

- Phải nộp thuế chính thức rất cao.

- Công an di trú tới, trung bình mỗi tháng một lần, điều tra, hỏi han lôi thôi. Mỗi lần như vậy phải lót tay 3 tờ (300 USD).

- Công an khu vực nói thẳng, mỗi tháng phải nộp 5 tờ (500 USD).

- Nhân viên kiểm soát khách sạn, nhà hàng đòi lót tay mỗi tháng 5 tờ (500 USD).

- Bọn xã hội đen (du đãng) thu tiền hàng ngày, mỗi ngày 50 USD.

- Mỗi ngày ít nhất hai, hoặc ba chức sắc dẫn người tới ăn, mà không được phép thu tiền. Khi ăn những khách đặc biệt này toàn uống Cognac Pháp, chứ không uống rượu thường.

Tuy vậy, sau hơn một năm cơ sở càng phát đạt hơn. Rồi bọn xã hội đen đòi một số tiền 10.000 USD, và hăm dọa: “Nếu không trao, sẽ bị Công-an tới bắt giam, Hotel-Restaurant sẽ bị đóng cửa”. Biết rằng không trao số tiền này sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng bất thình lình thì không thể kiếm đâu ra số tiền đó. Jules khất, để xin gia đình gửi từ Pháp sang. Khổ một điều, khi Jules về VN đầu tư, gia đình phản đối. Nay Jules xin tiền, gia đình không trả lời. Thế là hai tháng sau thình lình Công-an đến khách sạn, tông cửa vào một phòng cho khách thuê. Trong phòng có một thiếu nữ. Công-an lập biên bản là khách sạn chứa gái mại dâm. Jules cãi rằng cô gái đó là do khách dẫn vào, thì không phải lỗi ở Jules. Thế nhưng Jules cứ bị bắt giam ở khám Chí-hòa. Khi gia đình biết tin, thì cha, mẹ vội bay sang thăm con. Người ta đòi: Phải nộp 10.000 USD thì Jules sẽ được tha. Bố mẹ đành nộp tiền. Jules được thả ra. Nghĩa là Jules bị bắt không do Tòa-án, lúc thả cũng không, và tiền phạt cũng không do tòa. Khu Jules trở lại cơ sở Quick thì hỡi ôi, chỉ còn cái nhà trống, máy lạnh, dường, bàn, ghế đều biến mất.

Bà mẹ Jules có quen thân với một số giới chức cao cấp VN. Khi sang VN, thấy con mình bị tống tiền, bà làm lớn truyện. Thình lình bà lâm bệnh, phải trở về Paris điều trị. Nhà thương khám phá ra bà bị đầu độc, cùng một loại thuốc với những loại mà tôi đã trình bày trên. Hiện (10-2001) bà vẫn nói năng được, nhưng mắt bị mù, chân tay bất toại.

Quý vị có thể tham khảo hồ sơ này tại tòa Lãnh-sự Pháp ở TP Hồ Chí Minh, và tại IFA/Direction du Sud-Est.

5.1.1

Họ kết tội Pháp là Thực-dân, những người thân Pháp là Việt-gian. Họ nhục mạ triều Nguyễn (1802-1945) vì triều đình này từng ký hòa ước vào năm 1862 và 1884, nhượng 6 tỉnh miền Nam cho Pháp. Trong những phần trên, tôi không kể việc triều Nguyễn ký hiệp ước nhường đất cho Pháp. Bấy giờ nước Pháp trên đường đi tìm thuộc địa, đã khai chiến với triều Nguyễn. Vì gươm đao, ghe thuyền không thể chống lại với liên thanh, đại bác, chiến hạm. Triều Nguyễn bị bại trận mà phải nhường đất, chứ không vị vua nào muốn như thế. Năm 1955, Pháp trả lại tất cả đất cho Việt-Nam. Hiện người Pháp không làm chủ một thước đất nào trên lãnh thổ Việt-Nam, mà chỉ có mấy chục vạn người Việt đang làm chủ nhiều khu đất trên nước Pháp.

5.1.2,

Họ kết tội Hoa-kỳ là đế quốc, tất cả những người Việt thân Hoa-kỳ là Ngụy. Trong khi Hoa-kỳ không hề ép bất cứ chính quyền Việt nào, người Việt nào nhượng cho Hoa-kỳ một thước đất. Hiện không có một người Hoa-kỳ nào được làm chủ một thước đất trên lãnh thổ Việt-Nam, mà chỉ có gần hai triệu người Việt-Nam làm chủ không biết bao nhiêu đất trên khắp các tiểu bang Hoa-kỳ.

5.2, Phần thứ nhì

5.2.1,

Năm 1540, họ Mạc dâng đất cho Minh-triều, vì bị triều Lê trung hưng ép phía Nam, bị 22 vạn quân Minh ép phía Bắc. Năm 1862,1884 tiều Nguyễn nhường 6 tỉnh miền Nam cho Pháp vì bại trận. Tại sao:

Năm 1958, vào thịnh thời của Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản. Miền Bắc không bị miền Nam ép, không có chiến tranh với Trung-quốc, mà Chủ-tích Hồ Chí-Minh và Bộ Chính-trị lại chấp nhận nhượng vùng biển rộng lớn, trong đó có hai quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) cho Trung-quốc?

Năm 1999, 2000, trong nội địa Việt-Nam không có chiến tranh, cũng chẳng có đối lập. Hoa-kỳ, Liên-Âu đang theo đuổi chính sách ngoại giao mềm dẻo với Việt-Nam. Việt-Hoa không có chiến tranh. Thế mà Bộ Chính-trị lại cắt đất , cắt biển dâng cho Trung-quốc? Dâng vì lý do gì? Để được gì? Họ có thể nhượng bất cứ phần đất nào! Cớ sao họ lại nhượng vùng Nam Nam-quan, là vùng đất thiêng, mang tự hào của người Việt?

5.2.2,

Theo Hiến-pháp của Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa, của Cộng-hòa Chủ-nghĩa Việt-Nam, bên cạnh Chính-phủ lúc nào cũng có Quốc-hội. Thỏa ước ký với Hoa-kỳ họ đưa ra Quốc-hội phê chuẩn. Thế nhưng ba lần cắt đất, Quốc-hội không được quyết định, không được bàn, và cũng không được biết. Liệu bây giờ, vụ việc nổ tung, họ có đem hai hiệp định 1999-2000 ra cho Quốc-hội phê chuẩn không? (Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn Văn Canh công bố hiệp ước lãnh thổ ký 31-12-1999, Quốc-hội VN đã thông qua vào tháng 6-2000. Chúng tôi đã hỏi 14 dân biểu, họ đều nói không biết gì, có lẽ nhà nước đã loan báo không thực trên báo chí để lừa thế giới chăng?). Nếu như nay họ đem ra cho Quốc-hội biểu quyết hai hiệp định trên, thì tôi tin rằng không có vị đại biểu nào dám bỏ phiếu thuận. Giả như Quốc-hội bác bỏ, thì liệu Trung-quốc có chịu trả đất ở biên giới phía Bắc không? Họ có chịu rút người, rút bộ máy hành chánh, quân sự đã đặt gần sáu chục năm qua về không? Nếu như họ không rút, thì Quốc-hội Việt-Nam sẽ làm gì? Liệu VN có dám đem quân chiếm lại không? Tôi tin là không, vì mấy ông tướng trong quân đội đã chịu lụy Trung-quốc thì liệu các ông có dám đem quân tái chiếm chăng?

5.2.3,

Trong mấy năm qua, chúng tôi không đồng ý với Quý-vị, vì trong việc bang giao tại Á-châu, Quý-vị có khuynh hướng coi Việt-Nam như một thuộc quốc, đôi khi tệ hơn, coi như một tỉnh của Trung-quốc. Tôi từng phản đối.

Hôm nay đây tôi xin lỗi Qúy-vị! Quý-vị đã có cái nhìn đúng. Chúng tôi nhìn sai! Sai hoàn toàn, vì hiện chính phủ CHXHCNVN, dường như chấp nhận để Trung-quốc đô hộ không chính thức.

Khi Việt-Nam sắp ký thương ước với Hoa-kỳ, thì Trung-quốc bắt phải ngừng, chờ Trung-quốc ký trước. Hơn năm sau VN mới lạch ạch ký, mà cho đến lúc này Quốc-hội VN vẫn chưa biểu quyết thông qua. Quý vị đều biết, trừ gạo và cá, còn những sản phẩm xuất cảng khác của VN, Trung-quốc đều giống nhau. Trung-quốc bắt VN ký sau một năm, chậm thông qua một năm nữa. Với 2 năm, Trung-quốc đã chiếm lĩnh xong thị trường. Rồi không chừng Trung-quốc tìm cách để làm chậm trễ thi hành ít năm nữa.

