TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

Archive for the ‘Thác Bản Giốc’ Category

Bài điều trần của Giáo-sư TRẦN ĐẠI-SỸ (IFA): việc đảng Cộng-sản Việt-Nam Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, hải phận cho TQ

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Bài điều trần của Giáo-sư TRẦN ĐẠI-SỸ (IFA)
Về việc đảng Cộng-sản Việt-Nam Lãnh đạo nhà nước cắt lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc

Ngày 10-11-2001

Docteur Trần Đại-Sỹ
5, place Félix Éboué
75012 PARIS, FRANCE
Tél. 01.43 07 51 46 hay 06 63 79 92 16
E-mail1: <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy76768 = ‘Trandaisy’ + ‘@’; addy76768 = addy76768 + ‘yahoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy76768 ); document.write( ” ); //–>\n Trandaisy@yahoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–>
E-mail2: <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy50123 = ‘Ifa532′ + ‘@’; addy50123 = addy50123 + ‘yahoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy50123 ); document.write( ” ); //–>\n Ifa532@yahoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–>

Bí ẩn về việc đảng Cộng-sản lãnh đạo nhà nước Việt-Nam nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc

Giáo-sư Trần Đại-Sỹ

Đôi lời của IFA với người Việt.

Trong mấy tháng giữa năm 2001, nội địa Việt-Nam cũng như hải ngoại đều rúng động vì tin nhà nước hay nói đúng hơn là đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-quốc. Đau đớn nhất cho người Việt là địa danh lịch sử, đi vào tâm tư, là niềm tự hào của họ là cửa Nam-quan, suối Thiên-tuyền (Phi Khanh) nay đã ở trong lãnh thổ Trung-quốc. Ngay cả hang Pak-bo, là thánh địa của đảng Cộng-sản, trước kia ở rất xa biên giới Hoa-Việt trên 50 km, nay đứng ở sát lãnh thổ Trung-quốc.

Trong suốt 25 năm qua Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, vì ký khế ước làm việc với:

– Liên-hiệp các viện bào chế châu Âu (CEP)
– Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (CMFC),

Trong đó có điều căn bản là :

“Không được viết, được thuật những gì với báo chí về Trung-quốc, Việt-Nam hiện tại. Không được tham gia các đoàn thể chính trị chống đối Trung-quốc, Việt-Nam”.

Nên không bao giờ ông tiết lộ bất cứ điều gì mắt thấy tai nghe trong những lần công tác tại Trung-quốc hay Việt-Nam. Tuy nhiên ông đã bị một cơ quan X (chúng tôi dấu tên) triệu hồi để điều trần về vụ này ngày 10-11-2001. Theo luật lệ hiện hành, mà Bác-sĩ Trần phải tuân theo. Rất mong các vị đứng đầu CEP-CMFC thông cảm với chúng tôi.

Lập trường của chúng tôi (IFA):

Dù theo cổ sử, dù theo khảo cổ, dù theo Quốc-tế công pháp thì hai quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa), Trường-sa (Nam-sa) đều thuộc Việt-Nam. Trung-quốc chỉ mới nhảy vào vòng tranh chấp khi được Thủ-tướng Phạm Văn Đồng của nước VNDCCH ký văn kiện nhượng cho năm 1958 mà thôi. Còn Phi-luật-tân, Mã-lai càng không có một chút lý nào để đòi chủ quyền tại đây. Vấn đề quá rõ ràng, không cần bàn tới. Trong khi điều trần, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ đã đứng trên quan điểm này.

Cuộc điều trần khá dài, nên Bác-sĩ Trần ngắt ra thành từng đoạn, để cử tọa đặt câu hỏi. Vì cử tọa là những người có kiến thức rất rộng, rất cao về vùng Á-châu, do thế Bác-sĩ Trần không đi vào chi tiết. Sau cuộc điều trần, vô tình một vài yếu nhân trong cử tọa làm tiết lộ. Vì các bản bị lộ không thống nhất, nên độc giả rất dễ hiểu làm. Mãi tới hôm nay (10-1-2002) chúng tôi mới được phép phổ biến toàn văn, cũng như những câu hỏi, câu trả lời (trừ một vài câu hỏi).

Kể từ hôm Gs Trần Đại-Sỹ, điều trần(10-11-2001) cho đến hôm nay (10-1-2002) chúng tôi đã nhận được:

– 1723 thư do Bưu-điện chuyển.
– 2431 E-mail:
1124 về <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy25995 = ‘Institut.Franco-Asiatique’ + ‘@’; addy25995 = addy25995 + ‘Wanadoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy25995 ); document.write( ” ); //–>\n Institut.Franco-Asiatique@Wanadoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–> ,
532 về <!– var prefix = ‘ma’ + ‘il’ + ‘to’; var path = ‘hr’ + ‘ef’ + ‘=’; var addy48355 = ‘Trandaisy’ + ‘@’; addy48355 = addy48355 + ‘Yahoo’ + ‘.’ + ‘fr’; document.write( ” ); document.write( addy48355 ); document.write( ” ); //–>\n Trandaisy@Yahoo.fr <!– document.write( ‘‘ ); //–> Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó <!– document.write( ” ); //–> ,
còn lại về TQJV.
Đa số bằng Việt-ngữ, còn lại bằng Anh-ngữ, Pháp-ngữ, Hoa-ngữ. Nội dung thư chia ra:

– Nhiều nhất là xin hình, tài liệu bổ túc.
– Thắc mắc.
– Công kích.
– Thảo luận.
– Xin bản Hiệp-ước: Pháp ký với Thanh-triều 1887, và Hoa-Việt(1999 và 2000).

Chúng tôi xin nhắc lại, đây là một bài điều trần mật. Đánh giá về độ chính xác của bản điều trần là các vị cử tọa hôm đó, và IFA chịu trách nhiệm trước cơ quan X.

– Sự việc đã chấm dứt, chúng tôi không thể tái thảo luận. Xin ngừng gửi ý kiến tới.
– Chúng tôi cũng không cần nghe, đọc bất cứ sự công kích nào.
– Chúng tôi không thể cung cấp tài liệu, hình ảnh cho bất cứ đòi hỏi nào.

Chúng tôi đã yêu cầu Gs. Trần Đại-Sỹ cũng phải nghiêm chỉnh tuân theo nguyên tắc này.

Xin nhắc lại, bài viết của Gs. Trần Đại-Sỹ bằng tiếng Pháp. Văn phòng của chúng tôi dịch sang các tiếng của CE: Anh, Đức, Ý, Na-uy, Thụy-điển, Đan-mạch, Hòa-lan, Tây-ban-nha, Bồ-đào-nha để chuyển cho tất cả các vị cử tọa. Gs. Trần Đại-Sỹ e rằng những bản dịch không đúng ý của mình, nên đã cẩn thận đính kèm các bản dịch trên bằng một bản tiếng Việt. Ông ghi chú:

“Thưa ngài…

Dưới đây là bản dịch từ tiếng Pháp sang tiếng của Ngài về bài điều trần của tôi. Tôi sợ rằng bản dịch có đôi điều không đúng ý . Vì vậy tôi xin đính kèm một bản tiếng Việt. Hiện khắp châu Âu, nơi nào cũng có trí thức gốc người Việt định cư. Vậy nếu Ngài có điều gì thắc mắc, xin trao bản tiếng Việt và tiếng nước Ngài, cho một người Việt, tại nước Ngài để so sánh. Như vậy sẽ không sợ bị hiểu lầm”.

Nhưng khi một vài vị cử tọa, nhờ người Việt so sánh. Các vị (gốc VN) ấy, vẫn còn chút lòng son với đất nước, bèn sao lấy một bản, rồi chuồn cho báo chí, cho Internet. Do đó có rất nhiều sai lạc, hoặc bị cắt, hoặc bị thêm vào nhiều đoạn.

Sau khi biết rằng bản điều trần mật bị lộ, chúng tôi xin cơ quan X. cho phổ biến toàn văn. Chúng tôi không thể gửi đến từng cá nhân, mà chỉ gửi đến các cơ quan truyền thông Việt-Hoa. Nếu Quý-vị phổ biến xin:

– Giữ nguyên bản, không thêm bớt.
– Phổ biến toàn bộ hình đính kèm.

Trân trọng (IFA)

***

Kính thưa Ngài …
Kính thưa Quý Ngài…
Kính thưa ông Giám-đốc…
Kính thưa Quý-liệt-vị,

Thực là hân hạnh, khi mới ngày 17-3 vừa qua, chúng tôi được cử đến đây để trình bầy những vụ việc đang diễn ra tại vùng Á-châu Thái-bình dương. Hôm nay chúng tôi lại được gửi tới trình bầy về diễn biến trong vụ việc chính phủ Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN) cắt nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc (THNDCHQ), gọi tắt là Trung-quốc. Đây là một việc cực kỳ tế nhị, cực kỳ khó khăn cho tôi, làm thế nào giữ được tính chất vô tư. Vì:

– Thứ nhất, tôi gốc là người Việt, hơn nữa thuộc giòng dõi một vị Vương đứng hàng đầu trong lịch sử Việt, vì ngài thắng Mông-cổ liên tiếp trong ba lần, vào thế kỷ thứ 13. Mà nay tôi phải nói về những người đem lãnh thổ Việt nhượng cho Trung-quốc, khó mà diễn tả lời lẽ vô tư cho được.

– Thứ nhì, ngoài chức vụ giáo-sư Y-khoa ra, tôi là một tiểu thuyết gia, đã viết trên mười bốn nghìn trang, thuật huân công của các anh hùng tộc Việt trong việc dựng nước, giữ nước. Mà suốt trong năm nghìn năm lịch sử, chỉ duy năm 1540, giặc Mạc Dăng-Dung cắt đất dâng cho triều Minh của Trung-quốc; bị tộc Việt đời đời nguyền rủa. Vậy mà nay phải chứng kiến tận mắt lãnh thổ Việt bị cắt cho Trung-quốc.

– Thứ ba, các sinh viên Việt-Nam muốn du học Pháp, thường bị vài tổ chức đòi phí khoản 20 nghìn USD mỗi đầu người. Một vị Đại-sứ của Việt-Nam tại châu Âu, mời tôi về nước, (tất cả chi phí do tiền của IFA) để giúp sinh viên Việt-Nam du học Pháp. Với sự hướng dẫn của tôi, từ nay sinh viên muốn du học Pháp, họ đã biết rất rõ những gì phải làm, những gì phải chứng minh. Họ không phải tốn một đồng nào cả. Thế nhưng khi trở về Pháp, lúc lên phi cơ tại phi trường Tân-sơn-nhất, tôi bị ba sĩ quan cao cấp của Công-an chờ sẵn, hạch sách, khám xét trong hoảng 98 phút, bằng những câu hỏi có tính cách nhục mạ, ngớ ngẩn, lời lẽ cục súc. Tôi cho đây là một hình thức khủng bố, khủng bố tôi, và khủng bố cả người bạn tôi đang là một Đại-sứ của VN, đã mời tôi. Ông Đại-sứ này được Quý-vị kính trọng về tư cách và về kiến thức. Thưa Quý-vị, hôm đó tôi chỉ cười nhạt, khinh rẻ, vì tôi biết rất rõ kiến thức, mục đích của họ. Trong khi họ không đủ khả năng bịa ra bất cứ tội gì để kết tội tôi. Hơn nữa tôi giữ trong tay một ủy nhiệm thư, theo Công-pháp Quốc-tế, họ không thể công khai vị phạm.(1)

Chú giải 1

(1), Trong lần về Việt-Nam này, chúng tôi thuê xe đi Lạng-sơn. Khi tới trạm biên giới mới, chúng tôi xin sang lãnh thổ Trung-quốc mới (Nam-quan cũ) thì bị Công-an Việt-Nam từ chối. Chúng tôi đặt vấn đề: Chúng tôi mang thông hành Liên Âu, có visa hợp pháp vào Việt-Nam, thì chúng tôi có quyền ra khỏi Việt-Nam chứ? Công-an cửa khẩu trả lời rằng: Ông có visa ra vào cửa khẩu Tân-sơn-nhất, Nội-bài, chứ không có quyền rời Việt-Nam bằng cửa Hữu-nghị. Chúng tôi xin chụp hình cửa khẩu mơí, thì họ không cho. Chúng tôi đành trở về, rời Tân-sơn-nhất, đi Quảng-châu. Từ Quảng-châu đi Nam-ninh. Từ Nam-ninh thuê xe tới Bằng-tường là đất Trung-quốc với ải Nam-quan. Rồi vào Nam-quan cũ. Đứng trước vùng đất thiêng của tổ tiên, nay vĩnh viễn trở thành đất của người. Tự nhiên tôi bật lên tiếng khóc như trẻ con. Viên sĩ quan Công-an Trung-quốc tưởng tôi là người Hoa. Anh ta hỏi:

– Tiên sinh có thân nhân tử trận trong dịp mình dạy bọn Nam-man bài học à?

Tôi lắc đầu, khóc tiếp. Anh an ủi:

– Thôi, người thân của Tiên-sinh đã hy sinh dưới cờ thực, nhưng nay bọn Nam-man đã dâng đất này tạ tội rồi. Tiên sinh chẳng nên thương tâm nhiều.

Tôi kiếm tảng đá ngồi ôm đầu khóc. Anh Công-an bỏ mặc tôi. Khóc chán, tôi trở sang Bằng-tường, kiếm một cơ sở mai táng ( xây mộ, làm mộ chí). Tôi mượn họ khắc trên một miếng đá bóng nhân tạo (granite) bài thơ bằng chữ Hán xin phiên âm như sau:

Nam-quan thứ 3 của Trung-quốc), xây sau 1953,

Trường hận Nam-quan

1. Thử địa cựu Nam-quan,
2. Biên ải ngã cố hương.
3. Kim thuộc Trung-quốc thổ,
4. Khấp, khốc, ký đoạn trường.

5. Lê Hoàn bại Quang-Nghĩa,
6. Thường Kiệt truy Bắc phương,
7. Hưng Đạo đại sát Đát,
8. Lê Lợi trảm Vương Thông.

9. Nam xâm, Càn-Long nhục,
10. Kiếm hồng Bắc-bình vương.
11. Ngũ thiên niên dĩ tải,
12. Hoa, Việt lập dịch trường.

13. Mao, Hồ tình hữu nghị,
14. Nam, Bắc thần xỉ thương,
15. Huyết lệ vạn dân cốt,
16. Hồng-kỳ thích ô hoang.

Đại-Việt vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ
Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001

Tôi đem tảng đá này, gắn vào một vách núi ngay cạnh đường, chỗ núi Kẹp, trên độ cao khoảng 2-3m. Công-an, cán bộ Trung-quốc xúm lại xem. Nhưng họ chỉ hiểu lơ mơ ý trong thơ mà thôi. Xin tạm dịch:

1. Đất này xưa gọi Nam-quan,
2. Vốn là biên địa cố hương của mình.
3. Hiện nay là đất Trung-nguyên,
4. Khóc chảy máu mắt, đoạn trường ai hay?

5. Vua Lê thắng Tống chỗ này,
6. Thường Kiệt rượt Tiết cả ngày lẫn đêm,
7. Thánh Trần sát Đát liên miên,
8. Lê Lợi giết bọn Thành-sơn bên đồi,

9. Càn-Long chinh tiễu than ôi,
10. Quang-Trung truy sát muôn đời khó quên.
11. Năm nghìn năm cũ qua rồi,
12. Chợ biên giới lập, đời đời Việt-Hoa.

13. Ông Hồ kết bạn ông Mao,
14. Sao răng lại cắn, máu trào môi sưng?
15. Vạn dân xương trắng đầy đồng,
16. Để lại trên lá cờ Hồng vết nhơ.

(Người nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ, khóc đề ngày 6 tháng 9 năm 2001)

Câu 5. Vua Tống Triệu Quang-Nghĩa sai Hầu Nhân Bảo, Tôn Toàn Hưng sang đanh VN, bị vua Lê (Hoàn) đánh bại.

Câu 6. Năm 1076, vua Tống Thần-tông sai bọn Quách Quỳ, Triệu Tiết mang quân sang đánh Đại-Việt, bị Thái-úy Lý Thường Kiệt đánh đuổi.

Câu 8. Tước của Vương Thông là Thánh-sơn hầu.

Câu 10. Vua Quang-Trung còn có tước phong là Bắc-bình vương.

Câu 14. Hồi 1947-1969 Chủ-tịch Trung-quốc là Mao Trạch Đông, Chủ-tịch Việt-Nam là Hồ Chí Minh kết thân với nhau. Việt-Hoa ví như răng với môi. Vì sợ môi hở răng lạnh nên ông Mao phải giúp ông Hồ. Năm 1979, Đặng Tiểu Bình đem quân tàn phá các tỉnh biên giới phía Bắc Việt-Nam, nên người ta đổi câu trên thành: Răng cắn môi máu chảy ròng ròng.

Tôi chợt nhớ một chuyện, mấy năm trước, mỗi khi qua đây tôi đều tìm đến suối Phi-Khanh. Tôi lò mò đến suối Phi-Khanh. Ngọn suối Phi-Khanh này không xa Nam-quan làm bao, không nổi tiếng bằng Ải Nam-quan, nhưng đối với dân địa phương thì lại là một vùng đất linh của lịch sử. Nhìn thấy suối Phi-Khanh bây giờ thuộc Trung-quốc, tôi khóc như một người điên. Anh sĩ quan Công-an nói với nhân viên phụ trách quan thuế:

– Tội nghiệp cho vị tiên sinh này! Chắc con của ông ấy tử trận trong lần mình dạy tụi Nam-man bài học! Ông ấy thương tâm quá rồi.

Tôi nghe anh ta nói, lại khóc to hơn. Cái suối Phi-Khanh này ra sao?

Câu chuyện suối Phi-Khanh như thế này:

Nhà Minh lấy cớ giặc Hồ Quý Ly cướp ngôi vua Trần (1400), sai bọn Trương Phụ, Mộc Thạnh sang đánh (1406). Thăng-long( Đông-đô) thất thủ, rồi Tây-đô (Thanh-hóa) cũng thất thủ. Cha con giặc Hồ chạy đến cửa biển Ky-la. Có một lão ông ra bái yết nói:

“Chỗ này tên Ky Lê, trên núi có động Thiên-cầm; đều là điềm không tốt, xin đừng lưu ở đây”.

Hai cha con họ Hồ giết ông lão ấy, rồi quả nhiên bị bắt.

Chữ Ky có nghĩa là trói, buộc. Nguyên tổ tiên Hồ Quý Ly là con nuôi ông Lê Huấn, mới đổi ra họ Lê. Nay gặp cửa Ky Lê nghĩa là trói bọn Lê. Còn hang Thiên-cầm thì Thiên là trời, cầm là đàn. Cái hang này khi gió thổi vào tạo thành âm thanh như tiếng đàn. Nhưng ông lão đó khuyên Hồ Quý Ly rời đi vì cầm tuy viết khác, nhưng cùng âm với cầm là bắt. Hang Thiên-cầm nghĩa là hang trời bắt.

Tháng 6 năm Đinh Hợi, 1407, Trương Phụ sai Hoành-hải tướng quân Lỗ Bân, Đô-đốc thiêm-sự Liễu Thăng bắt giải Quý-Ly, Hán Thương, Nguyên Trừng, Triệt, Uông, cháu là Nhuế, Mỗ, Phạm, em là Quý-Tỳ; con Quý-Tỳ là Vô Cữu, ngụy tướng quân Hồ Đỗ, Đoàn Bồng; ngụy Hành-khiển Nguyễn Nghiện Quang, Lê Cảnh Kỳ, Nguyễn Phi Khanh sang Kim-lăng.

(Thời còn niên thiếu, nho sinh Nguyễn Phi Khanh được quan Tư-đồ Trần Nguyên-Đán tuyển làm gia sư cho các con. Trong các con của quan Tư-đồ có cô Trần Thị Thái đang tuổi dậy thì. Lửa Phi-Khanh gần rơm Thái thì phải bén là lẽ thường. Thế rồi cô Trần Thị Thái mang bầu. Nho sinh Phi-Khanh sợ tội bỏ trốn. Quan Tư-đồ sai người đi bắt về, rồi gả con gái cho. Bà Thái ông Khanh sinh ra Nguyễn Trải. Thời thơ ấu Nguyễn Trãi được ông ngoại yêu thương dạy dỗ tận tình hơn tất cả các cháu. Sau khi giặc Hồ Quý-Ly cướp ngôi nhà Trần, Nguyễn Phi Khanh ứng thí, rồi được bổ làm quan).

Nguyễn Trãi thương xót cha, đi theo đoàn tù binh để phụng dưỡng. Lúc tới Nam-quan thì quan nhà Minh đuổi những người theo tiễn sang Trung-quốc trở lại. Cha con khóc lóc tiễn biệt nhau, Phi-Khanh khuyên con hãy trở về lo phục quốc. Tương truyền, bình nước Nguyễn Trãi mang theo để cho cha uống đã hết, tại cửa ải không tìm đâu ra nước, ông lang thang vào bãi cỏ bên đường, ngửa mặt nhìn trời, rồi khấn:

“Nếu trời xanh chưa nỡ hại nước Việt tôi, cho tôi đuổi được giặc, phục hồi cố thổ thì xin cho tôi bầu nước tiễn cha”.

Uất khí bốc lên ông dậm chân, thì dưới chân vọt ra một nguồn nước. Ông uống nước đó, rồi hứng đầy bầu dâng cho cha. Từ đấy dân Nam-quan gọi suối ấy là suối Phi-Khanh. Khi vụ án Lệ-chi viên xẩy ra, Nguyễn Trãi bị tru di tam tộc, thì suối ấy đổi tên là Thiên-tuyền. Rồi khi vụ án được vua Lê Thánh-tông giải oan, suối ấy lại mang tên Phi-Khanh truyền đến nay.

Suối vẫn còn đây! Phi-Khanh ở đâu? Nguyễn Trãi ở đâu? Trên không mây vẫn bay, sương mờ vẫn giăng trên núi, nước vẫn chảy. Nhưng đất đã đổi chủ. Tôi cảm ứng cầm bút vạch trên tảng đá bài thơ cổ phong (quá buồn tôi làm thơ, để bầy tỏ sự đau đớn, chứ tôi không phải là thi sĩ), rồi lại trở sang Bằng-tường khắc bài thơ lên mảnh granite, và gắn lên tảng đá trong vách núi gần suối. Bài thơ như sau:

Phi-Khanh tuyền.