5.2.4,

Suốt 5 năm qua, Việt-Nam trở thành thuộc địa Trung-quốc về phương diện văn hóa. Nhất là từ khi Trung-quốc tiếp thu Hương-cảng.

- Phim ảnh, âm nhạc Trung-quốc chiếm lĩnh hoàn toàn trên hệ thống truyền thanh, truyền hình và báo chí. Phim ảnh, âm nhạc Việt-Nam gần như bị đào thải. Mở bất cứ tờ báo chuyên về kịch ảnh, truyền hình, cũng chỉ thấy giới thiệu phim Hương-cảng, Trung-quốc. Đi đâu cũng thấy giới trẻ luận bàn về những phim Trung-quốc, những diễn viên, ca sĩ, người mẫu Hương-cảng, Trung-quốc, mà không biết gì về những diễn viên, ca sĩ , người mẫu Việt. Diễn viên, ca sĩ, người mẫu Việt đói khổ quá, đến độ phải đi làm gái điếm. Báo chí Việt-Nam trong thời gian từ 30 tháng 10 đến nay 9 tháng 11 năm 2001, không ngớt tường thuật một dây gái điếm trên 200 người tại thành phố Hồ Chí-Minh, toàn diễn viên, ca sĩ, người mẫu danh tiếng; do tú bà Huỳnh-thị Ngọc-Quỳnh làm chủ. Mỗi lần đi khách như vậy, họ chỉ được 50 USD đến 150 USD, mà lại phải chia cho Tú-bà 30%. Rút cuộc họ chỉ được hưởng rất ít. (7)

Ghi chú dành cho người Việt (7)

(7), Phát hiện đường dây gái gọi cao cấp Bắc – Nam

Rạng sáng 31/10, 6 người mẫu tên tuổi trong làng người mẫu Việt Nam, đều đến từ Hà Nội, đã bị Công an TP. Hồ Chí Minh bắt quả tang bán dâm cho khách tại 3 khách sạn TP. Hồ Chí Minh và một khách sạn Vũng Tàu.

Theo lời khai của nhóm gái bán dâm hạng sang này, các cô vào TP. Hồ Chí Minh kiếm tiền nhờ ”mối” của ”tú bà” Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh. Sau mỗi lần ”đi khách” với giá từ 400.000 đến 15 triệu đồng (tùy ”tên tuổi”, đẳng cấp của người mẫu), bên bán chia cho Quỳnh 30% lợi nhuận để trả công dẫn dắt.

Khám nhà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh, cơ quan chức năng thu được một số tài liệu quan trọng chứng minh vai trò điều khiển đường dây ”gái gọi” cao cấp này. Trong đó, có name card của nhiều nhân vật ”tiếng tăm” trong một số lĩnh vực, 100 số điện thoại của các cô gái (đa phần hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh và trình diễn thời trang) trong bộ nhớ của điện thoại di động. Đặc biệt, e-mail của nhiều khách, được Quỳnh chào ”hàng” bằng chiếc vi tính nối mạng Internet tại nhà.

Theo tài liệu trinh sát của Đội phòng chống tệ nạn xã hội, Phòng cảnh sát Hình sự, Quỳnh có khả năng cùng lúc đáp ứng 40 ”yêu cầu”, bởi trong tay ả có khoảng bằng ấy cô gái sẵn sàng ”đi khách” tại bất cứ đâu, chỉ cần hẹn trước qua điện thoại. Khi cần, giới ăn chơi hàng ”đại gia” chỉ mất công nhấc điện thoại, hô tên người đẹp. Việc đặt trước chỉ được áp dụng trong trường hợp những nhân vật này đòi ”hàng độc”. Việc mua – bán lâu, mau tùy thích, bởi người mẫu đến ở khách sạn thường không phải trình giấy tờ và vào sổ như người thường.

6 người mẫu vừa bị bắt chỉ là một mảng nhỏ trong đường dây gái gọi do Ngọc Quỳnh điều khiển bị phát hiện. Là một thư ký văn phòng gốc Huế giỏi tiếng Anh, vi tính và có những mối quan hệ rộng rãi với giới kinh doanh và trí thức sang trọng trong và ngoài nước, Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh rất có thể là một bà trùm trí thức chuyên ‘‘chăn dắt’’, điều phối đường dây gái gọi lớn xuyên Việt.

(Theo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong)

TP HCM: Phá một đường dây mại dâm lớn

Tối qua (30/10), 6 gái bán dâm “cao cấp” đã bị cơ quan công an bắt quả tang khi đang cùng khách mua dâm. Trong số này có vài cô từng là người mẫu thời trang, chỉ phục vụ giới thượng lưu.

Theo đánh giá ban đầu, đường dây do tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh (35 tuổi, trú tại phường 15, quận Phú Nhuận) điều hành, đã hoạt động từ lâu.

Tại cơ quan điều tra, bà Quỳnh khai, giá cho mỗi lần “đi khách” với loại gái cao cấp này là 100 USD/người, còn bao trọn gói đi chơi xa là 500 USD/chuyến. Khi có nhu cầu, khách chỉ cần gọi vào máy điện thoại di động của tú bà Quỳnh. Vụ án đang được tiếp tục mở rộng.

Nhiều người mẫu, diễn viên có tên trong danh sách gái “cao cấp”

Đường dây gái gọi cao cấp do Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh tổ chức, bị phát hiện hôm 30/10, gồm hơn 100 cô, đa số là người mẫu, diễn viên điện ảnh, có thể tiếp nhận cùng lúc 40 đơn đặt hàng. Cơ quan công an đã phát hiện cuốn sổ ghi danh hàng trăm khách hàng là quan chức, doanh nhân, Việt kiều…

Ba người mẫu ngồi trong phòng hỏi cung với con mắt thất thần. Cứng tuổi hơn cả là N.T.H, sinh 1970, được giới trình diễn thời trang biết đến dưới cái tên Vân-Anh. Vẫn gương mặt khả ái với bộ váy áo kiêu kỳ, cô trả lời câu hỏi của cán bộ điều tra bằng giọng nói nhỏ như hơi thở, nước mắt rưng rưng. Hai người khác là Phạm Thị Dung (1980), và Nguyễn Thị Hoàng Yến (1972). Họ cùng Vân-Anh, bị Đội Phòng chống tệ nạn xã hội, Công an TP HCM bắt quả tang bán dâm tại 3 khách sạn lớn trong thành phố, ngày 30/10.

Đến 19h30′ cùng ngày, ba gái cao cấp khác, bị bắt quả tang đang “hoạt động” tại một khách sạn ở Vũng Tàu, cũng được di lý về Công an thành phố. Một trinh sát, người còn lấm bụi đường chỉ cô gái trẻ, trông dáng rụt rè, nói: “Đó là người mẫu Trần Gia Linh, sinh 1981, từng đóng quảng cáo cho một mặt hàng khá phổ biến trên tivi”. Hai cô còn lại là H.T.C.T. (1983), T.K.M. (1977).

Chân dung mụ tú bà

“Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh là một trí thức và tất cả 6 cô gái bị bắt quả tang trong đường dây này đều là người mẫu ở Hà Nội”, thiếu tá Trần Văn Ngọc, Đội phó Đội 8, Phòng Cảnh sát hình sự TP HCM khẳng định.

Quỳnh, sinh 1966, cử nhân Anh văn, giáo viên tin học, độc thân, quê ở Huế, vào TP HCM khi còn nhỏ. Quỳnh khai, các cô đào phục vụ ở nhà hàng, khách sạn thường than thở là thu nhập chỉ được… 200.000 đồng/ngày, lại còn bị khách hành hạ đủ kiểu, nên nhờ thị tìm người sang trọng, trí thức để “lao động nhẹ nhàng hơn”. Vậy là Quỳnh môi giới cho họ gặp những cán bộ nhà nước, “đại gia” mà mình biết, và đứng giữa ăn hoa hồng.

Công việc tiến triển, tú bà chuyển sang quan hệ với giới người mẫu, diễn viên điện ảnh. Trong bộ nhớ máy điện thoại di động của Ngọc Quỳnh, có hơn 100 số điện thoại của rất nhiều cô gái có tên tuổi. Quỳnh thú nhận, nếu cùng lúc có 40 yêu cầu thì cũng có thể điều phối, bố trí được. Riêng hàng độc thì phải đặt trước để xếp lịch. Quỳnh có nhiều kênh để tiếp thị hàng, trong đó có cả Internet để quảng cáo tới khách ngoại quốc.

Khám xét nơi ở của Quỳnh, công an thu được nhiều giấy tờ quan trọng và một “ổ” namecard, cùng cuốn sổ ghi danh hàng loạt nhân vật quan trọng, từ cán bộ, đến doanh nhân và giới Việt kiều… Để được đáp ứng yêu cầu, những người này phải bỏ ra ít nhất 400.000 đồng/lần, phổ biến là 100 USD/lần. Những bông hoa có tiếng giá lên tới 500-1.000 USD/đêm. Tỷ lệ ăn chia giữa gái và tú bà là 7-3.

Con đường biến người mẫu thành “gái gọi”

Theo lời khai của 6 cô gái, họ hầu hết có văn hóa 12/12, có người đang theo học đại học… Một điểm chung nữa là họ mới “đi khách” được hơn một tháng, và đều “vô tình” qua sự giới thiệu lẫn nhau.

Kể về con đường dẫn mình tới hoạt động phi pháp này, T.G.L., 20 tuổi, khai: “Năm 1997, tôi tham gia lớp người mẫu tại báo T.T.T., được nửa năm thì đi diễn thời trang. Tôi không làm chính thức cho công ty nào, thường biểu diễn ở Cung Văn hóa Hà Nội… Trong thời gian vào TP HCM học tiếp viên hàng không, tôi gặp cô V.A., và vì muốn có tiền để học, tôi đã nhờ V.A. giúp. Cô này quen và cho bà Quỳnh số điện thoại của tôi. Bà Quỳnh hẹn gặp mặt, cho biết khi có khách sẽ gọi. Tôi vào đường dây này được tháng rưỡi nay, bán dâm được 8 lần, giá mỗi lần 100-150 USD”.

Còn V.A., 31 tuổi, khai: “Cách nay 2 tháng, tôi vào Sài Gòn chơi và đến khách sạn Mặt Trời, trên đường Nguyễn Hữu Cầu, quận 1, hát karaoke. Trong số bạn bè của tôi có người quen biết chị Quỳnh, nên chị ấy đã đến làm quen, và xin số điện thoại của tôi để môi giới bán dâm. Tôi gia nhập đường dây này được tháng nay…”.

T.K.M., 24 tuổi, tốt nghiệp Đại học Mở Hà Nội (khoa Ngoại ngữ), thì khai chi tiết hơn: “Tôi đi khách được tháng nay, do bà Quỳnh làm chủ. Giá 100-500 USD. Nếu đi một giờ thì 100 USD, nếu qua đêm với khách tại TP HCM thì 200 USD. Còn đi Vũng Tàu một ngày là 500 USD. Tỷ lệ ăn chia: tôi 70%, bà Quỳnh 30%. Tôi làm gái là do cô L. giới thiệu, bởi bạn trai của L. là bạn thân với bạn trai tôi. Từ khi làm với bà Quỳnh, tôi được kêu đi khách 4 lần. Ngoài ra, tôi còn đi với khách quen 2 lần… Tôi từng làm người mẫu để quảng cáo cho mỹ phẩm của công ty mỹ phẩm K.M. của nước ngoài. Ngoài ra, tôi còn cùng L. làm người mẫu ở Hà Nội, thuộc nhóm Ngôi Sao Xanh”.

Ai đứng sau thị Quỳnh?

Tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh khai, còn một người tên H. cũng làm môi giới, và thị phải chia cho nhân vật này 50% lợi nhuận thu được từ những phi vụ “hoạt động” của gái.

Lời khai của các cô gái bị bắt đề cập khách sạn H.N. trên đường Nguyễn Văn Thủ, Đ.H.H. đường Nguyễn Thị Minh Khai, L.B. đường Bùi Thị Xuân…, và cả một nhà nghỉ của cơ quan nhà nước. Đây được coi là “bãi đáp” an toàn, bởi gái của Quỳnh chỉ cần nói số phòng mình cần lên, là được vào thẳng, không cần gửi lại giấy chứng minh nhân dân, và sự hiện diện của họ cũng không được thể hiện trên sổ sách. Điều này dẫn tới nghi vấn về sự mẫn cán của các lực lượng chuyên làm công tác kiểm tra.

Đường dây Ngọc Quỳnh tồn tại nhờ khách nội

Khi bắt khẩn cấp tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh ở đường Nguyễn Trọng Tuyển, phường 15, quận Phú Nhuận, TP HCM, lực lượng phòng chống tệ nạn Công an thành phố thu giữ được danh sách của hàng trăm khách mua dâm, ghi đầy đủ cả chức vụ, điện thoại. Ngọc Quỳnh khai, trong số đó, dân làng chơi nước ngoài chỉ chiếm 20%.

Cùng với danh sách này, cơ quan công an còn phát hiện những cuốn album dán ảnh cả trăm người mẫu với trang phục áo tắm hai mảnh để quảng cáo, chào hàng và thỏa thuận giá cả với khách. Để quảng cáo cho gái, Quỳnh đặt ở nhà hai dàn máy tính nối Internet, mà theo lời giải thích của một người mẫu bán dâm, là để chào khách du lịch nước ngoài.

Tuy nhiên một số cô gái bị bắt cho biết, họ không thích “đi” với khách ngoại quốc, vì họ quá sòng phẳng. Đã ngã giá bao nhiêu thì chi bấy nhiêu. Còn khách “nội”, nhiều khi còn được “boa” gấp 2-3 lần giá thỏa thuận ban đầu, nếu biết làm vừa lòng “các sếp”. Đó là chưa kể được dẫn đi mua sắm đồ hiệu, nữ trang cao cấp… Bên cạnh đó, nếu gặp được các ông chủ doanh nghiệp có máu mặt, sau lần gặp gỡ còn hé mở nhiều cơ hội để các cô “tiến bước”. Họ có thể được tham gia các hợp đồng làm người mẫu quảng cáo, chụp hình làm catalogue giới thiệu sản phẩm… hoặc những “sô” diễn nhẹ nhàng trong các dịp khai trương, động thổ, vừa thu nhập cao vừa có điều kiện mở rộng mối quan hệ.

Trong 6 người bị bắt quả tang đang mua dâm với người mẫu thì có tới 3 khách làng chơi ở tỉnh. Họ là chủ các doanh nghiệp, nhà hàng, người buôn bán giàu có… Số còn lại là người ở TP HCM. Họ bị phạt hành chính 500.000 đến 1 triệu đồng, và được cho về. Cơ quan công an sẽ có một thông báo tới đơn vị, địa phương, gia đình những người này theo đúng quy định hiện hành.

Một sĩ quan công an công tác nhiều năm ở Đội Phòng chống tệ nạn xã hội lo ngại: “Xem ra hình phạt như vậy chưa đủ ép phê để răn đe những đấng mày râu ham của lạ”. Chính những kẻ ăn chơi sa đọa này đã sản sinh ra những nhóm thanh nữ không chịu học hành, rèn luyện mà chỉ muốn thành đạt nhanh nhờ “vốn tự có”.

(Theo NLĐ)

- Các sách Trung-quốc được dịch, bán tự do: Từ tiểu thuyết tới sách tham khảo, dĩ chí cả bói toán, phong thủy. Nhà xuất bản Văn-học vừa cho dịch, xuất bản hai bộ tiểu thuyết của Kim-Dung, mà từ trước đến nay bị coi là quốc cấm. Trong khi nhà nước Việt-Nam hô hào giao lưu văn hóa với người Việt ở nước ngoài, nhưng họ chỉ muốn đem sách trong nước ra ngoài bán, mà họ không cho đem sách của người Việt ở ngoại quốc vào trong nước, dù là sách khoa học, kỹ thuật, y học, tin học. Trước sau họ cho xuất bản không quá 10 quyển sách của người Việt hải ngoại, mà đa số sách đó nói xấu về VNCH, hoặc bôi nhọ xã hội người Việt ở ngoại quốc. Đi đâu cũng thấy người lớn, trẻ con luận bàn những nhân vật trong các bộ sách:

1/ Mười đại hoàng đế Trung-quốc

2/ Mười đại thừa tướng Trung-quốc.

10/ Mười đại gian thần Trung-quốc

không ai nói tới những anh hùng Trưng Trắc, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ từng thắng Trung-quốc bảo vệ đất nước quốc.