1. Ngụy Hồ thất nhân tâm,
2. Minh xử Trương Phụ xâm.
3. Nhị đô giai thất thủ,
4. Quân, thần nhục Thiên-cầm.

5. Thử địa Ức Trai thệ,
6. Uất khí biệt phụ thân,
7. Nam-quan khốc tống biệt,
8. Thiên tứ nhất linh tuyền.

9. Lục bách niên vân tải,
10. Việt Dân tưởng anh huân,
11. Kim thuộc Trung-quốc thổ,
12. Ẩm thủy thương ngã tâm.

Đại-Việt, vong quốc nhân Trần Đại-Sỹ,
Khốc đề lục nhật, cửu nguyệt, niên đại 2001.

Tạm dịch:

Giặc Hồ làm mất dân tâm,
Minh sai Trương Phụ đem quân đánh mình,
Quân thua thất thủ hai kinh,
Vua tôi bị bắt ở quanh Thiên-cầm.

Ức-Trai hiếu tử tiễn cha,
Nam-quan thề quyết không tha giặc trời.
Hay đâu linh khí muôn đời,
Phun ra ngọn suối, tuôn hoài nước thiêng.

Sáu trăm năm cũ ai quên,
Đại công quét sạch giặc Minh chỗ này.
Bây giờ, suối vẫn còn đây,
Đau lòng vì suối đã thay chủ rồi.

(Người nước Đại-Việt vong quốc tên Trần Đại-Sỹ,
khóc đề ngày 6 tháng 9 năm 2001)

Hết chú giải 1, trở lại bản điều trần

– Tháng 9 vừa qua (2001), Đảng Cộng-sản Việt-Nam liệt tôi vào danh sách 80 người phản động nhất, vì năm 1997 tôi đã viết một bài tiết lộ những chi tiết tuyệt mật về cuộc viếng thăm Trung-quốc của Tổng Bí-thư Đỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Nhất là cuộc họp mật của hai nhân vật này với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân. Tôi viết dưới hình thức hai hước cho tờ báo Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, USA, số Xuân 1998. Nội dung của bài đó là một phần bài thuyết trình của tôi với Quý-vị cuối năm 1997 (Phụ bản 3 đính kèm). Như Quý-vị biết về Cộng-sản, khi họ kết tội ai phản động, có nghĩa là toàn đảng phải dùng hết khả năng tiêu trừ người ấy.(2)

Chú giải (2)

Tôi không tin chỉ với bài này mà họ kết tội tôi nặng như vậy. Tôi biết rất rõ ai chủ trương, ai kết tội tôi. Nhưng tôi chưa muốn nói ra. Trong bài viết trên, tôi đã tiết lộ những điều tuyệt mật về cuộc hội đàm, khiến họ sợ hãi mà thôi. Điều tuyệt mật đó là vụ: ông Lê Đức-Anh bị Trung-quốc đánh thuốc độc, bị bán thân bất toại. Rồi cũng do Trung-quốc trị cho. Nay tôi tiết lộ thêm, những vụ đầu độc cùng một phương pháp:

– Một ký giả Việt tên Tô Văn, thuộc loại nghiện hút, vô tư cách, thường được gọi là Cậu-chó. Ông ta từ Hoa-kỳ sang Pháp, theo tên Trương Như Tảng, cùng kéo nhau sang Bắc-kinh, định dâng Việt-Nam cho Trung-quốc (Nhưng Tảng không cho ông đi). Trung-quốc biết là bọn lưu manh không nhận, bọn họ trở về nói láo được Trung-quốc chi 4 tỷ đô la để đánh VC! Ít lâu sauTô Văn được bán thân bất toại để bảo mật.

– Ông Lê QT, một lãnh tụ kháng chiến có thực lực. Lực lượng kháng chiến này do Trung-quốc yểm trợ. Sau ông có ý ly khai Trung-quốc. Ông đang ở tuổi trẻ, không bệnh tật, (ông không hề bị huyết áp cao, đái đường cũng như mỡ cao trong máu), ông cũng bị đột quỵ, tai biến mạch máu não, rồi được Trung-quốc trị khỏi. Sau đo ít lâu, ông từ trần đột ngột khi ăn cơm tại một nhà hàng nhỏ ở ngoại ô Paris.

– Trong kỳ đại hội 8, giữa đại hội, ông Lê Mai, Thứ-trưởng Ngoại-giao, ông Đào Duy-Tùng ứng viên Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản cũng bị hạ độc bằng cùng một phương thức. Nhưng tôi không biết ai đã làm công việc đó.

– Gần đây nhất một Bác-sĩ Việt-Nam, tỵ nạn tại Pháp, từng dính dáng với nhóm Trương Như Tảng. Sau đó đã tỵ nạn lần thứ nhì sang Canada, năm trước đây (2000), nghe tin Bác-sĩ Dương Quỳnh-Hoa từ Việt-Nam qua Pháp. Ông lén từ Canada sang Paris gặp bà này, mưu kiếm ít xôi thịt từ Bắc-kinh. Khi trở về Canada, ông cũng bị đột quỵ và tiêu dao miền Cực-lạc.

Tôi chỉ cử mấy tỷ dụ, nếu tính tất cả những người Việt bị giết bằng phương pháp này, lên tới con số 37!

Ngắt đoạn 1,

Có 2 câu đánh số 1-2, hỏi về những nhân vật bị đầu độc, loại thuốc đầu độc. Không phổ biến.

Kính thưa Quý-vị,

Tuy tôi đã tuyên thệ tại đây hồi tháng ba vừa qua (3-2001). Nhưng hôm nay tôi xin tuyên thệ một lần nữa:

“Tôi xin tuyên thệ với tất cả danh dự của tôi rằng: Tôi không thù, không ghét những người tại Việt-Nam họ đã nộp lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc. Tôi cũng không vì lòng yêu nước Việt mà oán ghét họ. Tôi không hận những người Việt chủ trương khủng bố tôi khi họ mời tôi về Việt-Nam giúp đỡ họ. Những lời tôi trình bày hôm nay hoàn toàn vô tư”.

1. Những tranh chấp biến giới trong quá khứ

Trước hết tôi xin trình bày một vài nét về tranh chấp lãnh thổ Việt-Hoa trong quá khứ gần đây nhất:

– Trong thời gian từ 1010 đến 1225, dưới triều Lý, bên Trung-quốc là triều Tống. Đại-Việt là nước nhỏ, hằng năm phải tiến cống Trung-quốc một số sản vật tượng trưng: Voi, ngà voi, hương liệu, đôi khi một vài vật dụng bằng vàng, bạc. Trong thời gian trên, trước sau có 18 lần đụng độ, tranh chấp biên giới. Trong 18 lần đó, có sáu lần quân Việt vượt biên đánh sang Trung-quốc. Quan trọng nhất là cuộc tiến quân năm 1075-1076, quân Việt tiến tới vùng thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam hiện thời. Sau đó Trung-quốc mang 40 vạn quân và 50 vạn dân phu sang trả thù. Quân Trung-quốc đã tiến chiếm lãnh thổ Đại-Việt tới cách thủ đô Thăng-long (Hà-nội) có 25 cây số, rồi bị đánh bật về biên giới. (3)

Chú giải (3)

Về việc đánh Tống có sáu lần, thì trong đó có năm lần đánh sang lãnh thổ Trung-quốc và một lần kháng chiến chống quân Tống xâm-lăng.

1.1, Lần thứ nhất,

Năm 1022, do vua Lý Thái-tổ ban chỉ, Khai-Thiên vương tổng chỉ huy, đánh sang trại Như-hồng của Tống đốt kho đụn rồi rút về. Cuộc xuất chinh để trừng phạt quân Tống tại đây thường vượt biên sang trấn Triều-dương của Đại-Việt cướp bóc. Trấn Triều-dương nay thuộc tỉnh Hạ-long. Trại Như-hồng thuộc Quảng-Tây Nam-lộ. Đại-Việt toàn thắng. Cuộc chiến tranh có tính cách trừng phạt một khê-động. Tống triều im lặng.

1.2, Lần thứ nhì,

Năm 1028, tướng Tống là Lý Tự đem quân vượt biên, cướp phá trên lãnh thổ Việt. Việt ra quân đánh tràn sang châu Thất-nguyên của Tống. Cuộc ra quân do Khai-Quốc vương lãnh đạo, tổng chỉ huy là công chúa Lĩnh-Nam Bảo-Hòa và phò-mã Thân Thừa-Quý. Mục đích chiếm lại mấy châu động đã mất về Tống, do các biên thần Tống chủ trương. Giết chết Lý Tự. Toàn thắng. Cuộc chiến có tính cách tự vệ, dằn mặt các biên thần Quảng-Tây. Tống triều không chủ trương.

1.3, Lần thứ ba,

Dưới thời vua Thái-tông, do Khai-Quốc vương lãnh đạo (1053), mục đích chiếm lại lãnh thổ thời vua Hùng, vua An-Dương, vua Trưng, bị người Hán chiếm mất (Nay thuộc Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam, Quý-châu, Hồ-Nam), rồi đẩy dân Việt về sống ở vùng Bắc-cương thành 207 trang-động. Cuộc khởi binh thành công, đưa Nùng Trí-Cao lên làm vua, lấy lãnh thổ vùng Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu lập thành nước Đại-Nam. Cuộc ra quân này, đã tôi đã thuật chi tiết trong bộ Anh-linh thần võ tộc Việt. Nhưng khi Nùng Trí-Cao thành công, y lại trở mặt với Đại-Việt. Nên khi quân Tống đánh Cao, Đại-Việt không tiếp cứu, Cao bị bại. Cuộc chiến tranh có tính cách toàn diện. Đại-Việt không ra mặt khai chiến với Tống. Tống biết, nhưng không dám trả thù.

1.4, Lần thứ tư,

Cũng do Khai-Quốc vương lãnh đạo, diễn ra dưới thời vua Thánh-tông. Vùng tấn công là Khâm-châu. Người tổng chỉ huy là công-chúa Bình-Dương với phò mã Thân Thiệu-Thái (1059-1060). Mục đích cuộc Bắc phạt này là chiếm lại một số trang động do các bộ tộc thiểu số tự trị; bị Tống lấn chiếm, hoặc chiêu dụ các động chủ phản Việt, đem cả đất lẫn dân theo Tống. Sau khi chiếm lại các trang đã mất, trả đất cho các tộc bị mất, quân Việt tiến sâu vào vùng Tả-giang, Hữu-giang, chiếm hơn mười ải, giết nhiều tướng Tống. Tống cực kỳ phẫn uất, nhiều đại thần khuyên vua Tống Nhân-tông đem quân sang đánh Đại-Việt để trừng phạt; nhân đó chiếm nước đặt làm quận huyện. Ngặt vì bấy giờ phía Tây, Tống đang mắc họa với Hạ, phía Bắc thì Liêu chiếm đất, đòi cống vàng lụa; vả vua Tống cũng sợ binh hùng tướng mạnh của Đại-Việt, nên bàn hòa. Công-chúa Bình-Dương đòi nhiều điều kiện khắt khe mới chịu rút quân. Tống cũng phải nhượng. Thắng toàn diện. Chiến công oanh liệt trên thuật trong bộ Nam-quốc sơn-hà. Đến đây chiến cuộc leo thang. Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống, nhưng để cho công chúa Bình-Dương, phò-mã Thân Thiệu-Thái làm.

1.5, Lần thứ năm,

Diễn ra dưới thời vua Nhân-tông vào năm 1075, bấy giờ vua mới chín tuổi, Linh-Nhân hoàng thái hậu phụ chính. Vua còn thơ, chư sự lớn nhỏ đều do Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định. Nguyên do: Vua Tống Thần-tông dùng những cải cách về kinh-tế, nông-nghiệp, binh-bị, tài-chánh của Vương An-Thạch từ năm 1066, đã được chín năm, khiến binh lực trở thành hùng hậu, quốc-sản sung túc. Nhà vua muốn nhân đó tiến quân lên Bắc đánh Liêu, chiếm lại đất cũ, để rửa nhục. Nhưng Vương An-Thạch lại khuyên nên đánh Đại-Việt trước. Sau khi bại Đại-Việt, thì Chiêm-thành, Chân-lạp, Ai-lao, Xiêm-la, Đại-lý phải quy hàng. Bấy giờ dùng nhân lực, tài lực sáu nước, đem lên Bắc, thì thắng Liêu dễ dàng. Vua nghe theo, bí mật cho các châu Nam biên luyện binh, tích trữ lương thảo. Cuộc chuẩn bị được ba năm, thì bị Đại-Việt biết được. Linh-Nhân hoàng thái hậu quyết định: Ngồi yên đợi giặc, sao bằng mình ra tay trước. Mục đích cuộc hành quân là phá hết các kho lương thảo, vũ khí, thành trì, cầu cống, diệt các đạo quân mới huấn luyện của Nam thùy Tống. Thế là cuộc Bắc phạt nổ ra vào cuối năm 1075. Quân Việt tiến đánh 18 ải dọc biên thùy Tống, rồi công phá các châu Khâm, Liêm, Ung, Dung, Nghi, Bạch, cùng diệt viện quân ở núi Đại-giáp (Nay thuộc lãnh thổ Quảng-Đông, Quảng-Tây, Quý-châu, Hồ-Nam). Nhiệm vụ chu toàn rồi, quân Việt rút về. Thắng toàn diện. Đến đây Đại-Việt ra mặt khai chiến với Tống. Cả hai bên cùng đem toàn lực ra đối phó với nhau.

Cuộc ra quân của Việt lần này quá lớn lao, phá nát kế hoạch cải cách của Tống ở Giang-Nam. Quá uất hận, Tống chịu nhục; nhường Hạ ở phía Tây, cắt đất dâng cho Liêu ở phương Bắc… để cho rảnh tay, rồi họ mang quân nghiêng nước sang định chiếm Đại-Việt đặt làm quận huyện (1076-1077). Nhưng Tống lại bị thất bại phải rút quân về, và chịu hòa. Người có hùng tâm, tráng-chí, lãnh đạo là một thiếu phụ ở tuổi ba mươi, đó là Linh-Nhân hoàng thái hậu (Ỷ-Lan). Còn người Tổng chỉ huy cuộc vượt biên Bắc phạt là Lý Thường-Kiệt, Tôn Đản, Lý Hoằng-Chân, Lý Chiêu-Văn, Lý Kế-Nguyên. Tôi đã thuật trong bộ Nam-quốc sơn hà.

1.6, Lần thứ sáu,

Sau cuộc Bắc phạt, và giữa lúc cuộc kháng Tống của Đại-Việt, chiến cuộc đang diễn ra cực kỳ khốc liệt (1076), Vương An-Thạch bị cách chức Tể-tướng, giáng xuống tri Giang-ninh phủ, lĩnh Trấn-Nam quân tiết độ sứ, Đồng-bình chương-sự. Lúc Vương độ giang, bị một nhân sĩ bắt con sâu bỏ lên xe rồi làm bài thơ mỉa mai như sau:

Thanh-miêu, trợ-dịch lưỡng phương nông,
Thiên hạ ngao ngao oán tướng công.
Độc hữu hoàng trùng thiên cảm đức,
Hữu tùy xa giá, quá Giang-Đông.

Dịch :

Thanh-miêu trợ dịch hại canh nông,
Thiên hạ nhao nhao oán tướng công.
Chỉ có sâu vàng theo tiễn biệt,
Cùng trên xa giá, quá Giang-Đông.

Có người ví cái thất bại của Vương An-Thạch cũng đau đớn như cái thất bại của Hạng Võ xưa, khuyên Thạch nên tự tử:

Khi Hạng-Vương mưu đuổi hươu ở Trung-nguyên, bị thất bại, lui về Nam; lúc qua sông này tự cảm thấy xấu hổ, đã tự tử, mà hậu thế kính phục. Tôi khuyên ông cũng nên tự tử để lưu danh muôn thủa.

Nhưng Thạch không đủ can đảm.

Tiếc thay, một cuộc cải cách về kinh-tế, binh-bị, tài-chánh, xã-hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ; bị tan vỡ, bị hủy bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại-Việt của Vương An-Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung-quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung-quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng muôn đời mặt trời vẫn ở phương Đông, chứ không ngả về Tây như hồi thế kỷ thứ 18 cho đến nay và bao giờ..???…???

Sau cuộc ra quân của Đại-Việt, trên từ vua Tống Thần-tông cho tới các quan đều uất hận. Tống xuất quân nghiêng nước, 40 vạn binh, 50 vạn dân phu (phụ lực quân) sang đánh trả thù (1066-1067). Nhưng khi quân Tống do Quách Quỳ, Triệu Tiết, Yên Đạt, Tu Kỷ tiến đến cách Thăng-long 50 dặm (25 cây số) thì bị đánh bật về Bắc. Sau đó Tống rút quân chịu hòa.

Tuy Tống chịu hòa, nhưng còn giữ của Đại-Việt các châu Quảng-nguyên, Tô-mậu mà bọn động trưởng Lưu Kỷ, Vi Thủ-An đem cả dân lẫn đất theo Tống. Quan trọng nhất là châu Quảng-nguyên có mỏ vàng. Năm 1078, Việt sai sứ sang Tống đòi đất. Tống không trả. Mãi năm 1081, Việt trả tù binh trong trận 1075-1077, Tống mới trả châu Quảng-nguyên. Năm 1084, Việt sai Binh-bộ thị-lang Lê Văn Thịnh (Thị lang tương đương với ngày nay là một giám-đốc) nghị hòa với các đại thần Tống, Tống chịu trả cho Việt thêm 6 huyện, 3 động. Việt tặng Tống con voi lớn. Danh sĩ Trung-quốc nhân chuyện này làm thơ than:

Nhân tham Giao-chỉ tượng,
Khước thất Quảng-nguyên kim.

(Vì tham voi Giao-chỉ, Chịu mất vàng Quảng-nguyên).

Hết chú giải 3

2. Vụ nhượng đất duy nhất trong lịch sử

- Trong suốt thời gian từ 1010 đến 1539, ngoại giao Việt-Hoa khi đẹp, khi xấu. Hai bên xẩy ra nhiều cuộc chiến, chính sự Đại-Việt khi thịnh, khi suy, nhưng phía Việt chỉ chịu cống Trung-quốc một số sản phẩm tượng trưng, chứ không bao giờ nhượng đất, nhượng dân.

- Cho đến năm 1540, giặc Mạc Đăng-Dung cướp ngôi nhà Lê, nhà Minh sai tướng Mao Bá Ôn, Cừu Loan đem 22 vạn quân tới biên giới lấy lý do Hưng diệt kế tuyệt (trung hưng triều Lê bị diệt, dựng lại dòng họ Lê bị tuyệt). Mạc Đăng-Dung đem một số tùy tùng lên ải Nam-quan, tự trói mình sang Trung-quốc, quỳ lạy các tướng Minh, xin đầu hàng, chịu lệ thuộc Minh, dâng nộp sổ sách về đất đai, quân dân, quan chức. Lại cũng dâng các động Tê-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, An-lương, La-phù. Đây là lần duy nhất trong lịch sử Việt, mà bọn Mạc cắt đất cho Trung-quốc. Suốt từ năm 1540 cho đến nay, sử sách, cùng tất cả người Việt đều nguyền rủa Mạc Đăng-Dung bằng tất cả những lời lẽ nặng nề nhất. Tuy Mạc dâng đất cho Trung-quốc, nhưng vẫn giữ lại cửa ải Nam-quan, làm ranh giới giữa Hoa-Việt. (4)

Chú giải (4)

Về vụ việc này sách Khâm-định Việt-sử thông giám cương mục (KĐVSTGCM), phần Chính-biên, quyển 27 chép:

Canh Tý, năm thứ 8 (1540). (Mạc, năm Đại-Chính thứ… Minh, năm Gia-Tĩnh thứ 19)

Tháng 11, mùa đông, Mao Bá Ôn nhà Minh đóng quân ở ngoài cửa ải. Mạc Đăng-Dung đến cửa quân tướng Minh, xin hàng và đem đất 5 động hối lộ nhà Minh.

Trước kia, tướng Minh là bọn Cừu Loan và Mao Bá-Ôn đã đến Quảng-tây, trưng tập các lang binh của thổ quan ở các tỉnh Lưỡng-Quảng, Phúc-kiến và Hồ-quảng. Lại truyền hịch đi Vân-nam sai tập họp binh lính, để chờ đợi nhật kỳ xuất quân.

Bọn Cừu Loan lại bàn:

“Chia chính binh làm ba đội tiểu binh, từ Quảng-tây đi các xứ Bằng-tường, Long-châu và Tư-minh.

Chia kỳ-binh làm hai toán tiểu binh: Toán xuất phát từ châu Quy-thuận gọi là Sơn-tiểu, toán xuất phát từ núi Ô-lôi gọi là Hải-tiểu.

Kể cả chính binh và kỳ binh trên đây cộng 22 (ChbXXVII, 32) vạn người.

Lại chia quân Vân-nam ở ghềnh Liên-hoa làm ba toán Tiểu binh, mỗi toán gồm 21.000 người. Tất cả đều lên đường đồng thời xuất phát”.

Lại truyền hịch sang ta dụ bảo về nghĩa phục hưng nước đã mất, nối lại dòng họ đã tuyệt, sự đánh dẹp chỉ nhằm một mình cha con Đăng Dung là kẻ có tội; còn ai biết đem quận huyện nào ra hàng, thì liền được trao cho chức quan ở quận huyện ấy để cai quản. Ai bắt hay chém cha con Đăng Dung mà ra hàng, thì cứ tính theo từng tên tội nhân một, mỗi tên là được thưởng 2 vạn nén vàng và được cho làm quan đến phẩm trật cao sang.

Tướng Minh lại dụ bảo cha con Đăng Dung nếu tự trói nộp mình đợi tội, thành khẩn dâng hết các sổ sách về đất đai và nhân dân thì được tha cho tội chết.

Bọn Bá-Ôn đóng quân dựng đồn ở gần nơi biên giới.

Bấy giờ Đăng Doanh chết rồi, Đăng Dung được tin, cả sợ, sai sứ giả đến cửa quân tướng Minh, trần tình, nguyện xin ra khỏi bờ cõi, đầu hàng, và kính cẩn vâng theo lịnh trên phân xử.

Lời lẽ của Đăng Dung rất là khiêm nhún, thiết tha. Bọn Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh, ưng thuận, hẹn đến mồng 3 tháng 11 cho Đăng Dung sang làm lễ đ?u hàng.