Ghi chú của IFA (bổ túc ngày 13-2-2002)

Trước khi vụ nhượng đất cho Trung-quốc bị lộ (2001), Liên-Âu, nhất là Pháp, rất cảm tình với Việt-Nam. Trong nghi lễ, đối với các cơ sở Ngoại-giao VN, Liên-Âu thường không dấu diếm tình cảm đặc biệt này. Tỷ như một cơ quan vận tải, mỗi tháng dành cho tòa Đại-sứ VN tại Pháp một container, muốn gửi gì về VN thì gửi, miễn phí. Gia đình nhân viên sứ quán được nhập cảnh vào Pháp học thoải mái, miễn phí. Nay thì Liên-Âu coi VN như một thuộc địa của Trung-quốc. Bằng chứng, hồi Tết Nhâm-ngọ vừa qua, Liên-Âu quay một vòng 180 độ, trong nghi lễ Ngoại-giaop đối với VN. Ngày 13 tháng 2 năm 2002 tức mùng hai Tết, Tổng-thống Jacques Chirac đã mời ông Đại-sứ Trung-quốc, nhân viên sứ quán, phái đoàn Hoa-kiều đến điện Élysée ăn Tết, và chúc Tết. Tổng-thống cũng mời một phái đoàn Việt-kiều cùng vào điện Élysée ăn Tết. Tổng-thống chúc Tết, nhận lời chúc Tết của các đại diện Việt-Nam, nhưng không mời Đại-sứ VN. Hầu hết các Quốc-trưởng những nước Liên-Âu đều gửi thư, chúc tết Đại-sứ các nước Á-châu. Duy Đại-sứ VN thì không, vì họ coi VN là một thuộc quốc của Trung-quốc, thì …chúc Tết Trung-quốc cũng đủ rồi, không cần chúc tết một tỉnh (VN) của Trung-quốc nữa.

Sau lần viếng thăm mới đây của Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân (17-2-2002), bộ Giáo-dục và Đào-tạo của CHXH CH Việt-Nam đang bắt tay vào việc sửa đổi sách giáo khoa. Cũng nên nhắc lại, sách giáo khoa Việt-Nam (CS) từ 1947, luôn đề cao “Trung-quốc hôm này là Việt-Nam ngày mai”, bóp méo những lần Trung-hoa xâm lăng VN. Đến năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình xua quân tràn qua biên giới, tàn phá 6 tỉnh Bắc-biên, thì tất cả những cái xấu xa của nghìn năm đô hộ lại được đem vào sách giáo khoa, kể cả những xấu xa mới từ 1947 đến 1979. Trong dịp này Giang Chủ-tịch cũng nhắc nhở Tổng-bí thư đảng Cộng-sản Việt-Nam là Nông Đức Mạnh rằng:

“Trong lần Nông thăm Trung-quốc, Giang đề nghị Nông có 16 chữ vàng, làm mẫu mực cho việc bang giao Hoa-Việt:

Láng giềng hữu nghị,

Hợp tác toàn diện.

Ổn định lâu dài,

Hướng tới tương lai”

Nay nên thêm vào 4 chữ nữa là 20:

Hoàn toàn tin cậy”.

Cho đến hôm nay, chúng tôi cũng chưa biết ông Nông Đức Mạnh có nghe theo không?

5.2.5,

Chúng tôi muốn biết các vị có nhận thấy sự bất thường trong thông tin tại Việt-Nam hiện giờ không? Hiệp định ký nhượng đất ký ngày 30-12-1999, sau đó diễn ra:

- Cuộc trao đất,

- Cuộc trao dân,

- Các cơ sở hành chính, quân sự Việt-Nam phải rút khỏi khu nhượng địa, rất ồn ào.

- Các chính quyền vùng bị nhượng từ cấp xã, huyện, tỉnh được thông báo, được chỉ thị rộng rãi.

- Suốt gần 2 năm qua, có hàng triệu người Việt băng qua các cửa khẩu đã nhượng cho Trung-quốc, thì họ phải biết rất rõ khu đất thiêng bị mất.

Như vậy thì cuộc nhượng đất này đâu có thể bưng bít? Báo chí trong nước cấm không được đăng tải là lẽ thường. Thế sao không ai thông báo cho người Việt hải ngoại? Mãi tới những ngày gần đây (tháng 9 năm 2001) mới thấy trên Internet từ trong nước gửi ra ba bài của Đỗ Việt Sơn, Lê Chí Quang và Quang-Chính, nói lờ mờ về vụ này. Chúng tôi biết cái bí ẩn đó là lớp người mới bất mãn với lớp người cũ trong Bộ Chính-trị. Họ muốn quy trách cho cá nhân, trong khi bộ Chính-trị đảng Cộng-sản mới là những người chủ động.


Ghi chú của IFA,

Chúng tôi nhận được lệnh phải điều trần về vấn đề này do văn thư số 3778-7 ngày 11-2-2001. Chúng tôi ủy cho Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, vì thuộc phần hành của ông. Mãi tới ngày 10-11-2001 ông mới hoàn tất và điều trần. Theo như chúng tôi biết thì cho đến ngày này, trong nước mới chỉ có vài bài gửi ra nói lơ mơ về vụ cắt đất. Cho nên người ta gán cho chúng tôi (IFA) và Bác-sĩ Trần là người đầu tiên bắn phi đạn vào Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản VN. Chúng tôi xin minh xác: Chúng tôi cũng như Bác-sĩ Trần chỉ làm nhiệm vụ của của người nghiên cứu. Suốt toàn bản điều trần, không hề có một câu ác ý hay thù nghịch với đảng Cộng-sản Trung-quốc cũng như VN.

Thưa Quý-vị,

Phần điều trần của tôi đến đây chấm dứt. Chúng tôi đợi những thắc mắc của Quý-vị.

Cử tọa đặt câu hỏi, câu hỏi thứ thứ 23:

- Một nguồn tin thân cận, ông Lê Kinh Tài là một Đại-sứ của Việt-Nam có nói rằng, sở dĩ ông Nông Đức Mạnh được đưa lên chức Tổng Bí-thư, vì nhờ uy tín của thân phụ là cố Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Sự thực ra sao?

Một vị trong chủ-tọa đoàn (là Giáo sư y khoa) trả lời:

- Câu hỏi của Ngài đặt Gs Trần trước một khó khăn. Nếu ông không nói thực thì ông phạm tội đại hình là nói dối chúng ta. Còn như ông nói ra thì ông sẽ bị kiện lôi thôi. Tài liệu nghiên cứu ADN (DNA) về ông Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu của Gs Trần đã bán cho công ty DNAW hồi tháng 3 vừa rồi. Nên không thể tiết lộ. Tôi chỉ có nói tổng quát, tài liệu đó dùng hệ thống ADN để làm sáng tỏ nguồn gốc mơ hồ của các danh nhân cận đại Việt-Nam, trong ấy có 2 vụ lớn nhất.

- Cận sử, cũng như dư luận nói rằng Đại-Nam hoàng đế Bảo-Đại là con ông Hồng-Đề chứ không phải là con của Đại-Nam hoàng đế Khải-Định. Sự thực ra sao? Nhóm của Giáo-sư Trần đã tìm ra, được kiểm nhận là đúng với phương pháp ADN mới nhất (3-2001).

- Đảng Cộng-sản VN công bố Chủ-tịch Hồ Chí Minh là con ông Phó-bảng Nguyễn Sinh Huy. Ông Nguyễn Sinh-Huy là con một nông dân tên Nguyễn Sinh-Nhậm. Nhưng sử gia Trần Quốc Vượng của viện Sử-học Hà-nội lại công bố rằng ông Nguyễn Sinh Huy không phải là con ông Nguyễn Sinh-Nhậâm mà là con ông Hồ Sĩ Tạo. Rồi những nguồn tin trong nước nói ông Nông Đức Mạnh và mấy người nữa là con của Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Sự thực ra sao? Nhóm của Giáo-sư Trần cũng nghiên cứu, được kiểm nhận là đúng với phương pháp ADN mới nhất (3-2001).

Vẫn vị cử tọa trên:

- Làm thế nào mà Gs Trần có thể lấy được ADN của những người trong cuộc?

Vẫn vị trong chủ tọa đoàn:

- Thưa Ngài không khó vì …(chúng tôi bị cấm không phổ biến). Ngay những xương của người quá cố lâu rồi, ADN vẫn có khả năng xác định.

Tài liệu này được đánh số IFA-532-101001

PHỤ BẢN

Về cuộc mật đàm giữa Tổng Bí-thư Đỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn Kiệt và Chủ-tịch nhà nước Trung-quốc Giang Trạch Dân năm 1997.