Bọn Bá-Ôn thiết lập MaÏc-phủ và tướng-đài ở Nam-quan chờ đợi. Đến kỳ đã định, Đăng Dung để Phúc-Hải ở lại coi giữ việc nước, còn mình cùng với người cháu là Văn Minh cùng bè đảng là bọn Vũ Như-Quế hơn 40 người do đường Nam-quan đi sang: ai nấy buộc dây thao vào cổ , đi chân không, gieo mình vào nơi Mạc-phủ tướng Minh, khúm núm, phủ phục, khấu đầu lạy, dâng tờ biểu xin hàng, nộp trình sổ sách, đất đai và nhân dân do mình cai quản.

Đăng-Dung lại xin dâng đất các động Tỳ-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, La-phù, An-lương thuộc châu (ChbXXVII, 33) Vĩnh-an ở Yên-quảng để lệ thuộc vào Khâm-châu nhà Minh. Lại xin nhà Minh ban cho chính sóc và ấn chương đã ban từ trước để Đăng Dung coi giữ việc nước trong khi chờ đợi mệnh lệnh có thay đổi hoặc quyết định ra sao.

Bọn Bá-Ôn vâng theo lời chiếu của vua Minh dụ bảo Đăng Dung hãy cho đái tội, về nước, chờ đợi mệnh lệnh phân xử sau.

Đăng-Dung lại sai Văn Minh và Nguyễn Văn Thái đem tờ hàng biểu sang Yên-kinh.

Lời cẩn án – Sử cũ chép đầu hàng nhà Minh, xin nộp các động Ty-phù, Kim-lặc, Cổ-sâm, Liễu-cát, La-phù và An-lương thuộc châu Vĩnh-an ở (ChbXXVII, 34) Yên-quảng cho lệ thuộc vào Khâm-châu. Nay xét Khâm-châu chí của nhà Thanh, chỉ thấy chép đời Gia-Tĩnh (1522-1566), Đăng Dung nộp trả năm động Ty-phù, La-phù, Cổ-sâm, Liễu-cát và Kim-lặc mà thôi, chứ không thấy nói đến động An-lương. Lại tra cứu đến Quảng-yên sách thì thấy động An-lương hiện nay là phố An-lương thuộc châu Vạn-ninh nước ta. Có lẽ về động An-lương, Đăng Dung chưa từng dâng nộp, mà chỉ là do sử cũ chép sai sự thật đó chăng?

Lại xét – Trong năm Mạc Minh-Đức thứ 2, tức là năm Minh Gia-Tĩnh thứ 7 (1528), sử cũ chép Đăng Dung sợ nhà Minh hỏi tội, bèn tính chuyện cắt đất đem dâng hai châu Quy, Thuận: vua Minh nhận. Từ đó, Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu. Nhưng, nay tra cứu bản đồ nước ta thì có Quy-hóa châu và Thuận-châu. Hai châu này hiện nay thuộc tỉnh Hưng-hóa. Trong Đại-Thanh nhất thống chí tuy có chép châu Quy-thuận nguyên thuộc phủ Trấn-an tỉnh Quảng-tây nhà Thanh đấy thật, nhưng hai châu mà sử cũ gọi là Quy, Thuận có lẽ tức là Quy-hóa và Thuận-châu đó thôi.

Lại xét – Minh sử thông giám kỷ sự: hồi năm Mạc Đại-Chính thứ 9 (1538), Mạc Đăng-Dung được tin quân Minh sang đánh, cả sợ, sai sứ xin hàng, nói dối là họ Lê không có người kế tự, cha con Đăng-Dung có công với nước, được mọi người suy tôn. Còn Đăng-Dung sở dĩ không dâng được biểu chương, cho sứ sang tiến cống, là chỉ vì trước kia bị Trần Cung chiếm cứ Lạng-sơn làm nghẽn đường, đến sau lại bị quan giữ biên cương đóng cửa ải, không tiếp nhận.

Nay, từ năm Gia-Tĩnh thứ 7 (1528) đến năm thứ 17 (1538) trải hàng 10 năm chưa từng có sứ đi thông hiếu, thế mà sử cũ ở năm Gia-tĩnh thứ 7, đã vội chép rằng: “Đăng-Dung tính chuyện cắt đất dâng nộp hai châu Quy, Thuận, từ đó Nam, Bắc lại cho sứ giả đi lại thông hiếu”. Về việc này, những điểm sử cũ chép đó đều xa sự thực, nên nay rút bới đi mà chép phụ vào đây để tham khảo.

(KHĐVSTGCM, bản dịch của viện Sử-học Việt-Nam, NXB Giáo-dục, 1998, trg. 113-117)

Hết chú giải (4)

Hình chụp tháng 8-2001, trên núi Tô-thị, thành nhà Mạc con lưu di tích

Nhờ dâng đất, được Minh triều bao che, con cháu Mạc Đăng-Dung còn cát cứ vùng biên giới Cao-bằng, Lạng-sơn một thời gian. Chiếu Vidéo trong 5 phút về núi Tô Thị tại Lạng-sơn.

Tượng nàng Tô-thị tại quận Đồng-đăng, tỉnh Lạng-sơn, ghi lại di tích người chinh phụ bế con chờ chồng, rồi hóa đá. Hồi Tổng bí-thư Lê Duẩn cầm quyền, để xóa bỏ văn hóa tộc Việt, phát huy văn hóa Mác-xít, tượng bị đem nung làm vôi. Hình chụp tượng mới tạc lại.

Ca dao có bài hát:

Con cò bay lả bay la,
Bay ra ruộng lúa, bay vào Đồng-đăng,
Đồng-đăng có phố Kỳ-lừa,
Có nàng Tô-thị, có chùa Tam-thanh,
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.

Không phải chùa Tam-thanh mà là động Tam-thanh. Hồi 1979, Hồng-quân sang “dạy” Việt-Nam bài học, đã san bằng Lạng-sơn. Chưa hả giận, họ còn dùng đại pháo bắn phá động Tam-thanh. Cửa động trước ở chỗ cột cờ, với hàng trăm bài thơ lưu niệm của danh sĩ Việt. Nay cửa động bị phá, cửa động mới tụt lùi vào trong.

Ngắt đoạn 2, không có câu hỏi nào.

Kính thưa Quý-vị,

Tôi vừa lướt qua vài nét đơn sơ về biên giới Hoa-Việt, về ngoại giao Hoa-Việt trong thời gian 989 năm. Bây giờ tôi xin đi thẳng vào đầu đề hôm nay, về việc:

- Đảng Lao-động Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa (VNDCCH, 1945-1975).
- Đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo nhà nước Cộng-hòa Xã-hội Chủ-nghĩa Việt-Nam (CHXHCNVN, 1975-2001) nhượng lãnh thổ, lãnh hải cho Trung-hoa Nhân-dân Cộng-hòa quốc gọi tắt là Trung-quốc.

3. Vụ Việt-Nam dân chủ Cộng-hòa nhượng lãnh hải cho Trung-quốc,

3.1, Kết quả của văn kiện 14-9-1958

Ngày 4-9-1958, chính phủ Trung-quốc tuyên cáo về lãnh hải 12 hải lý kể từ đất liền của họ, có đính kèm bản đồ rất rõ ràng. Bản tuyên cáo này chỉ có hai nước công nhận đó là VNDCCH và Bắc Cao (Cộng-hòa Nhân-dân Triều-tiên). Việc VNDCCH công nhận như sau: Ngay khi nhận được bản tuyên cáo do sứ quán Trung-quốc tại Hà-nội trao, Chủ-tịch Hồ Chí Minh triệu tập Bộ Chính-trị đảng Lao-động Việt-Nam (tức đảng Cộng-sản Việt-Nam ẩn danh). Trong buổi họp này toàn thể các thành viên nhất trí chấp nhận bản tuyên bố của Trung-quốc. Ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng tuân lệnh Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, gửi văn thư cho Tổng-lý Quốc-vụ viện Trung-quốc Thủ-tướng) là Chu Ân-Lai, trong đó có đoạn (Văn thư đính kèm 1):

“Chính-phủ nước Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa tôn trọng quyết định ấy, và sẽ chỉ thị cho các cơ quan có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa trên mặt biển”.

Ngắt đoạn 3,

Cử tọa thắc mắc, câu hỏi 3:

Ngoài bản văn này, liệu chúng ta có thể tìm lại một vài chi tiết khác không?

Gs. TĐS:

Thưa Ngài nhiều lắm, nhưng tôi chỉ xin cử vài tài liệu mà thôi:

1, Bản tin UPI-AFP ngày 23-9-1958 .

2, Vụ việc này báo chí Việt-Hoa đều có đăng tải ngày 23-9-1958, Quý-vị có thể tìm tại thư viện Paris, London và cả một số thư viện Trung-quốc (Bắc-kinh), Việt-Nam (Hà-nội). Nội dung UPI- AFP đều đánh đi đại lược:

“Ngày 22 tháng 9 năm 1958, Đại-sứ của VNDCCH tại Trung-quốc là ông Nguyễn Khang, đã trao công hàm cho ông Cơ Bằng Phi, Thứ-trưởng Bộ Ngoại-giao Trung-quốc. Nội dung như sau:

Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung-quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt biển”.

3, Tháng 5 năm 1976 (chúng tôi quên ghi ngày), nhật báo Sài-gòn Giải-phóng, cơ quan ngôn luận của Thành-ủy Thành phố Hồ Chí Minh viết một bài xác nhận quần đảo Hoàng-sa, thuộc Trung-quốc. Nguyên văn có câu:

“Trung-quốc vĩ đại đối với chúng ta không chỉ là người đồng chí, mà còn là ông thầy tin cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng-sa thuộc Trung-quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Trung-quốc với là hai nước sông liền sông, núi liền núi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại quần đảo này, Trung-quốc sẽ sẵn sàng giao lại”.

4, Sau trận hải chiến ngày 14 tháng 3 năm 1988 với Trung-quốc, cơ quan ngôn luận chính thức của đ?ng Cộng-sản Việt-Nam, tờ Nhân-dân, số ra ngày 26 tháng 4 năm 1988, tự biện hộ về việc nộp lãnh hải của Bộ Chính-trị thời Hồ Chí Minh như sau:

“Đúng là có những lời tuyên bố đó. Cần phải đặt lại những lời tuyên bố này trong bối cảnh lịch sử của nó…Trong cuộc chiến đấu một mất một còn, chống một kẻ thù xâm lược có sức mạnh quân sự lớn hơn mình nhiều, Việt-Nam tranh thủ được Trung-quốc gắn chặt với cục chiến đấu của Việt Nam càng nhiều bao nhiêu và ngăn chận Mỹ sử dụng hai quần đảo cũng như vùng biển Đông chống lại Việt-Nam, thì càng tốt bấy nhiêu”.

Kính thưa Quý-vị, tôi xin tiếp tục,

Theo bản tuyên bố này thì những nước liên hệ là :

- Trung-hoa Dân-quốc (Đài-loan),
- Nhật-bản,
- Hoa-kỳ (hạm đội 7),
- Phi-luật-tân,
- Mã-lai,
- Brunei,
- Indonésia,
- VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH).

Thế nhưng từ hồi đó đến nay các nhà nghiên cứu Âu-Mỹ cho đến các nước Á-châu Thái-bình-dương (ACTBD) không hề để ý đến văn thư trên. Ngay VNCH, bấy giờ cơ quan tình báo được gọi là Sở Nghiên-cứu Chính-trị và Xã-hội, được chỉ đạo bới một trí thức siêu việt, đào tạo tại Pháp là ông Ngô Đình Nhu, mà cũng không để ý tới. Vì đọc bản tuyên bố lãnh hải kể từ đất liền, là 12 hải lý, đúng theo công ước Liên-hiệp quốc họp tại San Francisco năm 1951, thì có chi bận tâm?

Vì sao một người tinh minh, mẫn cán như ông Ngô Đình Nhu mà cũng bị sơ sót?

Bản tuyên bố chỉ đọc trên hệ thống truyền thanh của Trung-quốc, rồi cũng được các báo Trung-quốc đăng lại, mà không có bản đồ đính kèm. Cả thế giới (kể cả Hoa-kỳ, Trung Hoa Dân Quốc, VNCH) cứ nhìn trên bản đồ Trung-quốc cũng như vùng Nam-hải phân định lãnh hải từ 1887 mà cho rằng: theo Quốc-tế công pháp thì lãnh hải hầu hết các nước đều gồm 12 hải lý, kể từ thềm lục địa. Vụ Trung-quốc tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của họ là một sự bình thường. Cái tưởng lầm tai hại đó cho đến nay (11-2001), những người chống đối vụ nhường đất cho Trung-quốc ở trong nội địa Việt-Nam, cũng như hải ngoại chỉ kết tội vu vơ, không rõ ràng, không chứng cớ vì nguyên do không bản đồ này.

Do kết quả không có bản đồ đính kèm của Trung-quốc tuyên bố lãnh hải của họ (gần như trọn vẹn vùng biển Nam-hải, đính kèm), Hoa-kỳ cũng như thế giới không biết (hay không công nhận), nên suốt thời gian 1958-2001:

- Hạm đội 7 của Hoa-kỳ tuần hành trong vùng lãnh hải tuyên bố này, đầy đe dọa Trung-quốc, mà Trung-quốc vẫn ngậm bồ hòn.

- Chiến hạm của Pháp, Đức, Ý cũng như một số nước Úc, Âu trong thời gian 1975-1980 vẫn tuần hành, hộ tống những con tầu vớt người Việt trốn chạy trong vùng, mà Trung-quốc đành im lặng.

Hôm nay tôi cần phải trình bày trước các vị và làm sáng tỏ nội vụ.

Kính thưa Quý-vị,

3.2. Những bí ẩn

Cái bí ẩn đó không có gì lạ cả, rất rõ ràng, rất chi tiết.

- Về phía các nhà nghiên-cứu Âu-Mỹ, ACTBD không có bản đồ đính kèm bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Trung-quốc, họ cứ nhìn vào bản đồ đã phân định từ 1887, giữa Pháp và triều Thanh. Họ cũng cứ nhìn bản đồ của các nước vùng Nam-hải, của Trung-quốc, của Trung-hoa Dân-quốc cũ, rồi cho rằng lãnh hải 12 hải lý thì đúng công ước quốc tế.

Nhưng nếu họ có bản đồ về lãnh thổ đính kèm bản tuyên bố thì họ sẽ toát mồ hôi ra. Vì bản đồ này bao gồm toàn bộ các đảo trong vịnh Bắc-Việt, toàn bộ các đảo ở biển Nam-hải như Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa). Như vậy nếu tính lãnh hải 12 hải lý, tính từ các đảo này thì:

- Lãnh hải Trung-quốc ở biển Nam-hải, phía Tây sẽ sát tới bờ biển suốt miền Trung, Bắc Việt-Nam.
- Phía Đông sát tới lục địa Phi-luật-tân, Brunei,
- Phía Nam sát tới Indonésia, Mã-lai.

Trở lại với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, bộ Chính-trị đảng Lao-động (Cộng-sản) Việt-Nam và chính phủ VNDCCH hồi 1958, khi các vị ấy có bản tuyên bố lãnh hải của Trung-quốc, thìï cũng có bản đồ chi tiết. Nhưng các vị ấy gửi thư chấp nhận bản tuyên bố đó thì có nghĩa rằng:

Họ đồng ý nhường cho Trung-quốc toàn bộ:

- Các đảo của Việt-Nam trên biển Nam-hải.
- Toàn bộ lãnh hải Việt-Nam cách các đảo đó 12 hải lý, nghĩa là toàn bộ biển Nam-hải.

Bản đồ tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Trung-quốc ngày 4-9-1958. Theo bản đồ này thì lãnh hải của họ chiếm hết biển Nam-hải, cách Phan-thiết, Quảng-Nam Mã-lai, Phi-luật-tân có 50 hải lý. Quyết định này được đảng Cộng-sản VN tán thành.

Kính thưa Quý-vị,

3.3, Bí ẩn vụ Trung-quốc chiếm Hoàng-sa (Tây-sa)

Từ trước đến giờ, có nhiều vị hiện diện hôm nay từng đặt câu hỏi với tôi rằng:

- Tại sao năm 1974, thình lình Trung-quốc đem quân đánh quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) từ VNCH. Trận chiến diễn ra ngắn ngủi, phía Trung-quốc bị thiệt hại gấp ba VNCH (về nhân mạng, về chiến hạm, tài liệu này tôi có từ phía Trung-quốc). Nhưng VNCH vì quân ít, vũ khí chỉ có đại bác, chiến hạm nhỏ. Trong khi Trung-quốc có hỏa tiễn địa-địa, chiến hạm lớn đông gấp bội VNCH. VNCH lại đang có nội chiến, phải đương đầu với quân đội VNDCCH, vì vậy VNCH phải bỏ kế hoạch tái chiếm Hoàng-sa. Bấy giờ Hoa-kỳ với VNCH có hiệp ước hỗ tương an ninh, Hoa-kỳ đang tham chiến tại Việt-Nam, hạm đội 7 hùng hậu đang tuần hành gần vùng giao chiến. Tại sao Hoa-kỳ không can thiệp, không lên tiếng bênh vực VNCH? Ngay việc thủy thủ VN, tầu bị chìm, mà hạm đội 7 cũng không vớt theo luật hàng hải Quốc-tế.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 4:

- Xin Gs cho biết trong trận hải chiến này, phía Trung-quốc, VNCH, bên nào nổ súng trước?

Gs TĐS:

- Thưa VNCH. Hải-quân VNCH rất thiện chiến, tác xạ rất chính xác, các sĩ quan đều được huấn luyện theo tiêu chuẩn Âu-Mỹ, thêm kinh nghiệm VN. Ngay loạt đạn đầu tiên khiến 4 hạm trưởng Trung-quốc tử trận.

Tôi xin trở lại đầu đề:

Vì:

Trong-cuộc mật đàm giữa Hoa-kỳ (Kissinger) và Trung-quốc (Mao Trạch Đông). Phía Trung-quốc trao cho ông Kissinger bản tuyên bố lãnh hải 4-9-1958 cùng bản đồ. Ông Kissinger đã công nhận bản tuyên bố đó. Cho nên ông Kissinger vừa rời Trung-quốc hai ngày, thì ngày 11 tháng 1 năm 1974, Trung-quốc tuyên bố hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa) là của Trung-quốc, rồi Trung-quốc đem hạm đội xuống Hoàng-sa. Bấy giờ Hoàng-sa do VNCH trấn đóng.

Vì:

Văn thư của ông Phạm Văn-Đồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc. Trung-quốc chiếm Hoàng-sa chỉ là việc chiếm lại lãnh thổ được văn thư 14-9-1958 công nhận. Nghĩa là Trung-quốc chiếm lại lãnh thổ đã bị VNCH xâm lăng 16 năm.

Ngắt đoạn 4,

Cử tọa hỏi, câu hỏi 5, cấm phổ biến.

Về nguồn gốc tài liệu cuộc mật đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Đông và Cố-vấn Kissinger. Gs Trần trình bày chi tiết. Toàn bộ cử tọa chấp nhận; nhưng chúng tôi bị cấm không được phổ biến.

Sau khi Gs Trần trình bầy, một trong ba vị chủ tọa phát biểu:

Tôi xin bổ túc những gì Gs Trần lướt qua. Bấy giờ (1974) là thời điểm chiến tranh Đông-dương đang diễn ra cực kỳ sôi động, mà tình hình giữa Liên-sô với Trung-quốc cũng căng thẳng cực kỳ. Qua những cuộc mật đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch Đông với Cố-vấn Kissinger; Trung-quốc, Hoa-kỳ đã đi đến những thỏa thuận quan trọng. Rồi Tổng-thống Richard Nixon thăm Trung-quốc.

Chúng ta đều biết sự hiện diện, của Hoa-kỳ tại Đông-dương là ngăn chặn hai mũi dùi Cộng-sản từ Afghanistan, Đông-dương nối với nhau. Bây giờ Hoa-kỳ biết chắc Trung-quốc, Liên-sô không thể hàn gắn lại, khối Cộng bị vỡ làm nhiều mảnh. Vì vậy sự hiện diện của Hoa-kỳ trở thành vô ích, vừa tốn tiền, vừa tốn máu. Cho nên họ muốn rút ra khỏi Đông-dương, dùng Đông-dương làm bình xăng tưới vào ngọn lửa đang thiêu đốt căn nhà ngoại giao Trung-Sô.

Chìa khóa của Đông-dương là Việt-Nam. Mà tại Việt-Nam, mọi quyết định do Bộ Chính-trị. Chủ-tịch Hồ Chí Minh chết 5 năm rồi, vấn đề tranh quyền đã ngã ngũ, phe chạy theo Liên-sô Lê Duẩn, Lê Đức Thọ thắng thế. Trung-quốc biết rất rõ. Suốt bao năm Trung-quốc cưu mang cho Bắc VN, nay bỗng dưng Trung-quốc mất hết, chỉ còn tay trắng ư? Trung-quốc phải kiềm chế Bắc VN. Thế nhưng Trung-quốc muốn kiềm chế mà không được. Mao tìm cách nắm Cambodge mà bấy giờ Cambodge còn nằm trong tay Bắc VN. Vì vậy Trung-quốc muốn tìm cách dùng Nam VN (VNCH) làm bức tường cản Bắc Việt-Nam (VNDCCH). Trung-quốc tìm cách gần Nam VN bằng hai ngả:

Ngả thứ nhất: Mật sứ của Trung-quốc tại Londre gặp Đại-sứ Nam VN (VNCH) ngỏ ý cho biết Hoa-kỳ đang muốn trao VNCH cho Bắc VN. Nếu VNCH muốn, Trung-quốc sẽ giúp như sau: Mặt Bắc, chặn con đường tiếp tế từ đường bộ Liên-sô qua lãnh thổ Trung-quốc. Trung-quốc đem đại quân ép Bắc biên. Mặt Nam tiếp tế vũ khí cho VNCH. Như vậy bắt buộc Bắc VN phải rút quân về.

Ngả thứ nhì, Trung-quốc qua mấy nhân vật trí thức VN trong Phong Trào Liên Bang Đông Nam Á (hội tư luật 1901) tại Paris, trực tiếp nói cho Tổng-thống, và Bộ Ngoại-giao VNCH biết rằng: Việc Hồng-quân tiến xuống Trường-sa chỉ là cái cớ để Trung-quốc với VNCH ngồi vào bàn hội nghị. Nhưng không rõ VNCH quan niệm ra sao, mà lại khai hỏa trước.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 6:

- Hồi đầu năm 1974, tôi có đọc trên một tờ báo Anh-ngữ xuất bản tại Hương-cảng tường thuật về trận đánh giữa VN (VNCH) và Trung-quốc ngày 19-1-1974 trong vùng quần đảo Hoàng-sa. Giáo-sư có thể cho biết: Lực lượng tham chiến của hai bên ra sao? (Người đặt câu hỏi nguyên là Đô-đốc)

Gs TĐS:

- Thưa Ngài tôi xin chiếu lên màn ảnh để Ngài thấy.