Lời giới thiệu của IFA

Tháng bẩy năm 1977, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ được cử làm trưởng đoàn Pháp, của Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (Comité médical Franco-Chinois=CMFC) dẫn phái đoàn Pháp sang Trung-quốc làm việc trong hai tháng ở Bắc-kinh.

Đang lúc ông ở Bắc-kinh, thì Tổng-bí thư đảng Cộng-sản VN. Đỗ Mười và Thủ-tướng CS. Võ Văn-Kiệt cũng sang đây, hội với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch-Dân. Nhờ quen thân với một vài ký giả ban Việt-Ngữ của đài tiếng nói Bắc-kinh, ông biết khá nhiều về cuộc mật nghị này. Trở về, ông viết thư cho một người bạn là ký giả Hồ Anh, chủ nhiệm bán nguyệt san Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, Hoa-kỳ. Tuy là thư riêng, nhưng đây là một tài liệu lịch sử bang giao Hoa-Việt, nó có thể giúp độc giả một cái nhìn rõ ràng hơn về bang giao giữa hai đảng Cộng-sản Trung-quốc, Việt-Nam, nên chúng tôi xin đăng nguyên văn, để một biến cố lịch sử này không bị chôn vùi. Cứ như nội dung bài này, thì năm 1997, đảng Cộng-sản VN còn kênh với đảng CS Trung-quốc, thế mà sau đó sang thời kỳ Lê Khả Phiêu, thì Trung-quốc dùng phép tắc nào mà biến VN thành một thuộc địa? Điều này xin để các vị cao minh giải đoán.

Paris ngày 20 tháng 9 năm 1997.

Kính thăm anh, và cháu Thủy-Tiên của chú.

Tôi vừa đi Trung-quốc về anh ạ. Sau hai tháng ăn cơm Tầu, tôi lên ba ký. Cái bụng trông giống bụng Đổng Trác quá. Nhờ vậy sức khỏe tương đối dồi dào, ngày nào cũng nộp thuế cho cô bạn gái, vì vậy cổ cũng xí xái cho cái tội, bỏ cổ một thân một mình ở giữa cái xứ Paris ồn ào này, ngày ngày ngồi vọng phu. Đi xa về kể chuyện cho anh và cháu đọc, gọi là chút quà của xứ sở của Khổng-tử, và xứ sở của Khuất-Nguyên, của Văn Thiên-Tường.

Bắt đầu từ tháng sáu, chúng tôi đã chuẩn bị. Sau cả tháng hội họp, phân chia nhiệm vụ, chúng tôi lên đường Hoa du. Đoàn của tôi gồm 9 đứa, thuộc Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (CFMC). Lần này chúng tôi làm nhiệm vụ trao, tức đem chuông đi đánh xứ người, mà chủ đề là giải phẫu chỉnh hình.

Tất cả 9 đứa đều là giáo sư y khoa. Lớn nhất 64 tuổi, nhỏ nhất 45 tuổi, chia ra sáu đực, ba cái. Tám đứa đều là con cháu tộc Gaullois, còn tôi là con Rồng cháu Tiên. Kể về khả năng y khoa thì tôi đứng hạng bét. Nhưng sở dĩ tôi được làm trưởng đoàn, vì sống lâu lên lão làng. Cả 8 đứa đều mới được nghị định bổ nhiệm đâu năm, sáu năm. Riêng tôi, tôi đã ở trong CMFC đúng 20 năm. Vả lại, tôi được các bằng hữu Trung-quốc tín nhiệm, lại là thổ công trên đất Hoa-hạ, nên tôi nghiễm nhiên làm trưởng đoàn. Oai hơn tổng Cóc! Cả tám đứa đều có vợ hay chồng tháp tùng, bởi mấy khi được Hoa du. Có đứa còn mang cả con đi. Thành ra trên danh nghĩa có 9 đứa, mà phái đoàn lên tới 21 người. Được cái túi tiền của CMFC khá lớn, do các viện bào chế UPSA, UP John, Rhône Poulenc, Roche, MSD, Roussel… đài thọ, nên tôi chi cho phái đoàn thoải mái.

Chúng tôi tới Bắc-kinh ngày 2 tháng 7 năm 1997 bằng phi cơ Air France. Khi phi cơ vừa chạm đất, tôi ra oai:

- Tất cả tụi bay ngồi tại chỗ, nhường cho hành khách xuống trước.

Chúng tôi thuộc loại VIP, được đón rước, tặng hoa, chào mừng nên không phải xếp hàng, mọi thủ tục quan thuế, đóng dấu trên thông hành đã có người lo.

Sắp xếp, ấn định chương trình xong, nhiệm vụ của tôi coi như không còn gì đáng quan tâm. Anh biết không? Ở xứ Pháp mà một người đàn ông có chút máu văn nghệ như tôi đi ra ngoài cu ky một mình thì bị coi là ích kỷ, là bệnh hoạn, nên tôi đã hẹn danh ca Diệu-Nghi của đoàn văn công Hàng-châu gặp nhau ở Bắc-kinh. Nàng tới Bắc-kinh trước, khi tôi tới phi trường, thì nàng mặc bộ xiêm y khi đóng vai Dương Quý-phi, đón tôi, làm cả đoàn CMFC lé mắt phục tôi. Sau khi mọi việc chạy tốt, tôi xé lẻ, tiếu ngạo Bắc-kinh với Dương Quý-phi!

Anh biết không, sang Bắc-kinh, ngoài nhân viên phái đoàn, tôi không có ai là bạn cả để bàn chuyện văn chương, ngoài Diệu-Nghi. Diệu-Nghi tuy đẹp, nhưng văn chương thì nàng ẹ quá (Không lẽ suốt ngày lên giường?). Buồn nẫu ruột ra được. May ơi là may, tôi gặp một anh bạn cũ, hiện làm việc trong ban Việt-Ngữ đài Bắc-kinh. Thế là hữu bằng tự viễn phương lai (1), tôi có bạn mà bạn có thể nói tiếng Hoa, tiếng Việt. Hơn nữa chúng tôi có nhiều hiểu biết về vấn đề VN. Anh bạn cũng có vợ là danh ca người Tô-châu. Thế là 4 chúng tôi cùng tiếu ngạo khắp kinh đô cổ kính này. Anh ta giới thiệu cho tôi mấy người bạn mới. Mấy anh ấy đều là Tầu lai, trước đây sống ở Chợ-lớn, Hà-nội cả. Nghĩa là Tầu thì bảo họ là Ố-nàm nhần. (2) Còn Việt thì bảo họ là Chệt.(3)

Tôi sang được bẩy ngày, thì anh bạn ký giả báo cho biết rằng:

“Quốc-vương Đỗ Mười và Tể-tướng Võ Văn-Kiệt sắp sang chầu Thiên-tử Giang Trạch Dân”.

Anh ta nói :

“Nghe đâu phái đoàn không đông lắm, và cũng không đi tham quan chỗ này chỗ kia. Cuộc chầu thánh Thiên-tử này coi ra có vẻ căng căng, không khéo lại có bài học nữa,(4) thì thanh niên Việt-Hoa tha hồ mà chết”.

Thế rồi, anh bạn mất tích. Bốn ngày sau, anh gặp tôi, luôn mồm xin lỗi, vì phải theo dõi cuộc hội đàm. Anh than :

“Tổ bà nó, bọn mình là người có học, có tư cách, thành ra không làm bí thư tỉnh, bí thư khu được. Diễn biến các cuộc họp mình biết hết. Thế mà lại phải trình bầy lại cho những thằng dốt hơn con bò. Nó nghe chán rồi nó phán: Điều này nên tiết lộ, điều này không. Sự thực thế này, nhưng phải viết quẹo như thế kia. Nghe chúng phán, tức muốn ứa gan. Cáu quá, tối về tao banh cái miệng Mao Chủ-tịch của vợ (5) rồi hét lên : Tôi là thằng hèn, không xứng đáng là con cháu ông Đổng, ông Giản (6). Bây giờ tao tìm mày để thổ lộ cho bõ tức”.

Chú giải đoạn 1 của Văn-nghệ Tiền-phong:

(1) Câu này lấy trong sách Luận-ngữ, ý nói : Có người bạn từ xa đến, chẳng đáng vui sao.

(2) Ố nàm nhần. Tiếng Quảng-Đông, nghĩa là An-Nam nhân.

(3) Chệt. Chỉ người Hoa.

(4) Bài học. Hồi 1978, Đặng Tiểu-Bình đem quân đánh VN, rồi nói rằng dạy cho một bài học.

(5) Miệng Mao Chủ-tịch. Tiếng lóng, mà dân chúng Trung-quốc dùng để chỉ cái ngàn vàng của phụ nữ.

Đổng là Đổng Hồ, người nước Tấn. Giản là người nước Tề. Hai ông làm quan Thái-sử. Dù bị kề gươm vào cổ, bắt phải chép sai sự kiện lịch sử, vẫn chép đúng.

Anh kể : Giang Trạch-Dân là người có học, thâm trầm, mưu cơ, tính toán rất cẩn thận. Mỗi lời, mỗi ý đều nói rất văn hoa, lại ưa xen vào những câu trong kinh điển cổ, hoặc những câu thơ, câu từ. Thế nhưng trong buổi họp ông ta gặp gã Đỗ Mười dốt đặc cán mai. Y lại hay lẫn (1). Một sự kiện đã nói rồi, bàn rồi, lát sau y quay trở lại. Đã thế, thông dịch viên của y thì nói giỏi, nhưng dốt văn chương cổ, không đủ kiến thức diễn giải hết ý của Giang. Tỷ như Giang nói móc Đỗ Mười trong bữa ăn rằng Mười xuất thân là tên hoạn lợn bằng câu :

“Lợn Trung-quốc không to béo như lợn Việt-Nam, vì chúng ham nhảy cái quá. Còn lợn VN hầu hết là lợn thái giám, nên to lớn”.

Thế nhưng anh thông dịch, dịch là :

“Lợn Trung-quốc không to béo như lợn VN, vì bọn nuôi lợn ham tán gái, thiếu chăm sóc. Còn lợn VN thì do cán bộ chăm nuôi cẩn thận”.(2)

Tôi hỏi :

- Thế khi bắt tay nhau, thì Giang nói trước hay Đỗ nói trước ?

- Không ai nói trước cả. Sau khi bắt tay, thì Giang ứng khẩu đọc hai câu thơ như sau :

Độ tận kiếp ba huynh đệ tại,

Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu.

Thông dịch, dịch như sau : Sau khi trải qua cơn sóng gió, tình anh em vẫn còn. Hôm nay, gặp lại nhau, cười một cái, mới hiểu rõ ai là bạn, ai là thù. Theo mày, ý Giang muốn nói gì ?

Tôi phát biểu ý kiến :

- Tao thử giải nghĩa theo kiểu Tây xem có đúng không nghe. Độ là bến đò. Tận là hết. Kiếp là tiếng nhà Phật để chỉ tai vạ. Ba là sóng gió. Câu này hiểu theo nghĩa đen thì : Từ trước đến nay, Trung-quốc như răng, VN như môi. Hồi 1979, Đặng Tiểu-Bình xua quân đánh VN, rồi nói rằng dạy Hà-nội bài học ; thì không còn cái tình môi hở răng lạnh nữa, mà là răng cắn môi máu chảy ròng ròng. Anh em ta, những người Cộng-sản mí nhau trải qua một tai kiếp như đò vượt qua sông đầy sóng gió. Bây giờ các đồng chí sang đây, thì chúng ta lại cũng vẫn là anh em… Cộng-sản. Chúng ta phải xiết chặt tình huynh đệ, bằng không thằng cảnh sát quốc tế nó dùng đô la, nó nhét vào mồm chúng ta, rồi chúng ta lại đánh nhau thì chết.

Không ngờ tôi giảng nghĩa kiểu cà chớn như vậy, mà mấy anh bạn lại cười khúc khích :

- Cũng gần đúng ý Giang. Giang cũng muốn nói như vậy.

- Còn câu thứ nhì, thì ý nghĩa giản dị thôi. Tương phùng là gặp nhau. Nhất tiếu là cười một tiếng. Mẫn là hiểu rõ. Ân là ơn. Cừu là thù. Toàn câu này ý nghĩa như sau : Hôm nay anh em gặp nhau đây, cười một tiếng, hiểu rõ đâu là ân, đâu là cừu.

- Không hẳn như vậy, theo tao thì Giang muốn nói : Chúng ta gặp nhau đây hãy quên đi những gì là cừu thù, mà chỉ nên nhớ đến cái ân khi xưa Trung-quốc đã viện trợ cho VN suốt ba chục năm liền.

Thế nhưng ba hôm sau, một trong ba anh bạn đó nói riêng với tôi rằng :

“Cái câu thứ nhất, nó có ý nghĩa rất sâu sa, đại ý đe dọa Mười, Kiệt rằng : Bọn bay hãy coi gương thằng Lê Đức Anh. Nó bị méo miệng, một mắt nhắm không được. Bán thân bất toại”.

Tôi kinh hãi hỏi :

- Ẩu ! Trong hai câu thơ trên chữ nào chỉ vào việc ấy ?

- Mày ăn phó mát Camember riết rồi quên mẹ nó cả chữ nghĩa. Tao hỏi mày, thế chữ Huynh tiếng Việt nghĩa là gì ?

- Là… Anh ! Ừ nhỉ. Chết cha thằng Lê Đức-Anh. Câu trên hiểu theo nghĩa khác là : Sau khi chúng mày với tao đấm đá nhau, thì thằng Lê Đức-Anh còn nằm chình ình ra kia. Bây giờ gặp nhau đây, tao cười một tiếng, để chúng mày biết cái tội lấy oán trả ân.

Tôi tò mò :

- Thế bọn Giang đánh thuốc độc Lê Đức-Anh từ bao giờ ? Đánh bằng cách nào ?

- Cách đây mấy năm, bộ ba Mười, Anh, Kiệt sang Quảng-Đông triều kiến. Trong dịp đó Anh được tặng một cái áo. Chính cái áo tẩm nước hoa có thuốc đó đã làm cho Anh bị xuất huyết não, thành bán thân bất toại.

- Xạo ! Tao đếch tin.

- Uổng cho mày là giáo sư y khoa, bị mấy con Đầm hớp hồn rồi thành lú lẫn.

- Tao chưa hề xài Đầm! Từ hồi 18 tuổi đến giờ tao toàn ăn cơm Việt hoặc cơm Xẩm. Mày thấy không? Sang đây tao đi với Diệu-Nghi, chứ có đầm đìa nào đâu?

- Im cái mồm đi! Cãi chầy. Tao hỏi mày hôm rồi ông thủ trưởng của tao than rằng, thỉnh thoảng trong đêm ông ấy bị lên cơn đau tim, mày cho ông í một hộp cao dán. Mày dặn rằng: Khi lên cơn thì dán vào ngực, rồi hôm sau đi tìm bác sĩ. Có đúng không?

- Đúng.

- Thuốc đó là thuốc gì?

- Cordipatch.

Tôi chợt hiểu: Thì ra Lê Đức Anh bị Trung-quốc dùng một thứ thuốc thấm qua da, rồi thình lình bị huyết áp cao, sinh tai biến mạch máu não mà thành bán thân bất toại. Biết thế, nhưng tôi giả bộ ngây người ra không hiểu, để anh bạn tôi phải nói ra. Quả nhiên anh mắc bẫy. Anh hỏi tôi:

- Tao hỏi mày câu này : Mày có nhớ năm 1789, khi sai Thành Lâm sang phong vương cho vua Quang-Trung, vua Càn-Long gửi tặng cho vua Quang-Trung chiếc áo có thêu kim tuyến bẩy chữ :

Xa tâm chiết trục đa điền thử

Tất cả các quan Tây-sơn, Đại-thanh đều không ai hiểu ý nghĩa bẩy chữ này. Hiểu theo nghĩa đen là : Giữa cái xe, trục bị gẫy, đa số là do con chuột đồng. Ngô nghê thậm ! Nhưng năm 1792, vua Quang-Trung bị não xuất huyết, nằm bán thân bất toại mấy tháng rồi băng. Năm đó là Nhâm Tý, người ta mới hiểu rõ : Chữ Xa với chữ Tâm là chữ Huệ, tên vua Quang-Trung. Xa tâm là Huệ, chiết trục là gẫy trục, tức chết… Thử là con chuột, chỉ năm Tý, vua Quang-Trung sẽ băng. Trong áo đó tẩm thứ thuốc ngấm dần vào da. Mày hiểu chưa?

- Hiểu.

Tôi trở lại vấn đề:

- Thế Mười, Kiệt có hiểu ý nghĩa hai câu thơ đó không ?

- Ngay tại đương trường thì chúng không hiểu. Nhưng tối về, bọn trí thức đi theo cố vấn cho chúng. Chúng hiểu. Vả cái vụ vua Quang-Trung, Lê Đức-Anh, Đào Duy-Tùng, Lê Mai bị đầu độc, Mười, Kiệt đều biết cả. Nên ngu gì thì ngu, chúng cũng hiểu.