Về phía VNCH:

1. Lực lượng tham chiến:

4 chiến hạm:

- Khu trục hạm Trần Khánh Dư, ký số HQ4, hạm trưởng là Trung-tá Vũ Hữu San.

- Tuần dương hạm Trần Bình Trọng, ký số HQ5, hạm trưởng là Trung-tá Phạm Trọng Quỳnh.

- Hộ tống hạm Nhật-tảo, ký số 10, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Văn Thà. Khi chiến hạm hỏng máy, bị chìm, trong khi tất cả thủy thủ đoàn xuống xuồng chạy, thì ông cương quyết ở lại, chết với tầu của mình. Tuẫn quốc.

- Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, ký số HQ16, hạm trưởng là Trung-tá Lê Văn Thự.

2. Lực lượng trừ bị:

- Tuần dương hạm Trần Quốc Toản, ký số HQ6,

- Hộ tống hạm Chí-linh, ký số HQ11

- Không quân: Phi -đoàn F5-A37.

Nhưng lực lượng trừ bị Hải-quân ở quá xa chưa kịp can thiệp thì trận chiến đã kết thúc. Không quân thuộc Quân-khu I, không can thiệp. Vì vậy sau trận đánh, Tư-lệnh Hải-quân ra lệnh cho các sĩ quan tham dự, không thuyết trình cho Tư lệnh quân khu I là tướng Ngô Quang Trưởng.

Về phía Trung-quốc:

1. Lực lượng tham chiến:

14 chiến hạm:

- Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 271, hạm trưởng là Đại-tá Vương Kỳ Uy, tử thương.

- Hộ tống hạm Kronstadt, ký số 274, hạm trưởng là Đại-tá Quan Đức, tử thương. Đây là soái hạm của chiến dịch. Tư lệnh mặt trận là Đô-đốc Phương Quang Kinh, Tư-lệnh phó hạm đội Nam-hải của Trung-quốc với bộ tham mưu đi trên chiến hạm này. Khoảng giữa trận chiến, ông cùng bộ tham mưu tử thương (1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy).

- Trục lôi hạm, ký số 389, hạm trưởng là Trung-tá Triệu Quát, tử thương.

- Trục lôi hạm, ký số 396, hạm trưởng là Đại-tá Diệp Mạnh Hải, tử thương.

- Phi tiễn đỉnh Komar 133, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx hạm trưởng là Thiếu-tá Tôn Quân Anh.

- Phi tiễn đỉnh Komar 137, trang bị hỏa tiễn đĩa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Mạc Quang Đại.

- Phi tiễn đỉnh Komar 139, trang bị hỏa tiễn địa địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Tạ Quỳ.

- Phi tiễn đỉnh Komar 145, trang bị hỏa tiễn địa-địa Styx, hạm trưởng là Thiếu-tá Ngụy Như.

- 6 Hải vận hạm chở quân.

2. Lực lượng trừ bị:

- 2 Tuần dương hạm.

- 4 Pháo-hạm.

- 4 Khu trục hạm trang bị hỏa tiễn Kianjiang.

- 2 Phi đội MIG 19.

- 2 phi đội MIG 21.

Do chính Đô-đốc Tư-lệnh hạm đội Nam-hải chỉ huy. Chúng tôi không biết tên ông.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 7:

- Tổn thất 2 bên ra sao? (Vẫn vị cựu Đô-đốc trên)

Gs TĐS:

- Xin mời ngài xem bảng so sánh, tôi chiếu lên.

Về phía VNCH,

- 3 chiến hạm bị thương (HQ 4-5-16 bị thương nhẹ, rút về Đà-nẵng, sau khi sửa chữa, lại hoạt động như cũ.

- HQ10 bị chìm.

- Một hạm trưởng tử thương.

Về phía Trung-quốc,

- Tư lệnh mặt trận, bộ tham mưu (1 Đô-đốc, 4 Đại-tá, 6 Trung-tá, 2 Thiếu-tá, và 7 sĩ quan cấp úy) và 4 hạm trưởng tử thương,

- Hộ tống hạm 274 bị chìm.

- Hộ tống hạm 271, hai trục lôi hạm 389-396 bị hư hại nặng phải ủi bãi, sau đó phải phá hủy.

- 4 ngư thuyền chở quân bị chìm.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 8:

Cấm phổ biến: Nội dung về nguồn gốc tài liệu tổn thất về phía Trung-quốc.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 9:

- Tôi nghe Hoa-kỳ trang bị cho VN (VNCH) những vũ khí, cũng như chiến hạm tối tân nhất. Trong khi Giáo-sư chiếu hình 4 chiến hạm tham chiến đều thuộc loại hạ thủy vào thập niên 1940, quá cũ kỹ. Vũ khí cũng vậy. Tại sao VN (VNCH) không đem những chiến hạm, vũ khí tối tân ra tham chiến? (Người đặt câu hỏi nguyên là kỹ sư hàng hải).

Gs TĐS:

- Thưa quả đúng như Ngài nhận xét. Tất cả chiến hạm Hoa-kỳ viện trợ cho VNCH đều thuộc loại phế thải. Thay vì Hoa-kỳ phá hủy, họ tân trang lại rồi trao cho VN. Bốn chiến hạm tham dự trận đánh đều là những chiến hạm tốt nhất mà VN nhận được. HQ4 hạ thủy năm 1943. (Cử tọa bật cười). HQ5 hạ thủy năm 1944. HQ10 hạ thủy năm 1942. HQ 16 hạ thủy năm 1942. Còn vũ khí, cũng có chiến hạm trang bị loại đại bác bắn liên thanh. Nhưng khi trao cho VN thì Hoa-kỳ tháo đi. Dường như Hoa-kỳ đoán trước có cuộc hải chiến này, nên một chiến hạm trang bị loại đại bác trên, tuy đã trao cho VNCH, nhưng bị tháo đi trước đó mấy tháng. Bằng không phía Trung-quốc bị thiệt hại còn nặng hơn nhiều.

Quý vị có biết không? Hộ tống hạm ký số HQ10, giữa trận đánh, máy bị hỏng, do cũ quá chứ không phải bị trúng đạn, vì vậy không di chuyển được, làm bia lĩnh đạn, sau đó bị chìm.

Cử tọa hỏi, câu hỏi 10:

- Trong quá khứ, giữa VN với Trung-quốc đã xẩy ra những trận thủy chiến nào? Kết quả ra sao? (Người hỏi nguyên là giáo sư sử Đông-Á)

Gs TĐS:

- Thưa Ngài trong lịch sử 5000 năm của Hoa-Việt, chiến tranh liên miên. Về bộ chiến, kị chiến thì cả hai bên khi khi thắng khi bại. Duy thủy chiến, bao giờ Việt cũng thắng.

Cử tọa hỏi câu hỏi 11:

- Xin cho biết những trận nào?

Gs TĐS:

- Trận cổ nhất vào năm 42 sau Tây-lịch. Chiến địa xẩy ra ngoài biển Đông. Đô-đốc Trung-quốc là Đoàn Chí. Đô-đốc Việt là Trần Quốc, một nữ tướng. (Cử tọa ồ lên). Kết quả hạm đội Trung-quốc bị đánh chìm hết. Đoàn Chí bị giết.

- Hồi đó người Việt theo chế độ mẫu hệ ư?

- Thưa không. Nhưng vị Hoàng-đế cai trị là một phụ nữ. Trong suốt năm nghìn năm lịch sử, đời nào VN cũng có những nữ tướng kiệt hiệt.

- Hiện có còn chứng tích nào về vị nữ Đô-đốc này không?

- Nếu Ngài du lịch VN, xin tới Hà-nội, thuê xe, bảo tài xế đưa đến làng Hoàng-xá, xã Kiêu-kỵ, huyện Gia-lâm là nơi có đền thờ bà. Tôi xin chiếu vidéo về đền thờ này. (chiếu vidéo 5 phút).

- Thưa Ngài trận thứ nhì do Vua Ngô (938), trận thứ ba do vua Lê (981), trận thứ tư do Hưng Đạo vương (1288). Cả ba trận sau đều diễn ra trên sông Bạch-đằng, Trung-quốc đều bị bại. Trận 1288 là trận khủng khiếp nhất, bên Trung-quốc do vua Mông-cổ là Hốt Tất Liệt chỉ đạo. Kể từ đó cho đến năm 1974, mới có trận Hoàng-sa.

Đền thờ công chúa Gia-hưng Trần Quốc, đại đô đốc thời Lĩnh-Nam (vua Trưng), tại làng Hoàng-xá, xã Kiêu-kỵ, huyện Gia-lâm, Hà-nội. Bốn chữ đại tự trên là VẠN CỔ ANH PHONG. Có 3 câu đối ở mặt tiền, câu thứ 2 nói lên huân nghiệp của ngài:

Tô khấu tước bình trực bả quần thoa đương kiếm kích,

Trưng vương dực tải hảo tương cân quắc hộ sơn hà.

(Bình giặc Tô Định, đem quần thoa, chống với kiếm kích. Phò Trưng vương, đem khăn yếm giữ non sông)

Đền Kiếp-bạc, thờ Hưng Đạo vương. Bốn chữ đại tự trên là: DỮ THIÊN VÔ CỰC. Bốn chữ dưới là TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG TỪ.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 12:

- Xin cho biết lực lượng hải quân Trung-quốc và Việt-Nam hiện giờ?

Gs TĐS:

- Trình bày chi tiết, cử tọa chấp nhận. Nhưng chúng tôi bị cấm không được phổ biến.

Tôi xin trở lại với bài điều trần:

- Cũng có vị hỏi tôi rằng: Tại quần đảo Trường-sa (Nam-sa) hiện có quân của Trung-hoa Dân-quốc (Đài-loan), Phi-luật-tân, Mã-lai, Việt-Nam. Thế sao hải quân Trung-quốc luôn khai hỏa vào hải quân Việt-Nam. Quan trọng nhất là trận chiến 14 tháng 3 năm 1988. Việt-Nam chỉ phản đối lấy lệ?

Nay tôi xin thưa:

Do văn thư của ông Phạm Văn-Đồng công nhận quần đảo này là của Trung-quốc.

Lập luận phía Trung-quốc là: Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng đã công nhận vùng này là lãnh hải Trung-quốc, tại sao quân đội Việt-Nam còn hiện diện tại đây? Như thế là Việt-Nam xâm phạm lãnh thổ Trung-quốc. Quân đội Trung-quốc phải đánh đuổi quân xâm lăng, bảo vệ đất nước là lẽ thường. Quân đội Đài-loan đóng tại đây, mà Trung-quốc không tấn công vì quân Đài-loan thì cũng là quân đội Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc. Còn Phi, Mã-lai với Trung-quốc đang tranh chấp trên quần đảo này chưa ngã ngũ; thì quân đội của họ hiện diện là lẽ thường. Trung-quốc không thể tấn công họ, vì như vậy là Trung-quốc ỷ lớn hiếp nhỏ.

Đối với vụ việc tranh chấp Trung-quốc, Việt-Nam trên đảo Trường-sa (Nam-sa) đã giải quyết bằng văn thư của Việt-Nam ngày 14-9-1958. Chính vì lý do này mà Trung-quốc chỉ chấp nhận đàm phán về vùng đảo với từng nước, mà không chịu đàm phán chung với tất cả các bên liên hệ. Có nghĩa họ gạt Việt-Nam ra ngoài, vì Việt-Nam đã công nhận các đảo này là của Trung-quốc.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 13:

- Giáo-sư có thể cho biết chi tiết về trận đánh ngày 14-3-1988 không? Tổn thất hai bên như thế nào?

Gs TĐS:

- Về phía Trung-quốc dường như không có ai tử thương. Cũng không có chiến hạm nào bị chìm. Về phía VN, thì:

- 1 Chiến hạm Thượng-hải do Trung-quốc viện trợ cho trước đây, bị chìm.

- 1 Tuần dương hạm của VNCH để lại, bị chìm.

- 1 Một hải vận hạm do Nga-sô viện trợ bị chìm.

- Nhân mạng khoảng trên 300 chết.

Kính thưa Quý-vị,

Tôi xin trở lại phần điều trần.

3.4, Về hoàn cảnh Mạc Đăng-Dung năm 1540

Ta có thể hiểu tại sao giặc Mạc lại làm công việc táng tận lương tâm, ô danh bậc nhất cổ kim trong lịch sử tộc Việt ấy. Vì:

- Bấy giờ tuy Dung và con cháu đang cai trị Đại-Việt. Nhưng tại Thanh-hóa con cháu nhà Lê đã thiết lập triều đình mới, đang tiến quân về Thăng-long.

- Phía Bắc bị 22 vạn quân Minh dàn ra định tràn xuống đánh. Vì tính mạng bản thân và gia đình, họ hàng bị đe dọa, nên Mạc Đăng-Dung phải đầu hàng Minh triều, rồi cắt đất dâng cho Minh.

3.5, Về hoàn cảnh đảng Cộng-sản Việt-Nam năm 1958, và chính phủ VNDCCH

Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản, trong Chính-phủ đều biết rằng:

- Kể từ năm 1540, sau khi dâng đất cho Trung-quốc, giặc Mạc Đăng-Dung bị lịch sử Việt-Nam kết tội, bị toàn dân nguyền rủa, đến bấy giờ trải 418 năm, chính họ cũng nguyền rủa bọn Mạc.

- Giữa VNDCCH và Việt-Nam Cộng-hòa (VNCH), cả hai bên đều đang lo củng cố xây dựng lại vùng đất của mình sau chiến tranh (1945-1954). Cả hai bên cùng chưa chính thức gây hấn với nhau. VNDCCH không có ngoại thù.

- Trung-quốc không có chiến tranh với VNCDCH. Không có áp lực ngoại xâm.

- Năm 1958, là lúc thịnh thời nhất của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, của Đại-tướng Võ Nguyên Giáp. Thời kỳ này, miền Bắc Việt-Nam vừa trải qua cuộc Cải cách ruộng đất, 246.578 người hầu hết là phú nông, địa chủ, trung nông, các cựu đảng viên không phải của đảng Lao-động (Cộng-sản), dân chúng… bị giết. Nghĩa là toàn miền Bắc dân chúng kinh hoàng, cúi đầu răm rắp tuân lệnh đảng. Không còn kẻ nội thụ

- Nhất là lúc ấy VNDCCH đang kéo cao cờ nghĩa đánh Pháp, chống Mỹ cứu nước. Họ kết tội VNCH là Việt-gian, là Ngụy. Họ phải hết sức giữ gìn để khỏi mất chính nghĩa.

- Thế sao đảng Cộng-sản lại làm cái việc thân bại danh liệt, trở thành tội đồ muôn năm của tộc Việt?

- Bàn về việc ký thỏa ước với nước ngoài, việc nhận đất, nhượng đất phải thông qua Quốc-hội. Bấy giờ VNDCCH cũng có Quốc-hội. Nhưng Quốc-hội không được hỏi đến, không được bàn đến và nhất là không được thông tri. Quốc dân cũng thế. Tất cả thắc mắc này, tôi xin để Qúy-vị suy đoán và trả lời.

3.6, Một câu hỏi được đặt ra:

Vậy thì vì lý do gì mà đảng Cộng-sản Việt-Nam lãnh đạo Chính-phủ VNDCCH lại nhượng lãnh hải cho Trung-quốc quá dễ dàng?

Cho đến nay, tôi cũng không tìm ra lý do thỏa đáng.

Tôi không tìm ra vì:

- Tất cả những vị trong bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam dự buổi hội quyết định nhượng lãnh hải, đều đã từ trần. Các vị trong nội các Phạm Văn-Đồng hồi ấy, không biết nay có ai còn sống hay không? Tôi chỉ biết chắc rằng Đại-tướng Võ Nguyên-Giáp, vừa là Bộ-trưởng bộ Quốc-phòng, vừa là ủy viên Bộ Chính-trị là còn tại thế. Đại-tướng là người có học thức cao nhất bộ Chính-trị, từng là giáo sư Sử-học. Bấy giờ lại là lúc uy tín, quyền hành của Đại-tướng lên tột đỉnh. Vụ ông Phạm Văn-Đồng ký văn kiện này Đại-tướng phải biết. Nay Đại-tướng đang đi vào những ngày cuối cùng của đời người. Nếu sĩ khí, dũng khí của Đại-tướng còn, xin Đại-tướng cho quốc dân biết không? (5)

Chú giải (5)

Sau cuộc cải cách ruộng đất. Thấy dân chúng, cán bộ quá bất mãn. Chủ-tịch Hồ Chí-Minh sợ có biến, vội đưa vụ sửa sai. Nhận thấy bấy giờ duy có Đại-tướng Võ Nguyên Giáp là có uy tín nhất, Bộ Chính-trị tập hợp dân chúng, cán bộ, rồi mời ông ra thay Đảng… xin lỗi.

- Nếu nói rằng khi ký văn kiện trên, là tự ý Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng thì không thể nào tin được. Vì chính ông Phạm Văn-Đồng từng than rằng: Ông là một Thủ-tướng lâu năm, nhưng không có quyền hành gì, ngay cả việc muốn thay một Bộ-trưởng cũng không được. Vậy thì đời nào ông dám ký văn kiện nhượng đất cho Trung-quốc!

- Ví thử ông Phạm Văn-Đồng tự ý ký văn kiện trên, thì năm 1977 văn kiện ấy lộ ra ngoài. Người Việt hải ngoại từng đem đăng báo, ông Phạm Văn-Đồng hãy còn sống, sao Bộ Chính-trị, Quốc-hội và Chính-phủ không truy tố ông ra tòa về tội phản quốc? Tội này trong hình luật Việt-Nam phải xử tử hình. Thế mà ông ấy vẫn ung dung sống thêm bốn chục năm nữa, đầy quyền hành?

- Liệu những tài liệu, biên bản về buổi họp này có nằm tại văn phòng Bộ Chính-trị, văn phòng bộ Ngoại-giao CHXHCNVN không? Các vị trong Bộ Chính-trị hiện thời có thể công bố cho quốc dân biết không? Nếu quý vị im lặng, thì muôn nghìn năm sau, lịch sử còn ghi: Đảng Cộng-sản bán nước, mà không cầu vinh, cũng chẳng cầu tài; chứ không phân biệt rằng Bộ Chính-trị 1958 bán nước, chứ Bộ Chính-trị 2001 không hề làm việc này.

Chúng tôi xin ngừng lời để Quý-vị thắc mắc, trước khi điều trần sang phần thứ nhì.

Không có câu hỏi nào.

Kính thưa Quý-vị,

Bây giờ tôi xin điều trần sang phần thứ nhì, đó là:

4. Vụ nhượng lãnh thổ mới đây

* Hiệp định về biên giới trên đất liền Việt-Nam, Trung-quốc ngày 30-12-1999, ký tại Hà-nội giữa bộ trưởng Ngoại-giao Việt-Nam là Nguyễn Mạnh-Cầm với bộ trưởng Ngoại-giao Trung-quốc là Đường Gia-Truyền.

*. Hiệp định phân định vịnh Bắc-bộ giữa Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000, ký tại Bắc-kinh giữa bộ trưởng Ngoại-giao Việt-Nam là Nguyễn Dy Niên và bộ trưởng Ngoại-giao Trung-quốc là Đường Gia Truyền, dưới sự chứng kiến của Chủ-tịch Việt-Nam Trần Đức Lương và Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân.

4.1, Ai chịu trách nhiệm về hai hiệp định

Hai hiệp định này đều ký trong thời gian 1999-2000. Vào thời kỳ này tại Việt-Nam thì:

- Ông Lê Khả-Phiêu làm Tổng Bí-thư đảng Cộng-sản ViệtNam,

- Ông Trần Đức-Lương làm Chủ-tịch nhà nước,

- Ông Nông Đức-Mạnh làm Chủ-tịch Quốc-hội,

- Ông Phan Văn-Khải làm Thủ-tướng.

- Ông Nguyễn Mạnh Cầm làm Bộ trưởng Ngoại-giao.

Ai chịu trách nhiệm khi ký hai hiệp định trên? Cá nhân thì tôi không biết, nhưng có một điều tập thể thì ai cũng khẳng định là Bộ Chính-trị của đảng Cộng-sản Việt-Nam.

Không cần biết người ký là Chủ-tịch Trần Đức-Lương, Thủ-tướng Phan Văn-Khải hay Bộ-trưởng Ngoại-giao Nguyễn Mạnh-Cầm, Nguyễn Dy Niên. Tôi xin khẳng định: Ai ký cũng chỉ là người tuân lệnh Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam.

Những người quyết định là ai?

Ông Phan Văn-Khải, Nguyễn Mạnh-Cầm ư? Hai ông này không có quyền, dù có quyền các ông ấy cũng không dám quyết định. Ông Lê Khả-Phiêu quá yếu, không thể quyết định một mình. Ông Trần Đức-Lương, Nông Đức-Mạnh càng không có quyền gì.

Vì vậy tôi mới quyết đoán rằng vụ này do Bộ Chính-tri đảng Cộng-sản chủ trương. Hiện tất cả các ông trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu vẫn còn sống, rất khỏe mạnh. Khi quyết định nhượng đất, biển cho Trung-quốc các ông ấy đều biết rất rõ rằng:

- Tinh thần dân chúng bây giờ không phải như dân chúng hồi 1540. Trình độ dân chủ, phương tiện thông tin của đảng viên, của dân chúng vượt xa hồi 1958. Uy tín của Tổng Bí-thư Lê Khả-Phiêu không thể so sánh với Chủ-tịch Hồ Chí-Minh năm 1958. Mỗi vị trong Bộ Chính-trị bây giờ là một mảng, chứ không thể là một khối như Bộ Chính-trị hồi 1958. Các vị trong Bộ Chính-trị thời Lê Khả-Phiêu điều biết trước rằng: Ký hiệp ước nhượng lãnh thổ trong lúc này không thể bịt miệng, dấu diếm đảng viên cũng như dân chúng. Thế nhưng các ông ấy vẫn làm! Vì vậy phải có nguyên do gì trọng đại lắm. Liệu các ông có thể công bố cho quốc dân biết không?

Đến đây một cử tọa nói bâng quơ, câu hỏi 14:

- Không lẽ trong Bộ Chính-trị, mà tìm chẳng ra một người yêu nước ư?