Chú giải đoạn 2 của Văn-nghệ Tiền-phong:

Tin này khá chính xác. Vũ Thư-Hiên trong Đêm giữa ban ngày cũng thuật : Trước đây Đỗ Mười bị bệnh tâm thần, phải vào nhà thương điên hai lần. Theo tin trong nước thì gần đây Mười bị chứng lẫn, đú.

2. Hồi chưa theo Cộng-sản, Đỗ Mười làm nghề hoạn lợn (Thiến lợn). Thấy cái nghề này quá bẩn, Hồ Chí-Minh mới sai chép trong tiểu sử của Mười rằng y làm nghề thợ sơn.

- Thế giữa Đỗ với Giang có bàn về việc chủ quyền hai quần đảo Hoàng-sa, Trường-sa không ? (1)

- Có ! Đỗ than rằng trong khi các bên bàn luận chưa ngã ngũ ra sao, thì hải quân Trung-quốc cứ nhằm hải quân Việt-Nam mà tấn công. Như vậy thì sao có thể mẫn ân cừu được ?

- Giang trả lời sao ?

Giang cười xòa, rồi nói rằng :

- Quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) do Trung-quốc chiếm từ chính quyền miền Nam VN, không liên quan gì tới đảng Cộng-sản Việt-Nam cả. Còn những cuộc đụng độ mới đây tại quần đảo Nam-sa (Trường-sa) thì đó là những biến cố nhỏ. Chúng ta gặp nhau đây, hãy bàn đại cuộc thì hơn.

Đỗ Mười không chịu, y cãi :

- Đụng chạm nhỏ gì mà tới 9 lần. Thiệt hại nhân mạng lên tới mấy trăm. Nhất là cuộc tấn công của hải quân Trung-quốc ngày 14-3-1988, khiến ba chiến hạm Việt bị chìm (2), mấy trăm nhân mạng bị chết.

Giang bèn xuất ra một văn kiện, do Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng ký trước đây. Giang nói:

- Ngày 4-9-1958, khi Trung-quốc ra bản tuyên cáo lãnh thổ 12 hải lý, với bản đồ đính kèm, thì ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn Đồng của VN, ký văn thư gửi cho Thủ-tướng Chu Ân Lai của Trung-quốc, công nhận bản tuyên bố lãnh hải. Từ ngày ấy cho đến nay, phía VN chưa bao giờ chống đối văn kiện này. Như vậy rõ ràng VN công nhận toàn bộ vùng biển Đông, trong đó có hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa) thuộc Trung-quốc. Quần đảo Tây-sa, Trung-quốc đã đánh chiếm từ chính quyền Sài-gòn ngày 19-1-1974. Còn quần đảo Nam-sa (Trường-sa), sau ngày 30-4-1975, VN đem quân tới chiếm đóng. Như vậy là VN xâm lăng, lấn chiếm lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc phải nổ súng đuổi quân xâm lược là lẽ thường tình.

Mười cãi:

- Tại Trường-sa còn có quân đội của Phi-luật-tân, Đài-loan, Mã-lai. Tại sao thủy quân Trung-quốc không tấn công vào quân hai nước đó, mà chỉ tấn công vào thủy quân Việt-Nam? Giang cười rằng: Quần đảo này hiện đang trong vòng tranh chấp giữa Trung-quốc với Phi-luật-tân, Mã-lai, nên Trung-quốc không thể tấn công họ, như vậy là bá quyền. Còn quân của Đài-loan ư? Quân Đài-loan cũng là quân Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc không thể nổ súng, vì như vậy là huynh đệ tương tàn. Mươì cãi rằng : Nhưng tại Trường-sa từ trước đến giờ không hề có quân Trung-quốc đóng. Nay Trung-quốc dùng sức mạnh, chiếm mất mấy đảo của VN, như thế là phi lý.

Giang bèn trả lời rằng :

- Đảng Cộng-sản VN hiện nêu cao việc dùng tư tưởng của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, thì đồng chí hãy tuân thủ tư tưởng của Hồ Chủ-tịch, vì chính Hồ chủ-tịch ra lệnh cho đồng chí Phạm Văn Đồng ký văn thư công nhận các quần đảo Nam- hải là của Trung-quốc.

Tôi hỏi :

- Cuộc mà cả cuối cùng ra sao ?

- Cả hai bên đều cù nhầy. Giang thì nhất định không chịu nhượng bộ, vì căn cứ vào văn thư do Phạm Văn Đồng ký năm 1958. Không còn gì để bàn nữa.

Tôi hỏi :

- Thế họ có cãi nhau gì liên quan đến vấn đề Cao-man không ?

- Hỏi thế mà cũng hỏi. Quốc-vương Đỗ triều kiến Thiên-tử Giang mục đích về vấn đề này mà thôi.

- Họ bàn gì ?

- Có bàn cái đếch gì đâu ? Giang chửi Đỗ sai con nuôi là thằng Hun-Sen bóp cổ thằng con lai ngoại hôn Ranariddh của Giang. Như vậy là không tôn trọng những gì cam kết trước đây (3).

- Tại sao Ranariddh lại là con lai ngoại hôn ?

- À xin lỗi, đây là câu nói lóng của bọn tao. Vì khi xưa bọn Lê Duẫn đem quân sang đánh thằng Pol Pot, thì anh chàng Ranariddh đang sống tại Pháp. Anh ta được Pháp giúp đỡ, lập mặt trận, la làng rằng bọn VC nó cướp nước tôi. Vậy có phải mẫu quốc Pháp đẻ ra anh ta không ? Sau khi về nước chấp chính, anh ta đếch có thực lực, anh ta phải ngước đầu nhìn về Thiên-quốc, xin ông bố Đặng Tiểu-Bình giúp đỡ. Thế thì anh ta là đứa con lai, nửa chệt nửa Tây. Khi Trung-quốc thấy cái thằng Pol Pot bị thế giới kinh tởm quá, thì cho nó bệnh(4), rồi đem tất cả lực lượng trao cho Ranariddh, để hợp pháp hóa đám thợ giết người này, hầu giữ chân ở Cao-man. Tưởng như vậy là không ai nói gì được. Nào ngờ thằng cảnh sát quốc tế nó sai Quốc-vương Đỗ Mười đá thằng Ranariddh. Đỗ bèn sai thằng Hun-Sen làm. Đúng ra việc làm của Hun-Sen phải kết tội, mà các cơ quan truyền thông của Mỹ gọi nó là anh hùng. Mẹ kiếp, anh hùng cái mả mẹ nó í. Vì vậy Giang thiên tử mới triệu hồi Quốc-vương, Tể-tướng Ố-nàm sang để tính tội (5).

Tôi cố khai thác :

- Thế Thiên-tử Giang tính tội Đỗ quốc vương ra sao ?

- Người nổi giận, chỉ vào mặt Đỗ quốc vương mắng rằng :

“Đế quốc Mỹ kéo thằng Cao-man, Miến-điện vào ASEAN với mục đích gì ? Các người nhập ASEAN có phải phải các người định dùng quần lang chiến hổ phải không ? Có phải các người dựa vào thằng đế quốc để chống Trung-quốc không ?”.

- Thế bọn Đỗ Mười trả lời sao ?

- Tên Võ Văn-Kiệt trả lời rằng : Khi nhà bị cháy, thì dù nước sông, nước biển, nước cống, nước rãnh gì cũng phải múc mà dập tắt lửa.

- Cuối cùng hai bên thỏa thuận ra sao ?

- Thỏa thuận cái con khỉ tườu. Bọn mặt dầy Mười, Kiệt khi đã bám đít được cái tên cảnh sát quốc tế rồi, thì nó có coi bọn Giang ra cái đếch gì. Mày ở Pháp, thì mày phải biết chứ ? Thằng Mỹ đã huấn luyện mấy trăm sĩ quan của Hà-nội về phối hợp liên quân Đồng-minh (6). Đồng-minh đây là ai ? Nếu không phải bọn ASEAN, bọn Nam-hàn, bọn Nhật-bản, bọn Đài-loan, Thái-lan, Phi-luật-tân ? Phối hợp để đánh ai ? Chống ai ? Nếu không phải là bọn bá quyền Giang ? Hơn hai mươi năm trước, bọn mày bị bọn Mỹ bỏ rơi, bọn Hà-nội được Nga-sô, Trung-quốc giúp, đánh cho thua bét tỹ ra, phải chạy đi khắp nơi. Bây giờ bọn mày là Liên-Âu, là Mỹ rồi, bọn Mười, Kiệt phải quỳ gối trước Liên-Âu, trước Mỹ hát bản nhạc có hai nốt (7). Nay mai, mày về VN, làm cố vấn Mỹ, tha hồ mà hét tụi nó.

- Tao ở Tây, tao có đánh nhau với ai đâu mà thua với được. Tây đếch cố vấn cho ai hết. Vả Tây có cố vấn cho Mười Anh Nông Dân, cũng không bao giờ dùng đến tao (8). Lý do tao là nhà văn, là có nhiều bạn làm ký giả… hơi tý là đem lên báo.

Trong dịp này mấy anh bạn cho tôi xem cuốn vidéo quay quang cảnh buổi họp. Khi tới chỗ Mười bắt tay Giang, thì anh ta bấm nút cho máy dừng lại rồi chỉ vào đôi câu đối treo trên tường :

- Đôi câu đối này chính Giang đưa ra ý kiến, rồi bọn Hoa-kiều bị Lê Duẫn đuổi khỏi VN làm. Mày thử đọc xem, có gì lạ không ?

Tôi đọc :

Nam-thiên đại thiện, nhân nhân thức.

Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.

- Mày hiểu không ?

- Có đếch gì mà không hiểu. Nam-thiên để chỉ VN, đại là lớn. Thiện là vua nhường ngôi cho người hiền. Nhân nhân thức là ai ai cũng biết. Toàn câu này, Giang có ý diễu Đỗ Mười có cai trị dân như bọn phong kiến. Nhưng nay Mười sắp sửa nhường ngôi cho người khác, chứ không có cái vụ bầu bán gì cả.

- Giỏi. Còn câu sau ?

- Bắc-quốc là Trung-quốc. Điền là ruộng. Thăng là lên. Xứ xứ tri, là khắp thế giới ai cũng biết. Toàn câu ngụ ý : Mấy năm nay, ruộng nương Trung-quốc tăng sản lượng cao, phải nhập cảng gạo VN rất ít. Nhưng cũng ngụ ý nói : Nước sông đưa lên ruộng, làm cho dân no đủ, đó là nhờ Giang Trạch Dân. Bởi giang là sông. Trạch là ruộng. Tóm lại hai câu này ngụ ý : Anh là tên phong kiến, đang chuẩn bị nhường chức tổng bí thư cho đàn em. Cả nước VN ai cũng biết. Còn bên Trung-quốc này, ta là Giang Trạch Dân, ta có kế hoạch làm cho nông sản dư thừa, cả thế giới đều biết.

Anh bạn tôi gật đầu :

- Tao cũng nghĩ như thế. Câu đối đó gói ghém nhiều ý thực. Nhưng ở Bắc-kinh này thiếu gì người hay chữ, mà phải nhờ tụi Hoa-kiều ? Bọn tao nghĩ nát óc ra mà không giải thích được. Vậy mày về Pháp, mày thử mò xem, có còn ý khác không ? Nếu mày giải được, thì thư cho bọn tao.

Chú giải đoạn 3 của Văn-nghệ Tiền-phong:

(1) Hai quần đảo mà Trung-quốc, Việt-Nam đang tranh chấp là Hoàng-sa và Trường-sa. Đảo Hoàng-sa người Hoa gọi là Tây-sa. Còn đảo Trường-sa họ gọi là Nam-sa.

(2) Mẩu tin này tiết lộ: Hải-quân Trung-cộng đã tấn công hải quân Việt-cộng trước sau 9 lần, làm hư hại 6 chiến hạm, và 3 chiến hạm chìm, chết mấy trăm người.

(3) Qua tiết lộ này, ta biết trong cuộc họp hồi Mười, Anh, Kiệt sang Trung-cộng mấy năm trước có cam kết rằng VC phải để cho Ranariddh, thân Trung-cộng làm đệ nhất thủ tướng Cao-miên.

(4) Qua tiết lộ này, ta mới biết Trung-cộng đã đầu độc Pol Pot.

(5) Mẩu tin này tiết lộ : Trung-cộng kết tội VC bây giờ làm con hờ của Mỹ. Muốn đá tung cái vòi con bạch tuộc Trung-cộng khỏi Đông-Nam-Á, Mỹ sai VC làm. VC bèn sai đứa con ngoan ngoãn Hun-Sen ra tay. Hèn gì, Mỹ cũng như các nước tự do chỉ phản đối Hun-Sen lấy lệ.

(6) Độc giả ở Hoa-kỳ nào biết rõ ràng về tin này, xin cho chúng tôi biết chi tiết.

(7) Bản nhạc hai nốt : Tiếng lóng của giới bình dân Trung-quốc để chỉ tiền Hoa-kỳ dollar. Hai nốt là đô và la.

(8) Mười Anh Nông Dân để chỉ Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh. Dân để chỉ Võ Văn Kiệt, vì Kiệt có bí danh là Sáu Dân.

Anh Hoàng ơi!

Từ hôm về Pháp đến giờ, tôi cứ suy nghĩ mãi về ý nghĩa hai câu trên. Nào chiết tự ? Nào chia chữ. Nào hợp chữ, mà cũng không tìm ra ý nghĩa. Sau, tôi thấy cái vế dưới để nói về Giang, thì tôi nghĩ cái vế trên phải có cái gì nói về Đỗ. Hai câu này do Hoa-kiều làm thì phải có ý nghĩa tiếng Việt ở trong. Mà tiếng Việt thì hay nói lái. Cuối cùng tôi đã tìm ra :

Nam-thiên đại thiện nhân nhân thức,

Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.

Đại là lớn. Đại thiện là lớn thiện, nói lái của tiếng thiến lợn.

Còn vế dưới điền thăng là thằng điên.

Tóm lại đôi câu đối trên, Giang móc Đỗ Mười là thằng hoạn lợn, là thằng điên.

Vậy hai câu trên bao hàm ba nghĩa khác nhau :

Nghĩa thông thường :

Tại Việt-Nam, Đỗ Mười sẽ nhường ngôi cho đàn em. Ai cũng biết.

Bên Trung-quốc, ruộng nương xanh tốt, gạo dư thừa. Cả thế giới đều hay.

Nghĩa thâm trầm :

Tại Việt-Nam, Đỗ Mười là tên phong kiến, độc tài, đi chệch hướng của chủ nghĩa Cộng-sản, giữ ngôi bí thư như của riêng.

Bên Trung-quốc, Giang là người làm cho dân chúng có đủ lúa, gạo.

Nghĩa bí hiểm :

Tại Việt-Nam Đỗ Mười chỉ là thằng hoạn lợn. Ai cũng biết.

Bên Trung-quốc, người nào cũng biết y là một thằng điên.

Thôi đi xa về kể chuyện cho anh đọc như vậy đủ rồi. Nghe nói hồi này anh hay sang Pháp chơi. Dính Đầm rồi hả ? Báo cho anh biết, cái hũ phó mát Camembert của mấy cô Đầm mà tí toáy vào rồi, thì không bao giờ có thể dứt ra được đâu.

Viết đến đây, tôi cảm thấy ơn ớn lạnh. Chơi với anh gần ba mươi năm gì mà tôi không biết anh. Đe giết anh, anh không sợ. Nhưng không cho anh làm báo thì anh hóa điên. Khi làm báo, thì anh coi độc giả của anh như vua. Cho nên viết thư cho anh, tôi sợ anh đăng tên tôi lên, thì tôi sẽ mất job. Vậy tôi xin hăm trước : Anh mà đăng lên, thì đúng ngày mùng một tết tôi sẽ sang Arlington bẹo tai anh. Tôi nói được thì tôi làm được.

Kính chúc anh khỏe. Cho tôi hôn cháu Thủy-Tiên của chú. Nhớ nó gớm.

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ.

Ghi chú của IFA:

Quả nhiên ký giả Hồ Anh cho đăng bức thư này vào Văn-Nghệ Tiền-Phong số xuân Mậu Dần, sau khi đã sửa chữa đi đôi chút, dưới hình thức một người bạn ở Costa Mesa, California, viết thư cho ông. Nhưng đảng Cộng-sản VN cũng đoán ra người viết là ai, nên Yên-tử cư-sĩ mới bị liệt vào một trong 80 tên phản động nhất.
(mevietnam)

Posted in Ải Nam quan, bán nước cầu vinh, Biển Đông VN, Công hàm PVĐ, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, phân chia Vịnh Bắc Việt, Thành tích và Tội ác, Thác Bản Giốc, thềm lục địa | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.