Gs TĐS đáp:

- Tôi tin rằng có rất nhiều người đầy tâm huyết. Song họ không thể bơi ngược dòng thác đổ. Nếu như ở Tây-phương, người nào không đồng ý, có thể từ chức. Nhưng ở các nước Cộng-sản thái độ này bị coi là phản động, tính mệnh khó toàn. Chính những vị này đã tiết lộ tin tức vụ nhượng đất ra ngoài.

Kể từ khi ký, dân chúng, đảng viên không được biết nội dung Hiệp-ước nói gì.

Mãi tới tháng 2-2001, Thứ-trưởng Ngoại-giao Lê Công-Phụng, người trực tiếp vụ này mới công bố trên Tạp chí Cộng-sản, Quý-vị có thể tìm thấy bài này trên Internet.

(http://www.cpv.org.vn/tccs/022001/6-lecongphung.htm) (Phụ bản 1)

Tạp-chí Tư-tưởng Văn-hóa số 3-2001 cũng tóm lược sự kiện. Quý vị có thể tìm trên Internet.

http://www.cpv.org.vn/anpham/tutuong…kyhiepdinh.htm) (Phụ-bản 2) (5)

Ghi chú (5) cuả IFA, dành cho bản Việt-Ngữ

Sau khi bài điều trần của chúng tôi bị tiết lộ, báo chí, Internet bình luận sôi sục, thì hai bài này bị xóa bỏ).

- Thời gian ấy (1999-2000) đảng Cộng-sản lấn át Chủ-tịch Nhà-nước, cũng như Thủ-tướng nhất. Đến nỗi Chánh-văn phòng Thủ-tướng chỉ vì nói một câu không mấy lịch sự với người đàn bà có thế lực trong đảng, mà bị bắt giam không lý do, Thủ-tướng không thể can thiệp cho ông ta tại ngoại.

- Quyền gần như nằm trong tay ba ông Cố-vấn là cựu Tổng Bí-thư Đỗ Mười, cựu Chủ-tịch nhà nước Lê Đức-Anh và cựu Thủ-tướng Võ Văn-Kiệt. Ba ông này như ba Thái-thượng hoàng thời phong kiến. Tuy mang danh Cố-vấn, nhưng ba ông vẫn còn uy quyền tuyệt đối. Chắc Quý-vị còn nhớ bản điều trần của tôi vào tháng 9-1997, về vụ Tổng-bí thư Đỗ Mười và Thủ-tướng Võ Văn Kiệt mật đàm với Chủ-tịch Giang Trạch Dân. (Xin xem phụ bản 3).

- Cũng trong thời gian ấy, cả thế giới (trừ Trung-quốc) đều có chính sách ngoại giao rất đẹp với Việt-Nam: Hoa-kỳ (Tổng-thống Bill Clinton), Liên-Âu, các nước ASEAN đang theo đuổi chính sách ngoại giao rất mềm dẻo với Việt-Nam. Nhất là Tổng-thống Clinton ký sắc lệnh bỏ cấm vận Việt-Nam, mở cửa cho sinh viên Việt-Nam sang du học Hoa-kỳ, mở cửa cho hàng Việt-Nam được nhập vào Hoa-kỳ. Nói tóm lại thời gian từ nửa năm 1999 cho đến cuối năm 2000, Việt-Nam không bị một áp lực quốc tế nguy hiểm nào, đến độ phải nhượng đất, nhượng biển cho Trung-quốc để được viện trợ vũ khí, để được che chở.

- Cũng thời gian trên, Trung-quốc, Việt-Nam không có tranh chấp lãnh thổ, không có đụng chạm biên giới, không có căng thẳng chính trị, không có chiến tranh.

Vậy vì lý do nào mà các ông ấy cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc?

4.2, Chi tiết vụ cắt đất,

Vụ cắt đất ký ngày 30-12-1999, thì tôi được biết tin chi tiết, do hai ký giả Trung-quốc là bạn với tôi thông báo vào ngày 9-1-2000. Nghĩa là 10 ngày sau. Nhưng mãi đến ngày 14-2-2000, tôi mới có bản hiệp ước bằng cả hai thứ tiếng Việt, Hoa. Theo tinh thần bản hiệp định thì:

- Việt-Nam nhường cho Trung-quốc dọc theo biên giới, 789 cây số vuông (chứ không phải 720 như tin lộ ra trong nươc), quan trọng nhất là vùng thuộc hai tỉnh Cao-bằng, Lạng-sơn.

- Có mấy hiệp định thư (Photocol) đính kèm về việc thi hành. Quan trọng nhất là:

- Nhượng vùng Cao-bằng, sát tới hang Pak-bó, nơi Chủ-tịch Hồ Chí Minh ẩn thân lãnh đạo cuộc kháng chiến. Hang này trở thánh địa của đảng Cộng-sản Việt-Nam. Trước kia nằm rất xa biên giới (khoảng 50 km), nay nằm sát biên giới.

- Nhượng vùng đất bằng phẳng thuộc tỉnh Lạng-sơn nơi có cửa ải Nam-quan. (6)

Ghi chú (6) của IFA

IFA chúng tôi có nguyên văn hai bản Hiệp-định này bằng Hoa-văn, Việt-văn. Hiện đảng Cộng-sản cũng như nhà nước VN, giữ kín 2 bản văn này, đến nỗi cấp Bộ-trưởng, Đại-sứ, Ủy-viên Trung-ương đảng bộ cũng không có, nhiều vị không biết gì cả. Nhiều người Hoa-Việt gửi thư xin hai bản Hiệp-định này, chúng tôi cũng như Gs. Trần không thể thỏa mãn, vì cho thì vi phạm tác quyền. Chúng tôi không muốn gây hấn với đảng Cộng-sản của Trung-quốc và Việt-Nam. Vậy Quý-vị muốn có, xin hỏi tác giả là bộ Chính-trị đảng CS, bộ Ngoại-giao Trung-quốc cũng như bộ Chính-trị và bộ Ngoại-giao Việt-Nam.

Đây là cuộc điều trần rất vô tư, Gs Trần giữ đúng ngôn từ ngoại giao, không hề có lời lẽ công kích, hay nhục mạ đối với đảng Cộng-sản và nhà nước Trung-quốc cũng như Việt-Nam. Mục đích của cuộc điều trần chỉ để thính chúng hiểu uyên nguyên sự thực mà thôi. Đường lối ngoại giao của Liên-Âu và của chính phủ Pháp đối, Việt-Nam rất mềm dẻo, chưa từng có hành động hay ý tưởng gây khó khăn cho nước Pháp thoại này. Chúng tôi (IFA), và Gs Trần cũng phải tuân hành nghiêm chỉnh.

Về con số lãnh thổ

Ngày 1-2-2002, Ngài Lê Công Phụng, Thứ trưởng Ngoại-giao VN, đặc trách vụ việc đàm phán với Trung-quốc có lên tiếng với báo chí qua cuộc phỏng vấn của nữ ký giả xinh đẹp Thu-Uyên (trên Web. Vasc Orient, http://www.Vnn.Vn) rằng giữa Hoa-Việt có 227 km2 cần giải quyết tranh chấp. Chúng tôi hiểu là Ngài Lê Công-Phụng muốn nói 227 km2 hiện phải thảo luận. Còn những vùng mà Trung-quốc đóng quân, được nhượng dần dần từ 1947 đến giờ thì không tính. Nay hiệp định ký chỉ để hợp thức hóa truyện đã xẩy ra mà thôi. Có lẽ cách tính này của Ngàii Lê Công-Phụng cao minh hơn, giản dị hơn chúng tôi. Vì chúng tôi tính theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887 và 1895, cho nên con số của chúng tôi là 789 km2. Sai biệt tới 562 km2. Khi công bố con số này, sở Kỹ-thuật của chúng tôi đã phải tính toán chi li, kiểm đi kiểm lại. Cách tính căn cứ vào ba bản đồ:

- Ngay khi có bản hiệp định 30-12-1999 Hoa-Việt, sở Kỹ-thuật của chúng tôi đã căn cứ vào bản đồ mới nhất của Trung-quốc đính kèm Hiệp-định. Xin nói thêm là bản đồ của Trung-quốc, Việt-Nam (cs), và các nước Cộng-sản theo hệ thống khác. Chúng tôi phải đổi, thành hệ thống UTM tỷ lệ xích 1/25000 .

- Lại so sánh với bản đồ của Sở địa chánh thời Pháp (1900-1955) (service géographique de l’Indohine) đã đổi ra tỷ lệ xích 1/25000 hệ UTM. Tức là bản đồ theo hiệp ước Pháp-Thanh 1887 và 1895, sau đó được thi hành nghiêm túc suốt thời gian 1987-1955. Bản đồ này rất đúng, bằng cớ là trong chiến tranh Đông-dương, quân đội Pháp và Quốc-gia Việt-Nam đã dùng cho Pháo-binh, Không-quân tác xạ, rất chính xác.

- Trong chiến tranh 1960-1970, VNCH có hẳn một Nha Địa-dư Quốc-gia tại Đà-lạt. Cơ quan này căn cứ vào đường phân ranh của Pháp, rồi sửa đổi những biến đổi do thời gian, do khí hậu, được vệ tinh Hoa-kỳ chụp không ảnh trao cho để vẽ lại. Hồi trước 1975 quân đội VNCH, Hoa-kỳ, Đại-hàn, Thái-lan, Úc-đại-lợi, Tân-tây-lan; đã dùng cho Pháo-binh tác xạ, Không-quân oanh tạc rất chính xác.

Sau khi đo, chúng tôi tìm thấy có 789 Km2 trước kia thuộc lãnh thổ Việt, nay theo hiệp ước 30-12-1999 thuộc Trung-quốc. Trong khi những bài công kích của đối lập ở trong nội địa VN gửi ra là 720 km2, sai biệt với con số của chúng tôi là 69 km2. Còn theo Đại-tá Quân-đội CHXHCNVN Bùi Tín thì con số là 900 km2. Phải hiểu rằng Đại-tá Bùi Tín là người từng qua lại biên giới Hoa-Việt nhiều lần, ông lại lớn tuổi, không thể đưa ra con số hàm hồ. Nhưng tại sao lại có sự sai biệt:

- Con số của Ngài Lê Công-Phụng và Đại-tá Bùi Tín 673 km2 (227-900).

- Con số của Ngài Lê Công-Phụng và đối lập trong nước 493 km2 (227-720).

- Của chúng Ngài Lê Công Phụng với chúng tôi (IFA) 562 km2 227-789).

Chúng tôi xin giải đoán:

- Về con số của đối lập trong nước, hẳn họ căn cứ vào bản đồ hiệp định trên bộ như chúng tôi, rồi so sánh với bản đồ thời Pháp dùng cho học sinh, nhưng họ đo bằng lối ước tính trên giấy, kém chính xác một chút, bản đồ ấy theo hệ thống UTM, trong khi bản đồ của hiệp định theo hệ thống CS.

- Về con số của Đại-tá Bùi Tín chúng tôi giải đoán: giữa biên giới Hoa-Việt có 5 khu đất 29,300km2, 26,750 km2, 17,400km2, 21,003 km2, 16.547km2, vào thời Nguyễn; Nguyễn-Thanh coi như của chung, để cho hai bên dân chúng trao đổi hàng hóa (như vùng Andora của Pháp-Tây Ban Nha, không thuộc nước nào). Sau hiệp ước 1887 và 1895 tình trạng vẫn không thay đổi. Nhưng trên thực tế, Hoa coi là của Hoa, Việt bảo rằng của Việt. Trong chiến tranh 1945-1954 cac khu này thuộc Trung-quốc, nhưng trên pháp lý vẫn là của chung. Nay đảng Cộng-sản VN nhượng cho Trung-quốc, nên Đại-tá Bùi coi như VN mất đứt khu này.

Về hang Pakbo

Về hang Pak-bó, sở Kỹ-thuật của chúng tôi đo, kể từ biên giới cũ, đến cửa hang là : 50.035 m. Nay biên giới mới chỉ còn cách cửa hang có 1.511 m. Bản tin của Câu-lạc-bộ sinh viên (http://dungday.tripod.com) công bố ngày 5-2-2002 thì khoảng cách: Cũ là 48.900 m nay là 1.500 m. Hai con số gần với nhau.

Vậy chúng tôi ghi ra đây. Dù sao thì vấn đề này quan trọng đối với người Việt, người Hoa. Còn đối với IFA chúng tôi thì sự việc đã xong. Sổ sách đã khép lại. Chúng tôi (IFA) và Gs Trần Đại-Sỹ không dám có ý tưởng tranh cãi với Ngài Thứ-trưởng Lê Công Phụng. Hơn nữa chúng tôi không cần, không có thời giờ tranh cãi một vụ việc đã qua với bất cứ ai. IFA chúng tôi rất thông cảm nỗi khổ tâm của Ngài Lê Công Phụng, vì ngài tuân lệnh trên mà làm, nếu chống thì e tính mạng khó toàn. Sau khi hai hiệp định ký, Ngài Lê Công-Phụng được trao cho chức vụ đầy uy quyền là Trưởng-ban Biên-giới. Độc giả đừng coi thường từ Trưởng-ban. Chức vụ này rất lớn. Bởi với chức vụ này Ngài Lê ngồi cao hơn các Vụ-trưởng trong bộ Ngoại-giao. Trước kia ban này thuộc phủ Thủ-tướng, mới đây đưa xuống bộ Ngoại-giao. Từ nay Ngài Lê là người phác họa, quyết định đường lối về biên giới Việt-Nam, mà không phải trình lại thượng cấp (Bộ-trưởng) như đã trả lời cuộc phỏng vấn của nữ ký giả Thu-Uyên.

Khi vụ việc nhượng đất-biển bùng nổ, Ngài Lê Công- Phụng còn trẻ, tuổi đảng thấp, cũng chẳng là Ủy-viên Trung-ương; chỉ có công lao, thành tích là đảm trách đàm phán với Trung-quốc, nhượng lãnh hải, lãnh thổ cho Trung-quốc, mà được trao cho chức Trưởng-ban Biên-giới. Không chừng tương lai được lên làm Bộ-trưởng Ngoại-giao nữa.

Về thác Bản-giốc

Thác Bản-giốc, theo Ngài Thứ-trưởng Lê Công Phụng thì trước hiệp định 30-12-1999, địa danh này chỉ nằm về ranh giới VN có 1/3, còn 2/3 thuộc Trung-quốc. Nay thì Trung-quốc, Việt-Nam cưa đôi. Điều này làm chúng tôi hơi ngạc nhiên. Vì suốt thời gian 1887-1955 trong thời Pháp thuộc, thác này nằm khá xa biên giới Hoa-Việt. Năm 1993, 1995, 1997 chúng tôi có giúp đỡ cho ba công ty nước khoáng châu Âu thăm dò lưu lượng nước, thăm dò thành phần nước để khai thác thương mại. Các chuyên viên xin visa vào Việt-Nam:

- 1993 Kỹ-sư J.P. Renault,

- 1995, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, kỹ sư F. Puririer,

- 1997 Dược-sĩ Marie Christine Le.

Dưới hình thức du lịch, rồi tới Bản-giốc. Như vậy rõ ràng trước 1997 thác này còn nằm trên lãnh thổ Việt-Nam. Chứ nếu nằm trên lãnh thổ Trung-quốc thì phải xin visa vào Quảng-Tây, rồi tới Bản-giốc! Vả địa danh Bản-giốc đã in sâu vào tiềm thức giới trẻ VN vì họ từng đi cắm trại, sinh hoạt tại đây. Một số sách Việt-ngữ dành cho tuổi trẻ đã nói nhiều về thác này. Nay Ngài Thứ-trưởng bảo thác đó nằm trên lãnh thổ Trung-quốc từ thời Pháp-Thanh, chúng tôi e tuổi trẻ nay thành tuổi nhỡ, tuổi già VN, cũng không ai chịu. Chúng tôi theo dõi rất kỹ, từ lâu cuộc đàm phán Hoa-Việt về biên giới, nên rất thông cảm với Ngài Thứ-trưởng.

Chúng tôi cũng xin thưa rằng: sau khi vụ việc ký hai hiệp định nhượng đất, dư luận người Việt trong và ngoài nước sôi sục căm hờn, thì Bộ Chính Trị cũng như Chính-phủ Việt-Nam tuyên dương bộ Ngoại-giao là bộ “Năng động, hữu hiệu toàn diện nhất năm 2001″. Như vậy đủ tỏ rằng bộ Chính-trị hiện thời với bộ Chính-trị thời Lê Khả Phiêu nhất trí với nhau trong vấn đề nhượng đất, biển.

Hình chụp cửa hang Pak-bo.

Hồi chiến tranh Hoa-Việt (1979) Hồng-quân Trung-quốc đã phá hủy tất cả di vật, cũng như cửa hang này.

Thác Bản-giốc thuộc tỉnh Cao-bằng. Suốt năm nghìn năm lịch sử, thuộc lãnh thổ Việt. Nay cưa đôi, Trung-quốc, Việt-Nam mỗi nước một nửa.

Thưa Quý-vị,

4.3, Ảnh hưởng vụ cắt đất,

4.3.1, Mất biểu tượng năm nghìn năm của tộc Việt,

Khu Ải Nam-quan này là vùng đất thiêng, là Thánh-địa trong mấy nghìn năm của người Việt. Bất cứ người Việt nào từ 6 tuổi trở lên đều biết rằng phía Nam Ải Nam-quan là vùng đất tượng trưng biên giới phía Bắc, tượng trưng cho lãnh thổ, cho tinh thần tự chủ, cho niềm niềm tự hào của họ. Đây là vùng đất đi sâu vào lịch-sử, văn-học và tâm tư toàn thể người Việt.

Trở về quá khứ, trong lần mạn đàm giữa Chủ-tịch Mao Trạch-Đông và Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Chủ-tịch Mao Trạch-Đông đã nói:

“Cái tên Ải Nam-quan, nhắc nhở đến cuộc chiến do bọn phong kiến Hoa, Việt làm xấu tình hữu nghị nhân dân. Tôi xin đổi thành Mục Nam-quan. Mục là mắt, coi như nhân dân Trung-quốc luôn hướng mắt nhìn về nhân dân Việt ở phương Nam. Ngược lại coi như mắt của nhân dân Việt luôn nhìn về Bắc với tình hữu nghị”.

Chủ-tịch Hồ Chí-Minh vui vẻ chấp thuận. Nhưng trên thực tế, chỉ có phía Trung-quốc in trên bản đồ địa danh Mục Nam-quan mà thôi. Còn phía Việt-Nam trên bản đồ hành chính, trên báo chí, văn học, vẫn dùng từ cửa Hữu-nghị.

Ghi chú đặc biệt của Trần Đại-Sỹ

Sau khi bài lày lộ ra, có 71 bài nghiên cứu cãi nhau về cái tên Nam-quan, xếp bắt tôi phải im lặng, mặc cho họ cãi nhau, kệ họ là thầy bói xem voi. Người thì bảo Nam-quan của Trung-quốc, kẻ thì bảo của Việt-Nam. Rồi họ cãi nhau lung tung về vị trí đích thực của Nam-quan.

Tháng 8-2002 nhân tôi sang Hoa-kỳ (California) thăm thân hữu, bị mấy nữ ký giả truyền hình quay như chong chóng, tôi đã buột miệng nói ra, thôi thì sự đã rồi, bây giờ tôi xin trình bầy ở đây (tôi vốn yếu bóng vía trước các người đẹp).

Có tất cả có 5 “Nam-quan”.

NAM QUAN THỨ NHẤT, của Trung-quốc (1558-1885)

Vua Gia-Tĩnh, triều Minh ban chỉ kiến tạo năm 1558, mang tên Trấn Nam-quan, nhưng thường gọi bằng danh tự Nam-quan. Trấn Này nằm giữa hai ngọn núi nhỏ, chặn ngang đường từ Lạng-sơn đi Ung-châu (Nam-ninh). Nằm về phía Nam trấn này 2 dặm là ải Phả-lũy của Việt-Nam. Biên giới Hoa-Việt được kể từ chân ải Nam-quan. Tháng 6 năm Đinh Hợi 1406, tại phía Nam ải này có cuộc tiễn đưa lịch sử giữa Nguyễn Phi Khanh và Nguyễn Trãi, rồi có suối Phi-Khanh.

Năm 1884, triều đình Nguyễn ký hiệp ước chịu sự bảo hộ của Pháp. Thiếu-tướng Francois Oscar De Négrier được cử làm tư lệnh vùng biên giới phía Đông của Hoa-Việt. Trong lúc giao thời Pháp-Việt, ải Phả-lũy bỏ không. Quân Thanh tràn sang phá ải, rồi cướp phá vùng Đồng-đăng. Ngày 24 tháng 3 năm 1884, Thiếu-tướng De Négrier tổ chức cuộc hành quân đánh đuổi quân Thanh. Quân Thanh đại bại, Tổng-binh Sầm Quang Anh bị giết. Ngày đầu năm 1985, Tổng-binh Nùng Mặc Sơn, đem một trung đoàn Thanh tấn công, chiếm đồn Phả-lũy rồi tràn vào Lạng-sơn cướp phá. Tướng De Négrier đem 3 tiểu đoàn (2 tiểu đoàn Pháo-thủ, một Tiểu-đoàn bộ binh thuộc địa), đánh đuổi quân Thanh, giết Nùng Mặc Sơn. Ngày 5-1-1885, chiếm ải Nam-quan, đặt chất nổ san bằng.

Hình ải Nam-quan 1558-1885

NAM QUAN THỨ NHÌ, của Trung-quốc, Việt-Nam (1886-1952)

Sau khi thỏa ước Pháp-Thanh ký, Nam-quan được xây lại bằng ngân sách của chính phủ Đông-dương và Thanh-triều. Ải xây bằng đá mài, mái cong rất đẹp. Trong ải một nửa thuộc Pháp, một nửa thuộc Thanh. Mỗi bên đều có cơ quan Cảnh-sát, lính biên phòng, quan thuế. Tiền tu bổ hằng năm, do ngân sách tỉnh Quảng-Tây và Lạng-sơn đài thọ.

Biên giới Hoa-Việt được kể từ giữa ải: Nam của Việt, Bắc của Hoa. Thời gian này VN soạn thảo sách giáo khoa Việt-ngữ, bởi vậy mới có câu:

” Nước Việt-Nam dình chữ S chạy từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu”

Trong chiến tranh Quốc-Cộng 1949, ải này bị phá hủy.

NAM QUAN THỨ BA, (Mục Nam-quan) của Trung-quốc (1952-2001)

Hồi chiến tranh Việt-Pháp (1946-2001), sau chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chủ-tịch đảng Cộng-sản Việt-Nam là Hồ Chí Minh sang Trung-quốc cầu viện với Chủ-tịch đảng Cộng-sản Trung-quốc. Hai bên thỏa thuận bằng những hiệp ước mật. Trung-quốc cho xây Mục Nam-quan, lùi vào lãnh địa Việt-Nam. Hình trên, không thấy hai ngọn núi và suối Phi-Khanh đâu. Mục đích việc lùi biên giới này như sau: Vùng phía Bắc Mục Nam-quan tuy là lãnh thổ Việt-Nam, nhưng bây giờ là của Trung-quốc. Như vậy Pháp không dám dùng không quân oanh tạc. Đó là vùng an ninh để Hồng-quân lập các trung tâm huấn luyện quân Việt-Minh. Sau chiến tranh (1954) Trung-quốc giữ luôn. Trong chiến tranh 1960-1975, không quân Hoa-kỳ cũng ê càng không dám oanh tạc khu này.

NAM-QUAN THỨ TƯ, (1952-1979)

Phía Nam Mục Nam-quan mấy trăm thước, chính phủ Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa cũng cho xây một cửa ải nữa, mang tên cửa Hữu-nghị. Tại đây có đầy đủ các cơ quan như: Công-an biên phòng, Hải-quan, Bưu-điện v.v. Trong chiến tranh 1979, Trung-quốc san bằng cái cửa Hữu-nghị này. Chúng tôi không còn lưu trữ được hình ảnh.

Sau chiến tranh, VN cho xây lại một cữa Hữu-nghị khác. Nhưng từ khi ký hiệp định 1999, thì cái Hữu-nghị này phá bỏ. Việt Nam xây cửa Hữu-nghị mới lùi lại sau mấy trăm thước nữa.

NAM QUAN THỨ NĂM, (2001- ?).

Cửa Hữu-nghị mới xây lại năm 2001.

Ảnh chụp tháng 8-2001, cửa Nam-quan cũ lùi lại sau, Cửa Hữu-nghị mới!!!

4.3.2, Mất cửa ngõ giao thông lịch sử giữa tộc Hoa, tộc Việt,

Tôi đã nhiều lần từ Việt-Nam sang Trung-quốc bằng cửa ải này và ngược lại. Lãnh thổ Hoa-Việt được phân chia bởi một con sông nhỏ. Đây là cửa họng giao thông của Trung-quốc, Việt-Nam bằng đường bộ. Suốt hơn mấy nghìn năm qua, dân Hoa-Việt giao thương đều qua đây. Chính vì vậy mà con đường quốc lộ xuyên Việt mang tên Quốc-lộ 1, được đánh số cây số Zéro từ đầu cây cầu Nam-quan. Tất cả thư tịch Việt-Nam đều chép rằng:

” Con đường Bắc-Nam khởi từ ải Nam-quan”.

Hoặc :

“Lãnh thổ Việt-Nam Bắc giáp Trung-hoa, khởi từ ải Nam-quan đến mũi Cà-mâu, theo hình chữ S”.

Bây giờ nếu Quý-vị vào Website của Bộ Ngoại-giao Việt-Nam, Quý-vị sẽ không thấy hàng chữ trên, mà chỉ thấy câu:

“Lãnh thổ Việt-Nam khởi từ cây số không ở phía Bắc”.

Thưa Quý-vị,

Cái cây số không đó là cây số 1,5 cũ đấy. Cột cây số Zéro bây giờ ở nằm giửa Mục Nam-quan và cửa Hữu-nghị mới. Từ cây số Zéro đến cây số 1, nay thuộc Trung-quốc.

Sát Mục Nam-quan, phía bên Trung-quốc cũng như Việt-Nam, đều có nhiều cơ sở:

- Cơ sở Hải-quan,

- Bãi đậu cho hằng trăm xe tải, để chờ kiểm soát, chờ làm thủ tục nộp thuế.

- Cơ sở di trú của Công-an để kiểm soát Passeport,

- Đồn của quân đội để tuần phòng, bảo vệ lãnh thổ,

- Hằng chục cơ quan, khác như Bưu-điện, Ngân-hàng, công ty điện, nước.

- Về phía dân chúng, hằng trăm cửa hàng ăn, nhà ngủ, khách sạn.

Các cơ sở phía Nam thuộc Việt-Nam, trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, quân đội Trung-quốc đã san bằng hết. Kể cả cây cột biên giới.

Tuy vậy sau chiến tranh, đã xây dựng lại hoàn toàn. Từ khi có phong trào mở cửa, đổi mới chính trị, dân chúng cả hai bên đã xây dựng lại khang trang hơn cũ, rộng lớn hơn cũ, và hiện đại hơn cũ. Nhưng từ khi hiệp định 30-12-1999 ký thì toàn bộ khu này thuộc Trung-quốc. Những cơ sở đó bây giờ được thay bằng một tòa nhà duy nhất. (Hình đính kèm)

Hình chụp từ phía lãnh thổ Trung-quốc mới (VN cũ) sang, căn nhà này là Nam-quan thứ 5, trong nước gọi là cửa khẩu Hữu-nghị của VN (mới)

4.3.3, Mất dân, mất di tích lịch sử,

Đi sâu vào khu vực phía Nam của Nam-quan ít cây số nữa là quận lỵ Đồng-đăng, rồi tới tỉnh lỵ Lạng-sơn. Đây cũng là đất thiêng, khu có di tích văn hóa lịch sử của tộc Việt: Động Tam-thanh, tượng núi Tô-thị, thành của bọn giặc Mạc trên núi. Vùng Lạng-sơn xưa là Thủ-đô của con cháu giặc Mạc Đăng-Dung, mà năm 1540 đã dâng đất cho Trung-quốc, để được bao che cát cứ quân phiệt một thời gian. Trong chiến tranh Hoa-Việt 1979, hầu như toàn bộ các cơ sở kỹ nghệ, cầu cống, dinh thự, di tích tôn giáo, lịch sử, cơ sở hành chính, thương mại, kể cả nhà cửa của dân chúng bị san bằng. Chắc Quý-vị cho rằng tôi dùng từ Coventry có đôi chút quá đáng. Thưa Quý-vị từ Coventry cũng chưa đủ để chỉ việc quân đội Trung-quốc đã làm ở Lạng-sơn. Kinh khiếp nhất là động Nhất-thanh, Nhị-thanh, Tam-thanh, họ cũng dùng đại bác bắn vào làm hư hại rất nhiều.

Đi sâu về phía Nam ít cây số nữa là Ải Chi-lăng, nơi mà quân Trung-quốc vượt qua không biết bao nhiêu lần để tiến về thủ đô Thăng-long của Việt-Nam xưa. Tại đây đã diễn ra những trận chiến ác liệt, khiến ít nhất 73 vạn quân của các triều đại Tống, Mông-cổ, Minh, Thanh bị giết. Và cũng tại đây, có không biết bao nhiều tướng của các triều đại trên bị tử trận. Khi quân Việt giết những tướng, dù vào thời kỳ nào chăng nữa thì đầu vẫn bêu tại một mỏm núi, gọi là núi Đầu-quỷ.

Tại ải Chi-lăng, núi Đầu-quỷ đều khắc bia đá ghi lại di tích lịch sử.

Hồi chiến tranh Hoa-Việt 1979, khi các tướng Hồng-quân cho quân tiến đến đây, nghe nhắc chuyện cũ thì họ toát mồ hôi lạnh, phải ngừng lại. May mắn thay khu này vẫn còn thuộc lãnh thổ Việt. (2 hình đính kèm)

Bia lưu niệm Ải Chi-lăng

Cửa Ải Chi-lăng, yết hầu biên giới vào đồng bằng Bắc-bộ

Trở lại vùng đất mà đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhượng cho Trung-quốc, dĩ nhiên họ nhượng cả dân chúng nữa. Trong năm nghìn năm lịch sử chiến tranh Hoa-Việt, dân chúng, chiến sĩ tại vùng này là lực lượng đầu tiên chống quân Trung-quốc. Họ phải hy sinh tính mạng, tài sản đầu tiên, khi quân Trung-quốc đánh sang. Có không biết bao nhiêu di tích, huyền sử về núi non, về sông ngòi, về cuộc chiến, về gương anh hùng. Chính quyền các triều đại đều tuyên dương công lao của họ, họ từng hãnh diện đời nọ sang đời kia. Bây giờ vùng này trao cho Trung-quốc, kẻ thù năm nghìn năm của họ. Họ bị mất mát quá nhiều về tinh thần. Họ phải cúi mặt chịu sự cai trị của kẻ thù. Bao nhiêu di tích lịch sử, huyền sử phải phá bỏ, không được nhắc tới. Thương tổn tinh thần quá lớn.

Gần đây nhất, trong chiến tranh 1979, phía Việt cũng như Trung-quốc, chôn trên lãnh thổ mình, dọc theo biên giới mấy chục vạn quả mìn. Sau chiến tranh mới đào lên. Phía Việt lập rất nhiều đồn, hầm, công-sự chiến đấu dọc biên giới thành 4 vòng đai. Mấy chục nghìn chiến sĩ Việt tử trận tại đây. Hiện những cơ sở đó vẫn còn. Trong khu vực này dân chúng, gia đình liệt sĩ đã ghi dấu tưởng niệm thân hân họ. Nay trao cho Trung-quốc, dĩ nhiên các di tích này bị phá hủy. Dân chúng đang là lực lượng chong mặt với kẻ thù, bảo vệ lãnh thổ, nay họ bỗng trở thành những người Trung-quốc bất đắc dĩ. Các vòng đai phòng thủ bị mất. Dân tộc Việt-Nam mất mát về an ninh quá nhiều.

Ghi chú của IFA

Chúng tôi xin sao nguyên văn bản hiệp ước Pháp-Thanh ngày 26-6-1887 tại văn khố Pháp.

Les Commissaires nommés par :

- Le Président de la République Française,

- et par S.M l’Empereur de Chine,

en exécution de l’article 3 du Traité du 9 Juin 1885 pour reconnaître la frontière entre la Chine et le Tonkin ayant terminé leur travaux,

Monsieur Ernest Constans, député, ancien Ministre de l’intérieur et des cultes, commissaire du Gouvernement, envoyé extraordinaire de la République Française,

d’une part,

Et S.A. le Prince K’ing, prince du second rang, président du Tsoung-li-Yamen, assisté de Son Exc. Souen-Yu Quen, membre du Tsoung-li-Yamen, premier vice-président du ministère des travaux publics;

Agissant au nom de leurs gouvernements respectifs;

Ont décidé de consigner dans le présent Acte les dispositions suivantes destinées a régler définitivement la délimitation de ladite frontière:

1° Les procès-verbaux et les cartes y annexées qui ont été dressées et signés par les Commissaires Français et Chinois sont et demeurent approuvés;

2° les points sur lesquels l’accord n’avait pu se faire entre les deux commissions, et les rectifications visées par le deuxième paragraphe de l’article 3 du Traité du 9 Juin 1885 sont réglés ainsi qui suit:

Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestés qui sont situes a l’est et au nord-est de Monkạ, au-delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de délimitation, sont attribués à la Chine.

Les îles qui sont à l’est du méridien de Paris 105° 43′ de longitude est, c’est à dire la ligne nord-sud passant par la pointe orientale de l’île de Tch’a Kou ou Ouanchan (Tra-co) et formant la frontière, sont également attribuées a la Chine. Les îles Go-tho et les autres îles qui sont à l’ouest de ce méridien appartiennent à l’Annam. Les Chinois coupables ou inculpés de crimes ou de délits qui chercheraient refuge dans ces îles , seront, conformément au stipulations de l’article 27 du Traité du 25 Avril 1886, recherchés , arrêtés et extradiés par les Autorités Françaises.

Sur la frontière du Yun-Nan, il est entendu que la démarcation suivra le tracé suivant: De Keou-teou-tchai (Cao-dao-trai) sur la rive gauche du Siao-tou-tcheou-ho (Tien-do-chu-ha), point M de la carte de la deuxième section, elle se dirige pendant 50 lis (20 km) directement de l’ouest vers l’est en laissant à la Chine les endroits de Tsui-kiang-cho ou Tsui-y-cho (Tu-nghia-xa), Tsui-mei-cho (Tu-mi-xa) Kiang-fei-cho ou Y-fei-cho (Nghia-fi-xa), qui sont au nord de cette ligne, à l’Annam celui de Yeou-p’ong-cho (Hu-bang-xa) qui en est au sud, jusqu’aux points marqués Pet Q sur la carte annexe ou elle coupe les deux branches du second affluent de droite de Hoi-ho (Hac-ha) ou Tou-cheou-ho (Do chu-ha).A partir du point Q, elle s’infléchit vers le sud-est d’environ 15 lis(6 km),jusqu’au point R, laissant à la Chine le territoire de Nan-ian (Nam-don) au nord de ce point R; puis à partir de ce dit point remonte vers le nord-est jusqu’au point S,en suivant la direction traçée sur la carte par la ligne R-S,le cours de Nan-teng-ho (Nam-dang-ha) et les territoires de Manmẹ (Man-mi), de Mong-tong-chang-s’oun (Muang-dong-troung-then), de Mong-tuong-chan (Muong-dong-son), de Mong-tuong-tchoung-ts’uon (Muong-dong-truong-thon) et de Meng-tuong-chia-ts’ou (Muong-dong-ha-thon) restant a l’Annam. A partir du point S (Meng-tuong-chia-ts’ou ou Muong-dong-ha-thon), le milieu du Ts’ing-chouei ho (Than thuy ha) indique jusqu’à son confluent, en T, avec la rivière Claire, la frontière adoptée. Du point T, son tracé est marqué par le milieu de la rivière Claire jusqu’au point X, à hauteur de Tch’ouan-teou (Thuyen-dan). Du point X, elle remonte jusqu’au point Y, en passant par Paiche-yai (Bach-thach-giai) et Lao-ai-k’an (Lao-hai-kan), la moitié de chacun de ces deux endroits appartenant a la Chine et à l’Annam ; ce qui est à l’est appartient à l’Annam, ce qui est a l’ouest à la Chine. A partir du point Y, elle longe, dans la direction du nord, la rive droite du petit affluent de gauche de la rivière Claire, qui la reçoit entre Pien-pao-kia (Bien-bao-kha) et Pei-pao (Bac-bao) et gagne ensuite Kao-ma-pai (Cao-mabach), point Z ou elle se raccorde avec le tracé de la troisième section. A partir de Long-po-tchai (cinquième section), la frontière commun du Yun Nan et de l’Annam remonte le cours du Long-po-ho jusqu’à son influent avec le Ts’ing-chouei-ho, marqué A sur la carte ; du point A, elle suit la direction générale du nord-est au sud-ouest jusqu’au point B indiqué sur la carte, endroit ou le Sai-kiang-po reçoit le Mien-chouei-ouan ; dans ce parcours, la frontière laisse à la Chine le cours du Ts’ing-chouei-ho. Du point B, la frontière, la direction est-ouest jusqu’au point C elle rencontre le point Teng-tiao-tchiang au dessous de Ta-chou-tchio ; ce qui est sud de cette ligne appartient à l’Annam, ce qui est au nord, à la Chine. Du point C, elle descend vers le sud en suivant le milieu de la rivière Teng-tiao-Tchiang jusqu’à son confluent au point D avec le Tsin-tse-ho. Elle suit ensuite le Tsin-tse-ho pendant environ 30 lis et continue dans la direction est-ouest jusqu’au point D ou elle rencontre le petit ruisseau qui se jette dans la rivière Noire (Hei-tciang ou Hac-giang) à l’est du bac de Meng-pang. Le milieu de ce ruisseau sert de frontière du point E au point F.A partir du point F, le milieu de la rivière Noire sert de frontière à l’ouest.

Les Autorités locales Chinoises et les Agents désignés par le Résident générale de la République Française en Annam et au Tonkin seront chargés de procéder a l’abornement, conformément aux cartes dressées et signées par la Commission de délimitation et au tracé ci-dessus. Aux présents actes sont annexées trois cartes en deux exemplaires, signées et scellées par les deux parties. Sur ces cartes, la nouvelle frontière est tracé par un trait rouge et indiquez sur la carte de Yun Nan par les lettres de l’alphabet française et les caractères cycliques Chinois.

Fait a Pékin, en double expédition, le 26 Juin 1887.

(Signature et cachet du Plénipotentiaire Chinois)

Signé:Constans

(Cachet de la légation de France à Pékin)

Phụ đính 1

Bản đồ biên giới vùng Nam-quan theo hiệp ước Pháp-Thanh 26 tháng 6 năm 1887

4.4, Vụ cắt lãnh hải

Hiệp định phân định lãnh hải Việt-Nam, Trung-quốc ngày 25-12-2000

Từ giữa thế kỷ thứ 19 về trước, chưa từng có việc ấn định rõ lãnh hải Việt-Hoa. Tuy nhiên vào thế kỷ thứ 15, Việt-Nam đã định lãnh hải qua vụ nhà vua sai vẽ Hồng-đức bản đồ. Theo bản đồ này thì các quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) thuộc Đại-Việt. Và hai quần đảo đó đều thuộc Việt-Nam cho đến khi Bộ Chính-trị thời 1958 trao cho Trung-quốc (trên lý thuyết).

Vào những thời kỳ ấy (1500-1887) , Thủy-quân cũng như thương thuyền, tầu đánh cá của cả Hoa lẫn Việt chỉ là những thuyền nhỏ, không ra xa bờ biển làm bao, nên chưa có những đụng chạm.

Sau khi triều Nguyễn của Việt-Nam ký hòa ước năm 1884, công nhận quyền bảo hộ của Pháp; thì người Pháp mới định rõ lãnh hải. Nước Pháp với tư cách bảo hộ Việt-Nam, đã ký với Thanh-triều hòa ước 1887, định rõ lãnh hải trong vùng vịnh Bắc-Việt. Đối với hòa ước này, Việt-Nam đã chịu khá nhiều thiệt hại, vì mất một số đảo, mà dân chúng là người Việt, nói tiếng Việt, mặc y phục Việt, sống trong văn hóa Việt. Cho đến nay (2001), dân trên các đảo này vẫn còn nói tiếng Việt, ẩm thực theo Việt, và dùng y phục Việt. (Chúng tôi đã từng thăm vùng này hồi 1983).

Tuy nhiên với hòa ước 1887, lãnh hải vịnh Bắc-Việt được phân chia như sau:

Trung-quốc 38 %

Việt-Nam 62%

Đối với người Pháp, thời đó họ chưa hiểu rõ tình trạng giữa Trung-hoa và Việt-Nam, họ thấy Thanh-triều chấp nhận 38%, thì cho rằng mình thắng thế. Còn Thanh-triều khi đạt được 38%, họ coi như một món quà trên trời rơi xuống. Vì trong quá trình lịch sử, Trung-quốc vẫn coi vịnh Bắc-Việt là của Việt-Nam.

Chứng cớ:

- Vùng đất Hợp-phố là đất cực Nam của Trung-quốc, thế nhưng lại có hải cảng Bắc-hải. Bắc đây chỉ có thể là Bắc đối với Việt-Nam. Nếu là đất của Trung-quốc họ phải gọi là thị xã Nam-hải chứ? Rõ ràng vùng này là đất cũ của Việt-Nam.

- Vùng vịnh nằm ở phía Nam Trung-quốc, phía Tây đảo Hải-Nam, phía Đông Bắc Việt-Nam mà Pháp-Hoa ký hòa ước 1887 đó, Việt-Nam gọi là vịnh Bắc-Việt. Trung-quốc cũng gọi là vịnh Bắc-bộ. Cho đến nay (2001), họ cũng vẫn dùng tên đó. Vậy thì rõ ràng vịnh này của Việt-Nam. Nếu của Trung-quốc thì họ phải gọi là vịnh Nam-bộ chứ?

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 15:

- Có sách Tây-phương nào viết về vấn đề này không?

Gs TĐS:

- Nhiều lắm, tôi xin cử ra vài tài liệu mới đây:

Edward H.H, Schafer trong Shore of Pears (châu Nhai)

(Berkley-London 1970),

Tác giả căn cứ vào khai quật, cũng như khảo cổ đã kết luận rằng:

Vào thời Hán, đảo Hải-Nam không có đường thông thương với Trung-quốc. Đảo này thuộc Giao-chỉ. Tất cả thương thuyền đều từ Giao-chỉ tới. (TĐS ghi chú dành riêng cho người Việt: Tôi đã tới Hải-Nam nghiên cứu 2 lần. Tại đây tôi tìm ra nhiều di tích thời vua Trưng, nên trong bộ “Cẩm-khê di hận” tôi đã thuật lại trận chiến giữa Hán-Việt. Nhiều “học giả” ngu dốt, công kích tôi, thấy họ ngu quá tôi không trả lời.)

Cử tọa hỏi câu hỏi thứ 16:

- Xin cho biết việc phân chia lãnh hải Hoa-Việt theo hiệp ước 1887?

Gs TĐS:

- Tôi xin chiếu lên để Ngài thấy.

Đảo Hải-Nam, lãnh thổ thời Lĩnh-Nam (vua Trưng) về trước. Hình vẽ trong sách của E.H. Schefer.

Bản đồ Hiệp-ước Pháp-Hoa 1887

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 17:

- Tôi thấy bản đồ đính kèm bản tuyên bố 1958 của Trung-quốc, chỉ ấn định vùng biển Nam-hải, mà không đề cập đến vịnh Bắc-bộ. Như vậy có nghĩa rằng họ công nhận lãnh hải trong vịnh theo Hiệp-ước Pháp-Thanh 1887?

Gs TĐS:

- Quả đúng như Ngài suy đoán. Nhưng chỉ vì gần đây Trung-quốc biết được trong vịnh có trữ lượng dầu lửa lớn, nên mới đòi VN, cắt vùng này cho họ.

Cử tọa hỏi, câu hỏi thứ 18:

- Cho chúng tôi chứng cớ.

Gs TĐS:

- Thưa có rất nhiều.

Trước hết là những hoạt động của Trung-quốc trong vùng vịnh này.

- Ngày 19 rồi 30-8-1992, Trung-quốc đưa hai tầu tìm dầu lửa trong vịnh Bắc-bộ.

- Ngày 30-9-1992 tầu Nam-hải 6 của Trung-quốc xâm nhập vùng cách Đông-Nam cửa biển Ba-lạt của VN 112km.

- Tầu Phấn-đấu 5 nghiên cứu tại cửa biển Hải-phòng, cách bờ biển Thái-bình 70 dậm.

Phía VN phản đối, nhưng Trung-quốc chối rằng họ đâu có nhập hải phận VN.

- Trung-quốc tự định lãnh hải trong vịnh Bắc-bộ, vượt ranh giới lãnh hải ấn định bởi Hiệp-ước Pháp-Thanh, họ tự đặt tên là Tây-thủ (Main de l’Est, Hands off area), rồi cấm ngư phủ, Thủy-quân Việt đi vào.

- Về phía chúng ta, từ năm 1970, người Hoa-kỳ đã thăm dò tìm dầu lửa trong biển Nam-hải, và vịnh Bắc-bộ. Tài liệu của báo Petroleum News (USA, Feb.1984), đăng bản đồ của Selig S. Harrison chỉ rõ khu có dầu lửa.

Khu vực Trung-quốc tự ấn định mới đây (1983) rồi cấm Hải-quân, Thương-thuyền, thuyền đánh cá Việt-Nam đi vào mang tên Tây-thủ (Hands off area)

Kính thưa Quý-vị

Chúng tôi xin chiếu bản đồ phân chia lãnh hải, cũng như khu vực đánh cá mới theo Hiệp-định 25-12-2000

Bản đồ hiệp định mới về khu vực đánh cá dành cho Trung-quốc (25-12-2000)

Bản đồ lãnh hải theo hiệp định 25 tháng 12 năm 2000

Như vậy theo hiệp định Việt-Hoa 25-12-2000 thì vùng vịnh Bắc-bộ được chia ra như sau:

Việt-Nam 53%

Trunguốc 47%.

So với trước 1887 thì Việt-Nam chỉ mất có 38%, nay mất thêm 9% nữa, cộng chung là 47%!

4.5, Ảnh hưởng vụ cắt lãnh hải

4.5.1, Mất lãnh hải, quốc sản

Theo hiệp định này thì rõ ràng đảng Cộng-sản Việt-Nam đã nhường cho Trung-quốc tới 9% lãnh hải vùng vịnh Bắc-Việt. Cái đau đớn là vùng nhượïng là vùng:

- Có nhiều hải sản về cá thu, cá song, cá hồng, mực là những loại hải sản quý.

- Dưới đáy biển có mỏ hơi đốt, và dầu lửa.

- Một số đảo trong vùng nhượng, thuộc Trung-quốc.

4.5.2, An ninh quốc gia bị đe dọa

Nếu vụ nhượng đất nguy hại về phương diện tinh thần, kinh tế, thì vụ nhượng lãnh hải lại nguy hại về an ninh. Vì Trung-quốc có thể dùng các đảo này làm phi trường quân sự, căn cứ Hải-quân để uy hiếp Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh trung châu Bắc-Việt và miền Trung, miền Nam Việt-Nam. Nhất là hai qyan đảo Hoàng-sa, Trường-sa.

Tin của ECL ghi lại, trong những cuộc hội đàm Hoa-Việt về lãnh hải, Trung-quốc đòi cho được mấy đảo nhỏ trong vùng, nhất là đảo Bạch-long vĩ. Hiện thì đảo này vẫn thuộc Việt-Nam. Nhưng trong các cuộc đàm phán hiện còn đang tiếp diễn thì Trung-quốc cố đòi, phía Việt-Nam, trong nội bộ cũng đã đồng ý. Cũng những tin của ECL về các cuộc hội của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản Việt-Nam thì việc chủ trương nhượng các đảo do quyết định của toàn thể, không do ba ông Cố-vấn Đỗ Mười, Lê Đức-Anh hay Võ Văn-Kiệt. Để tỏ ý hoàn toàn quy phục Trung-quốc. Chính ông Lê Khả Phiêu, đã trao cho Trung-quốc toàn bộ kế hoạch phòng thủ phía Bắc Việt-Nam. Theo ý kiến chúng tôi, thì trong Bộ Chính-trị bấy giờ, nhóm quân đội rất mạnh, chủ chốt có ba vị tướng là Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn. Trong tài liệu này, có phần ước tính tình hình Trung-quốc, Việt-Nam, đại lược như sau:

“- Trung-quốc không có khả năng dùng Không-quân tấn công vào Thủ-đô Hà-nội và các tỉnh đồng bằng Bắc-bộ. Vì khoảng cách từ các phi trường Quảng-đông, Quảng-tây, Vân-nam, Hải-Nam quá xa. Phi cơ chỉ có thể tới oanh tạc, nhưng trở về thì không đủ nhiên liệu.

- Nếu Trung-quốc tiến công bằng đường bộ, thì ít nhất phải có một triệu quân. Với một triệu quân mỗi ngày cần 10.000 lượt ô-tô tiếp tế. Mà đường bộ thì các ngả Lai-châu, Lào-cai, Hà-giang không dùng được. Chỉ có ba ngả chính tạm dùng. Một là Lạng-sơn, hai là Hạ-long (Quảng-yên cũ) ba là Cao-bằng. Ba ngả đó đường xá gồ ghề, núi non hiểm trở. Với 10.000 lượt xe, thì chỉ ba ngày là đường nát hết.

- Địa thế hiểm trở, khúc khuỷu của ba con đường này, chỉ cần ba người đóng một chốt, cũng đủ cản trở một ngày tiếp tế.

- Trong bối cảnh chiến tranh Hoa-Việt xẩy ra, thì Thủ-đô cũng như Bộ Chính-trị, Bộ Tổng Tư-lệnh có thể chuyển vào Thành-phố Hồ Chí-Minh.

- Trường hợp đó bắt buộc Trung-quốc phải dùng đường biển tiếp tế, chuyển quân. Hai quân cảng lớn sử dụng sẽ là Bắc-hải, Quảng-châu, Hải-Nam. Cả ba cùng xa, rất khó khăn”.

Nếu bây giờ Trung-quốc được mấy đảo trong vịnh Bắc-Việt, nhất là đảo chiến lược Bạch-long-vĩ,rất gần với thềm lục địa của trung châu Bắc-bộ , miền Trung và miền Nam. Nếu như Trung-quốc được đảo này, rồi thiết lập căn cứ Không-quân, Hải-quân, trạm tiếp vận tại đây, thì toàn bộ lãnh thổ Việt-Nam bị uy hiếp nặng nề. Ông Lê Khả-Phiêu, Phạm Văn-Trà, Phạm Thanh-Nhàn đều là tướng lãnh, từng cầm quân trên 40 năm, thì các ông phải biết rõ điều đó. Biết, nhưng các ông vẫn làm, thì có nghĩa là các ông muốn: “Việt-Nam vĩnh viễn nằm trong vòng kiềm tỏa của Trung-quốc”. Còn như các ông ấy làm việc đó để được gì, cho ai, vì ai ? thì tôi chịu.

4.6. Về bộ Chính-trị

Bộ Chính-trị hiện giờ (2001) gồm có 15 vị, xếp theo thứ tự quyền hành là:

1, Nông Đức Mạnh, Tổng-bí thư.

2, Trần Đức Lương, Chủ-tịch nhà nước.

3, Phan Văn Khải, Thủ-tướng.

4, Nguyễn Minh Triết, Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh.

5, Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng, Thường-trực chính phủ.

6, Lê Minh Hương, Thượng-tướng, Bộ trưởng bộ Công-an.

7, Nguyễn Phú Trọng, Bí thư thành ủy Hà-nội.

8, Phan Diễn, Bí thư Thành-ủy Đà-nẵng.

9, Lê Hồng Anh, Phó Chủ-nhiệm ủy ban kiểm tra trung ương.

10, Trương Tấn Sang, Trưởng ban Kinh-tế trung ương.

11, Phạm Văn Trà, Thượng-tướng, Bộ-trưởng bộ Quốc-phòng.

12, Nguyễn Văn An, Trưởng ban Tổ-chức trung ương.

13, Trương Quang Được, Trưởng ban Dân-vận trung ương.

14, Trần Đình Hoan, Chánh văn phòng Trung-ương đảng.

15, Nguyễn Khoa Điềm, Bộ trưởng bộ Văn-hóa Thông-tin.

Không như bộ Chính-trị thời 1954-1960, bộ Chính-trị hiện thời, mỗi vị là một mảng. Nếu Hoa-kỳ có đảng Dân-chủ, Cộng-hòa thì bộ Chính-trị hiện giờ có 15 ông, như 15 đảng khác nhau.


5. Kết luận

Kính thưa Quý-vị,

Cảm ơn Quý-vị đã kiên nhẫn ngồi nghe chúng tôi điều trần. Trước khi chấm dứt, chúng tôi xin có đôi giòng kết luận:

5.1, Phần thứ nhất,

Theo những huyền thoại cổ thì vị hoàng đế lập quốc Việt-Nam và Trung-quốc là anh em cùng cha khác mẹ, lãnh thổ Việt-Nam Bắc tới hồ Động-đình, tức bao gồm phần Hoa-Nam, kể từ sông Trường-giang đến vịnh Thái-lan. Thế nhưng trải gần 5 nghìn năm, bị Trung-quốc chiếm dần, cuối cùng chỉ còn lại phần lãnh thổ hiện nay. Trong thời gian ấy, bất cứ triều đại nào, vị vua nào của Trung-quốc cũng muốn chiếm Việt-Nam đặt làm quận huyện. Tính chung, Việt-Nam bị Trung-quốc đô hộ gần nghìn năm. Cho nên bất cứ người Việt-Nam sinh ra cũng đều biết rằng họ luôn luôn phải cảnh giác với cái họa Trung-quốc đe dọa. Hóa cho nên trong giáo dục , trong văn học, trong tín ngưỡng, người Việt luôn đề cao các anh hùng chống xâm lăng Trung-quốc. Thời nào cũng thế, người Việt có thể chia rẽ, chém giết nhau, nhưng khi có họa xâm lăng của Trung-quốc, thì tất cả quên hết, để cùng nhau giữ nước.

Nhưng không ngờ!

Chúng tôi không bao giờ tưởng tượng nổi!

Toàn thể người Việt trong nước cũng như ở ngoại quốc cũng không thể tin được rằng:

Đảng Cộng-sản từ năm 1930 đến nay (2001), lúc nào cũng nêu cao ngọn cờ yêu nước, mà họ lại cắt đất, cắt biển cho Trung-quốc. Họ vỗ ngực tự tôn rằng họ với Trung-quốc bang giao trên thế bình đẳng. Việt-Nam với Trung-quốc luôn luôn thân với nhau như môi với răng. Bây giờ họ lại chịu nhục như thế. Chưa bao giờ trong lịch sử Việt-Nam lại chịu lụy Trung-quốc như vậy!

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 19:

- Chúng tôi có một thắc mắc hết sức quan trọng là đối với Hoa-kỳ, Canada, Úc-đại-lợi, Liên-Âu thì VN dè đặt, nghi ngờ trong vụ việc đầu tư. Sau khi đầu tư rồi, họ tìm đủ cách để làm cho tê liệt các hoạt động. Đối với Hoa-kỳ, Pháp, đều có thời là kẻ thù của họ, thì hiểu nổi. Còn Canada, Úc, Liên-Âu, họ cũng đối xử cùng một thái độ.Trong khi đối với Trung-quốc thì họ hết sức dễ dàng, sau khi đầu tư, họ dành cho mọi ưu đãi?

Gs TĐS:

- Thưa Ngài Chủ-tịch. Vấn đề này rất dài. Xin ngài cho tôi 2 giờ trong cuộc điều trần định kỳ vào tháng 3-2002 mới có thể nói hết được.Tuy nhiên tôi xin tóm lược một câu: sách lược chung của chủ nghĩa Cộng-sản Léninisme, Maoisme là coi tất cả các quốc gia không Cộng-sản là kẻ thù.

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 20:

-Đối với Tây-phương, chính sách của VN nghi ngờ có thể hiểu được. Ban điểm báo cũng như sưu tầm không ngớt trình cho chúng tôi những tin tức, những lời kêu gọi Việt-kiều về nước đầu tư. Chúng tôi điểm lại, không thấy Việt-kiều nào về nước đầu tư mà thành công. Hầu hết họ bị cướp đoạt, thậm chí bị tù, mà không có tội gì cả. Không lẽ chính quyền Việt-Nam lại lỡ làm những việc đạo tặc như vậy sao? Xin Giáo-sư vắn tắt cho các vị hiện diện hôm nay biết vụ việc đó.

Gs TĐS:

- Người Việt ở ngoại quốc, đối với đảng Cộng-sản, đều là Ngụy, là Việt-gian, là Phản-động. Đảng Cộng-sản Việt-Nam có chính sách kỳ thị chủng tộc nhất thế giới, ngay cả vấn đề hôn nhân. Nếu về phương diện y khoa, chúng ta khuyến khích các tộc, dòng nên kết hôn với những tộc, dòng khác, để tạo cho lớp trẻ sau thông minh, xinh đẹp, thì hiện nay tại VN vẫn coi một người Việt kết hôn với người ngoại quốc là một tội. Trong cuộc điều trần trước Quốc-hội năm ngoái, Thứ trưởng Ngoại-giao Nguyễn Đình Bin, chỉ vì có con gái kết hôn với một ngườii Đan-mạch mà bị chụp mũ, bị làm nhục đến không thể tưởng tượng nổi. Do tinh thần đó, nên bất cứ người Việt nào mang tiền về đầu tư, thì họ muốn lấy, muốn bỏ tù, tùy thích. Tôi xin tường thuật một vụ tiêu biểu nhất là vụ Trịnh Vĩnh-Bình ở Hòa-lan. (Tóm lược vụ việc trong 15 phút).

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 21:

- Có bao nhiêu vụ như vụ Trịnh Vĩnh-Bình?

Gs TĐS:

- Nhiều, rất nhiều, cực nhiều. Tổng kết chúng tôi sưu tầm trong 10 năm từ 1990-2000 được 204 hồ sơ, mà số vốn đem về từ 1,5 triệu USD trở lên rồi bị mất trắng. Hầu hết họ đem tiền về đầu tư không qua chính quyền nơi họ cư ngụ, mà đem thẳng về. Nên các quốc gia nơi họ cư ngụ không nắm được chi tiết.

Chủ tọa đoàn đặt câu hỏi, câu hỏi thứ 22:

- Xin cho biết một vụ tại Pháp, dễ kiểm chứng nhất.

Gs TĐS:

- Đó là một người trẻ 45 tuổi (sinh 1949), tên là Hoareau Jules. Quốc tịch Pháp đã 2 đời. Bố, mẹ gốc là người Việt, nhập tịch Pháp vào năm 1943. Bố nguyên là sĩ quan, trong quân đội Pháp. Mẹ là thương gia. Anh em đều thành đạt, có người là dược sĩ, có người là thương gia, có người là kỹ sư. Jules cũng có học, từng kinh doanh tại Pháp, thành công về tài chánh. Trong một chuyến du lịch VN năm 1993, Jules được chào mời về đầu tư. Trở lại Paris, Jules quyết định mang một số tiền lớn về đầu tư vào dịch vụ Hotel-Restaurant. Năm 1994, Jules thành lập Hotel-Restaurant mang tên Quick tại đường Nguyễn Đình-Chiểu, thuộc quận 3, TP Hồ Chí-Minh. Địa điểm này gần với tòa Lãnh-sư Pháp. Vì rất kinh nghiệm trong nghề, nên chỉ một thời gian ngắn, cuối năm 1994, cơ sở của Jules đã nổi tiếng, lợi nhuận lên cao. Nhưng tiền vào bao nhiêu lại ra đi bấy nhiêu, vì:

- Phải nộp thuế chính thức rất cao.

- Công an di trú tới, trung bình mỗi tháng một lần, điều tra, hỏi han lôi thôi. Mỗi lần như vậy phải lót tay 3 tờ (300 USD).

- Công an khu vực nói thẳng, mỗi tháng phải nộp 5 tờ (500 USD).

- Nhân viên kiểm soát khách sạn, nhà hàng đòi lót tay mỗi tháng 5 tờ (500 USD).

- Bọn xã hội đen (du đãng) thu tiền hàng ngày, mỗi ngày 50 USD.

- Mỗi ngày ít nhất hai, hoặc ba chức sắc dẫn người tới ăn, mà không được phép thu tiền. Khi ăn những khách đặc biệt này toàn uống Cognac Pháp, chứ không uống rượu thường.

Tuy vậy, sau hơn một năm cơ sở càng phát đạt hơn. Rồi bọn xã hội đen đòi một số tiền 10.000 USD, và hăm dọa: “Nếu không trao, sẽ bị Công-an tới bắt giam, Hotel-Restaurant sẽ bị đóng cửa”. Biết rằng không trao số tiền này sẽ gặp nguy hiểm. Nhưng bất thình lình thì không thể kiếm đâu ra số tiền đó. Jules khất, để xin gia đình gửi từ Pháp sang. Khổ một điều, khi Jules về VN đầu tư, gia đình phản đối. Nay Jules xin tiền, gia đình không trả lời. Thế là hai tháng sau thình lình Công-an đến khách sạn, tông cửa vào một phòng cho khách thuê. Trong phòng có một thiếu nữ. Công-an lập biên bản là khách sạn chứa gái mại dâm. Jules cãi rằng cô gái đó là do khách dẫn vào, thì không phải lỗi ở Jules. Thế nhưng Jules cứ bị bắt giam ở khám Chí-hòa. Khi gia đình biết tin, thì cha, mẹ vội bay sang thăm con. Người ta đòi: Phải nộp 10.000 USD thì Jules sẽ được tha. Bố mẹ đành nộp tiền. Jules được thả ra. Nghĩa là Jules bị bắt không do Tòa-án, lúc thả cũng không, và tiền phạt cũng không do tòa. Khu Jules trở lại cơ sở Quick thì hỡi ôi, chỉ còn cái nhà trống, máy lạnh, dường, bàn, ghế đều biến mất.

Bà mẹ Jules có quen thân với một số giới chức cao cấp VN. Khi sang VN, thấy con mình bị tống tiền, bà làm lớn truyện. Thình lình bà lâm bệnh, phải trở về Paris điều trị. Nhà thương khám phá ra bà bị đầu độc, cùng một loại thuốc với những loại mà tôi đã trình bày trên. Hiện (10-2001) bà vẫn nói năng được, nhưng mắt bị mù, chân tay bất toại.

Quý vị có thể tham khảo hồ sơ này tại tòa Lãnh-sự Pháp ở TP Hồ Chí Minh, và tại IFA/Direction du Sud-Est.

5.1.1

Họ kết tội Pháp là Thực-dân, những người thân Pháp là Việt-gian. Họ nhục mạ triều Nguyễn (1802-1945) vì triều đình này từng ký hòa ước vào năm 1862 và 1884, nhượng 6 tỉnh miền Nam cho Pháp. Trong những phần trên, tôi không kể việc triều Nguyễn ký hiệp ước nhường đất cho Pháp. Bấy giờ nước Pháp trên đường đi tìm thuộc địa, đã khai chiến với triều Nguyễn. Vì gươm đao, ghe thuyền không thể chống lại với liên thanh, đại bác, chiến hạm. Triều Nguyễn bị bại trận mà phải nhường đất, chứ không vị vua nào muốn như thế. Năm 1955, Pháp trả lại tất cả đất cho Việt-Nam. Hiện người Pháp không làm chủ một thước đất nào trên lãnh thổ Việt-Nam, mà chỉ có mấy chục vạn người Việt đang làm chủ nhiều khu đất trên nước Pháp.

5.1.2,

Họ kết tội Hoa-kỳ là đế quốc, tất cả những người Việt thân Hoa-kỳ là Ngụy. Trong khi Hoa-kỳ không hề ép bất cứ chính quyền Việt nào, người Việt nào nhượng cho Hoa-kỳ một thước đất. Hiện không có một người Hoa-kỳ nào được làm chủ một thước đất trên lãnh thổ Việt-Nam, mà chỉ có gần hai triệu người Việt-Nam làm chủ không biết bao nhiêu đất trên khắp các tiểu bang Hoa-kỳ.

5.2, Phần thứ nhì

5.2.1,

Năm 1540, họ Mạc dâng đất cho Minh-triều, vì bị triều Lê trung hưng ép phía Nam, bị 22 vạn quân Minh ép phía Bắc. Năm 1862,1884 tiều Nguyễn nhường 6 tỉnh miền Nam cho Pháp vì bại trận. Tại sao:

Năm 1958, vào thịnh thời của Chủ-tịch Hồ Chí-Minh, của Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản. Miền Bắc không bị miền Nam ép, không có chiến tranh với Trung-quốc, mà Chủ-tích Hồ Chí-Minh và Bộ Chính-trị lại chấp nhận nhượng vùng biển rộng lớn, trong đó có hai quần đảo Hoàng-sa (Tây-sa) và Trường-sa (Nam-sa) cho Trung-quốc?

Năm 1999, 2000, trong nội địa Việt-Nam không có chiến tranh, cũng chẳng có đối lập. Hoa-kỳ, Liên-Âu đang theo đuổi chính sách ngoại giao mềm dẻo với Việt-Nam. Việt-Hoa không có chiến tranh. Thế mà Bộ Chính-trị lại cắt đất , cắt biển dâng cho Trung-quốc? Dâng vì lý do gì? Để được gì? Họ có thể nhượng bất cứ phần đất nào! Cớ sao họ lại nhượng vùng Nam Nam-quan, là vùng đất thiêng, mang tự hào của người Việt?

5.2.2,

Theo Hiến-pháp của Việt-Nam Dân-chủ Cộng-hòa, của Cộng-hòa Chủ-nghĩa Việt-Nam, bên cạnh Chính-phủ lúc nào cũng có Quốc-hội. Thỏa ước ký với Hoa-kỳ họ đưa ra Quốc-hội phê chuẩn. Thế nhưng ba lần cắt đất, Quốc-hội không được quyết định, không được bàn, và cũng không được biết. Liệu bây giờ, vụ việc nổ tung, họ có đem hai hiệp định 1999-2000 ra cho Quốc-hội phê chuẩn không? (Giáo-sư Tiến-sĩ Nguyễn Văn Canh công bố hiệp ước lãnh thổ ký 31-12-1999, Quốc-hội VN đã thông qua vào tháng 6-2000. Chúng tôi đã hỏi 14 dân biểu, họ đều nói không biết gì, có lẽ nhà nước đã loan báo không thực trên báo chí để lừa thế giới chăng?). Nếu như nay họ đem ra cho Quốc-hội biểu quyết hai hiệp định trên, thì tôi tin rằng không có vị đại biểu nào dám bỏ phiếu thuận. Giả như Quốc-hội bác bỏ, thì liệu Trung-quốc có chịu trả đất ở biên giới phía Bắc không? Họ có chịu rút người, rút bộ máy hành chánh, quân sự đã đặt gần sáu chục năm qua về không? Nếu như họ không rút, thì Quốc-hội Việt-Nam sẽ làm gì? Liệu VN có dám đem quân chiếm lại không? Tôi tin là không, vì mấy ông tướng trong quân đội đã chịu lụy Trung-quốc thì liệu các ông có dám đem quân tái chiếm chăng?

5.2.3,

Trong mấy năm qua, chúng tôi không đồng ý với Quý-vị, vì trong việc bang giao tại Á-châu, Quý-vị có khuynh hướng coi Việt-Nam như một thuộc quốc, đôi khi tệ hơn, coi như một tỉnh của Trung-quốc. Tôi từng phản đối.

Hôm nay đây tôi xin lỗi Qúy-vị! Quý-vị đã có cái nhìn đúng. Chúng tôi nhìn sai! Sai hoàn toàn, vì hiện chính phủ CHXHCNVN, dường như chấp nhận để Trung-quốc đô hộ không chính thức.

Khi Việt-Nam sắp ký thương ước với Hoa-kỳ, thì Trung-quốc bắt phải ngừng, chờ Trung-quốc ký trước. Hơn năm sau VN mới lạch ạch ký, mà cho đến lúc này Quốc-hội VN vẫn chưa biểu quyết thông qua. Quý vị đều biết, trừ gạo và cá, còn những sản phẩm xuất cảng khác của VN, Trung-quốc đều giống nhau. Trung-quốc bắt VN ký sau một năm, chậm thông qua một năm nữa. Với 2 năm, Trung-quốc đã chiếm lĩnh xong thị trường. Rồi không chừng Trung-quốc tìm cách để làm chậm trễ thi hành ít năm nữa.

5.2.4,

Suốt 5 năm qua, Việt-Nam trở thành thuộc địa Trung-quốc về phương diện văn hóa. Nhất là từ khi Trung-quốc tiếp thu Hương-cảng.

- Phim ảnh, âm nhạc Trung-quốc chiếm lĩnh hoàn toàn trên hệ thống truyền thanh, truyền hình và báo chí. Phim ảnh, âm nhạc Việt-Nam gần như bị đào thải. Mở bất cứ tờ báo chuyên về kịch ảnh, truyền hình, cũng chỉ thấy giới thiệu phim Hương-cảng, Trung-quốc. Đi đâu cũng thấy giới trẻ luận bàn về những phim Trung-quốc, những diễn viên, ca sĩ, người mẫu Hương-cảng, Trung-quốc, mà không biết gì về những diễn viên, ca sĩ , người mẫu Việt. Diễn viên, ca sĩ, người mẫu Việt đói khổ quá, đến độ phải đi làm gái điếm. Báo chí Việt-Nam trong thời gian từ 30 tháng 10 đến nay 9 tháng 11 năm 2001, không ngớt tường thuật một dây gái điếm trên 200 người tại thành phố Hồ Chí-Minh, toàn diễn viên, ca sĩ, người mẫu danh tiếng; do tú bà Huỳnh-thị Ngọc-Quỳnh làm chủ. Mỗi lần đi khách như vậy, họ chỉ được 50 USD đến 150 USD, mà lại phải chia cho Tú-bà 30%. Rút cuộc họ chỉ được hưởng rất ít. (7)

Ghi chú dành cho người Việt (7)

(7), Phát hiện đường dây gái gọi cao cấp Bắc – Nam

Rạng sáng 31/10, 6 người mẫu tên tuổi trong làng người mẫu Việt Nam, đều đến từ Hà Nội, đã bị Công an TP. Hồ Chí Minh bắt quả tang bán dâm cho khách tại 3 khách sạn TP. Hồ Chí Minh và một khách sạn Vũng Tàu.

Theo lời khai của nhóm gái bán dâm hạng sang này, các cô vào TP. Hồ Chí Minh kiếm tiền nhờ ”mối” của ”tú bà” Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh. Sau mỗi lần ”đi khách” với giá từ 400.000 đến 15 triệu đồng (tùy ”tên tuổi”, đẳng cấp của người mẫu), bên bán chia cho Quỳnh 30% lợi nhuận để trả công dẫn dắt.

Khám nhà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh, cơ quan chức năng thu được một số tài liệu quan trọng chứng minh vai trò điều khiển đường dây ”gái gọi” cao cấp này. Trong đó, có name card của nhiều nhân vật ”tiếng tăm” trong một số lĩnh vực, 100 số điện thoại của các cô gái (đa phần hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh và trình diễn thời trang) trong bộ nhớ của điện thoại di động. Đặc biệt, e-mail của nhiều khách, được Quỳnh chào ”hàng” bằng chiếc vi tính nối mạng Internet tại nhà.

Theo tài liệu trinh sát của Đội phòng chống tệ nạn xã hội, Phòng cảnh sát Hình sự, Quỳnh có khả năng cùng lúc đáp ứng 40 ”yêu cầu”, bởi trong tay ả có khoảng bằng ấy cô gái sẵn sàng ”đi khách” tại bất cứ đâu, chỉ cần hẹn trước qua điện thoại. Khi cần, giới ăn chơi hàng ”đại gia” chỉ mất công nhấc điện thoại, hô tên người đẹp. Việc đặt trước chỉ được áp dụng trong trường hợp những nhân vật này đòi ”hàng độc”. Việc mua – bán lâu, mau tùy thích, bởi người mẫu đến ở khách sạn thường không phải trình giấy tờ và vào sổ như người thường.

6 người mẫu vừa bị bắt chỉ là một mảng nhỏ trong đường dây gái gọi do Ngọc Quỳnh điều khiển bị phát hiện. Là một thư ký văn phòng gốc Huế giỏi tiếng Anh, vi tính và có những mối quan hệ rộng rãi với giới kinh doanh và trí thức sang trọng trong và ngoài nước, Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh rất có thể là một bà trùm trí thức chuyên ‘‘chăn dắt’’, điều phối đường dây gái gọi lớn xuyên Việt.

(Theo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Tiền Phong)

TP HCM: Phá một đường dây mại dâm lớn

Tối qua (30/10), 6 gái bán dâm “cao cấp” đã bị cơ quan công an bắt quả tang khi đang cùng khách mua dâm. Trong số này có vài cô từng là người mẫu thời trang, chỉ phục vụ giới thượng lưu.

Theo đánh giá ban đầu, đường dây do tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh (35 tuổi, trú tại phường 15, quận Phú Nhuận) điều hành, đã hoạt động từ lâu.

Tại cơ quan điều tra, bà Quỳnh khai, giá cho mỗi lần “đi khách” với loại gái cao cấp này là 100 USD/người, còn bao trọn gói đi chơi xa là 500 USD/chuyến. Khi có nhu cầu, khách chỉ cần gọi vào máy điện thoại di động của tú bà Quỳnh. Vụ án đang được tiếp tục mở rộng.

Nhiều người mẫu, diễn viên có tên trong danh sách gái “cao cấp”

Đường dây gái gọi cao cấp do Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh tổ chức, bị phát hiện hôm 30/10, gồm hơn 100 cô, đa số là người mẫu, diễn viên điện ảnh, có thể tiếp nhận cùng lúc 40 đơn đặt hàng. Cơ quan công an đã phát hiện cuốn sổ ghi danh hàng trăm khách hàng là quan chức, doanh nhân, Việt kiều…

Ba người mẫu ngồi trong phòng hỏi cung với con mắt thất thần. Cứng tuổi hơn cả là N.T.H, sinh 1970, được giới trình diễn thời trang biết đến dưới cái tên Vân-Anh. Vẫn gương mặt khả ái với bộ váy áo kiêu kỳ, cô trả lời câu hỏi của cán bộ điều tra bằng giọng nói nhỏ như hơi thở, nước mắt rưng rưng. Hai người khác là Phạm Thị Dung (1980), và Nguyễn Thị Hoàng Yến (1972). Họ cùng Vân-Anh, bị Đội Phòng chống tệ nạn xã hội, Công an TP HCM bắt quả tang bán dâm tại 3 khách sạn lớn trong thành phố, ngày 30/10.

Đến 19h30′ cùng ngày, ba gái cao cấp khác, bị bắt quả tang đang “hoạt động” tại một khách sạn ở Vũng Tàu, cũng được di lý về Công an thành phố. Một trinh sát, người còn lấm bụi đường chỉ cô gái trẻ, trông dáng rụt rè, nói: “Đó là người mẫu Trần Gia Linh, sinh 1981, từng đóng quảng cáo cho một mặt hàng khá phổ biến trên tivi”. Hai cô còn lại là H.T.C.T. (1983), T.K.M. (1977).

Chân dung mụ tú bà

“Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh là một trí thức và tất cả 6 cô gái bị bắt quả tang trong đường dây này đều là người mẫu ở Hà Nội”, thiếu tá Trần Văn Ngọc, Đội phó Đội 8, Phòng Cảnh sát hình sự TP HCM khẳng định.

Quỳnh, sinh 1966, cử nhân Anh văn, giáo viên tin học, độc thân, quê ở Huế, vào TP HCM khi còn nhỏ. Quỳnh khai, các cô đào phục vụ ở nhà hàng, khách sạn thường than thở là thu nhập chỉ được… 200.000 đồng/ngày, lại còn bị khách hành hạ đủ kiểu, nên nhờ thị tìm người sang trọng, trí thức để “lao động nhẹ nhàng hơn”. Vậy là Quỳnh môi giới cho họ gặp những cán bộ nhà nước, “đại gia” mà mình biết, và đứng giữa ăn hoa hồng.

Công việc tiến triển, tú bà chuyển sang quan hệ với giới người mẫu, diễn viên điện ảnh. Trong bộ nhớ máy điện thoại di động của Ngọc Quỳnh, có hơn 100 số điện thoại của rất nhiều cô gái có tên tuổi. Quỳnh thú nhận, nếu cùng lúc có 40 yêu cầu thì cũng có thể điều phối, bố trí được. Riêng hàng độc thì phải đặt trước để xếp lịch. Quỳnh có nhiều kênh để tiếp thị hàng, trong đó có cả Internet để quảng cáo tới khách ngoại quốc.

Khám xét nơi ở của Quỳnh, công an thu được nhiều giấy tờ quan trọng và một “ổ” namecard, cùng cuốn sổ ghi danh hàng loạt nhân vật quan trọng, từ cán bộ, đến doanh nhân và giới Việt kiều… Để được đáp ứng yêu cầu, những người này phải bỏ ra ít nhất 400.000 đồng/lần, phổ biến là 100 USD/lần. Những bông hoa có tiếng giá lên tới 500-1.000 USD/đêm. Tỷ lệ ăn chia giữa gái và tú bà là 7-3.

Con đường biến người mẫu thành “gái gọi”

Theo lời khai của 6 cô gái, họ hầu hết có văn hóa 12/12, có người đang theo học đại học… Một điểm chung nữa là họ mới “đi khách” được hơn một tháng, và đều “vô tình” qua sự giới thiệu lẫn nhau.

Kể về con đường dẫn mình tới hoạt động phi pháp này, T.G.L., 20 tuổi, khai: “Năm 1997, tôi tham gia lớp người mẫu tại báo T.T.T., được nửa năm thì đi diễn thời trang. Tôi không làm chính thức cho công ty nào, thường biểu diễn ở Cung Văn hóa Hà Nội… Trong thời gian vào TP HCM học tiếp viên hàng không, tôi gặp cô V.A., và vì muốn có tiền để học, tôi đã nhờ V.A. giúp. Cô này quen và cho bà Quỳnh số điện thoại của tôi. Bà Quỳnh hẹn gặp mặt, cho biết khi có khách sẽ gọi. Tôi vào đường dây này được tháng rưỡi nay, bán dâm được 8 lần, giá mỗi lần 100-150 USD”.

Còn V.A., 31 tuổi, khai: “Cách nay 2 tháng, tôi vào Sài Gòn chơi và đến khách sạn Mặt Trời, trên đường Nguyễn Hữu Cầu, quận 1, hát karaoke. Trong số bạn bè của tôi có người quen biết chị Quỳnh, nên chị ấy đã đến làm quen, và xin số điện thoại của tôi để môi giới bán dâm. Tôi gia nhập đường dây này được tháng nay…”.

T.K.M., 24 tuổi, tốt nghiệp Đại học Mở Hà Nội (khoa Ngoại ngữ), thì khai chi tiết hơn: “Tôi đi khách được tháng nay, do bà Quỳnh làm chủ. Giá 100-500 USD. Nếu đi một giờ thì 100 USD, nếu qua đêm với khách tại TP HCM thì 200 USD. Còn đi Vũng Tàu một ngày là 500 USD. Tỷ lệ ăn chia: tôi 70%, bà Quỳnh 30%. Tôi làm gái là do cô L. giới thiệu, bởi bạn trai của L. là bạn thân với bạn trai tôi. Từ khi làm với bà Quỳnh, tôi được kêu đi khách 4 lần. Ngoài ra, tôi còn đi với khách quen 2 lần… Tôi từng làm người mẫu để quảng cáo cho mỹ phẩm của công ty mỹ phẩm K.M. của nước ngoài. Ngoài ra, tôi còn cùng L. làm người mẫu ở Hà Nội, thuộc nhóm Ngôi Sao Xanh”.

Ai đứng sau thị Quỳnh?

Tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh khai, còn một người tên H. cũng làm môi giới, và thị phải chia cho nhân vật này 50% lợi nhuận thu được từ những phi vụ “hoạt động” của gái.

Lời khai của các cô gái bị bắt đề cập khách sạn H.N. trên đường Nguyễn Văn Thủ, Đ.H.H. đường Nguyễn Thị Minh Khai, L.B. đường Bùi Thị Xuân…, và cả một nhà nghỉ của cơ quan nhà nước. Đây được coi là “bãi đáp” an toàn, bởi gái của Quỳnh chỉ cần nói số phòng mình cần lên, là được vào thẳng, không cần gửi lại giấy chứng minh nhân dân, và sự hiện diện của họ cũng không được thể hiện trên sổ sách. Điều này dẫn tới nghi vấn về sự mẫn cán của các lực lượng chuyên làm công tác kiểm tra.

Đường dây Ngọc Quỳnh tồn tại nhờ khách nội

Khi bắt khẩn cấp tú bà Huỳnh Thị Ngọc Quỳnh ở đường Nguyễn Trọng Tuyển, phường 15, quận Phú Nhuận, TP HCM, lực lượng phòng chống tệ nạn Công an thành phố thu giữ được danh sách của hàng trăm khách mua dâm, ghi đầy đủ cả chức vụ, điện thoại. Ngọc Quỳnh khai, trong số đó, dân làng chơi nước ngoài chỉ chiếm 20%.

Cùng với danh sách này, cơ quan công an còn phát hiện những cuốn album dán ảnh cả trăm người mẫu với trang phục áo tắm hai mảnh để quảng cáo, chào hàng và thỏa thuận giá cả với khách. Để quảng cáo cho gái, Quỳnh đặt ở nhà hai dàn máy tính nối Internet, mà theo lời giải thích của một người mẫu bán dâm, là để chào khách du lịch nước ngoài.

Tuy nhiên một số cô gái bị bắt cho biết, họ không thích “đi” với khách ngoại quốc, vì họ quá sòng phẳng. Đã ngã giá bao nhiêu thì chi bấy nhiêu. Còn khách “nội”, nhiều khi còn được “boa” gấp 2-3 lần giá thỏa thuận ban đầu, nếu biết làm vừa lòng “các sếp”. Đó là chưa kể được dẫn đi mua sắm đồ hiệu, nữ trang cao cấp… Bên cạnh đó, nếu gặp được các ông chủ doanh nghiệp có máu mặt, sau lần gặp gỡ còn hé mở nhiều cơ hội để các cô “tiến bước”. Họ có thể được tham gia các hợp đồng làm người mẫu quảng cáo, chụp hình làm catalogue giới thiệu sản phẩm… hoặc những “sô” diễn nhẹ nhàng trong các dịp khai trương, động thổ, vừa thu nhập cao vừa có điều kiện mở rộng mối quan hệ.

Trong 6 người bị bắt quả tang đang mua dâm với người mẫu thì có tới 3 khách làng chơi ở tỉnh. Họ là chủ các doanh nghiệp, nhà hàng, người buôn bán giàu có… Số còn lại là người ở TP HCM. Họ bị phạt hành chính 500.000 đến 1 triệu đồng, và được cho về. Cơ quan công an sẽ có một thông báo tới đơn vị, địa phương, gia đình những người này theo đúng quy định hiện hành.

Một sĩ quan công an công tác nhiều năm ở Đội Phòng chống tệ nạn xã hội lo ngại: “Xem ra hình phạt như vậy chưa đủ ép phê để răn đe những đấng mày râu ham của lạ”. Chính những kẻ ăn chơi sa đọa này đã sản sinh ra những nhóm thanh nữ không chịu học hành, rèn luyện mà chỉ muốn thành đạt nhanh nhờ “vốn tự có”.

(Theo NLĐ)

- Các sách Trung-quốc được dịch, bán tự do: Từ tiểu thuyết tới sách tham khảo, dĩ chí cả bói toán, phong thủy. Nhà xuất bản Văn-học vừa cho dịch, xuất bản hai bộ tiểu thuyết của Kim-Dung, mà từ trước đến nay bị coi là quốc cấm. Trong khi nhà nước Việt-Nam hô hào giao lưu văn hóa với người Việt ở nước ngoài, nhưng họ chỉ muốn đem sách trong nước ra ngoài bán, mà họ không cho đem sách của người Việt ở ngoại quốc vào trong nước, dù là sách khoa học, kỹ thuật, y học, tin học. Trước sau họ cho xuất bản không quá 10 quyển sách của người Việt hải ngoại, mà đa số sách đó nói xấu về VNCH, hoặc bôi nhọ xã hội người Việt ở ngoại quốc. Đi đâu cũng thấy người lớn, trẻ con luận bàn những nhân vật trong các bộ sách:

1/ Mười đại hoàng đế Trung-quốc

2/ Mười đại thừa tướng Trung-quốc.

10/ Mười đại gian thần Trung-quốc

không ai nói tới những anh hùng Trưng Trắc, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ từng thắng Trung-quốc bảo vệ đất nước quốc.

Ghi chú của IFA (bổ túc ngày 13-2-2002)

Trước khi vụ nhượng đất cho Trung-quốc bị lộ (2001), Liên-Âu, nhất là Pháp, rất cảm tình với Việt-Nam. Trong nghi lễ, đối với các cơ sở Ngoại-giao VN, Liên-Âu thường không dấu diếm tình cảm đặc biệt này. Tỷ như một cơ quan vận tải, mỗi tháng dành cho tòa Đại-sứ VN tại Pháp một container, muốn gửi gì về VN thì gửi, miễn phí. Gia đình nhân viên sứ quán được nhập cảnh vào Pháp học thoải mái, miễn phí. Nay thì Liên-Âu coi VN như một thuộc địa của Trung-quốc. Bằng chứng, hồi Tết Nhâm-ngọ vừa qua, Liên-Âu quay một vòng 180 độ, trong nghi lễ Ngoại-giaop đối với VN. Ngày 13 tháng 2 năm 2002 tức mùng hai Tết, Tổng-thống Jacques Chirac đã mời ông Đại-sứ Trung-quốc, nhân viên sứ quán, phái đoàn Hoa-kiều đến điện Élysée ăn Tết, và chúc Tết. Tổng-thống cũng mời một phái đoàn Việt-kiều cùng vào điện Élysée ăn Tết. Tổng-thống chúc Tết, nhận lời chúc Tết của các đại diện Việt-Nam, nhưng không mời Đại-sứ VN. Hầu hết các Quốc-trưởng những nước Liên-Âu đều gửi thư, chúc tết Đại-sứ các nước Á-châu. Duy Đại-sứ VN thì không, vì họ coi VN là một thuộc quốc của Trung-quốc, thì …chúc Tết Trung-quốc cũng đủ rồi, không cần chúc tết một tỉnh (VN) của Trung-quốc nữa.

Sau lần viếng thăm mới đây của Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch Dân (17-2-2002), bộ Giáo-dục và Đào-tạo của CHXH CH Việt-Nam đang bắt tay vào việc sửa đổi sách giáo khoa. Cũng nên nhắc lại, sách giáo khoa Việt-Nam (CS) từ 1947, luôn đề cao “Trung-quốc hôm này là Việt-Nam ngày mai”, bóp méo những lần Trung-hoa xâm lăng VN. Đến năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình xua quân tràn qua biên giới, tàn phá 6 tỉnh Bắc-biên, thì tất cả những cái xấu xa của nghìn năm đô hộ lại được đem vào sách giáo khoa, kể cả những xấu xa mới từ 1947 đến 1979. Trong dịp này Giang Chủ-tịch cũng nhắc nhở Tổng-bí thư đảng Cộng-sản Việt-Nam là Nông Đức Mạnh rằng:

“Trong lần Nông thăm Trung-quốc, Giang đề nghị Nông có 16 chữ vàng, làm mẫu mực cho việc bang giao Hoa-Việt:

Láng giềng hữu nghị,

Hợp tác toàn diện.

Ổn định lâu dài,

Hướng tới tương lai”

Nay nên thêm vào 4 chữ nữa là 20:

Hoàn toàn tin cậy”.

Cho đến hôm nay, chúng tôi cũng chưa biết ông Nông Đức Mạnh có nghe theo không?

5.2.5,

Chúng tôi muốn biết các vị có nhận thấy sự bất thường trong thông tin tại Việt-Nam hiện giờ không? Hiệp định ký nhượng đất ký ngày 30-12-1999, sau đó diễn ra:

- Cuộc trao đất,

- Cuộc trao dân,

- Các cơ sở hành chính, quân sự Việt-Nam phải rút khỏi khu nhượng địa, rất ồn ào.

- Các chính quyền vùng bị nhượng từ cấp xã, huyện, tỉnh được thông báo, được chỉ thị rộng rãi.

- Suốt gần 2 năm qua, có hàng triệu người Việt băng qua các cửa khẩu đã nhượng cho Trung-quốc, thì họ phải biết rất rõ khu đất thiêng bị mất.

Như vậy thì cuộc nhượng đất này đâu có thể bưng bít? Báo chí trong nước cấm không được đăng tải là lẽ thường. Thế sao không ai thông báo cho người Việt hải ngoại? Mãi tới những ngày gần đây (tháng 9 năm 2001) mới thấy trên Internet từ trong nước gửi ra ba bài của Đỗ Việt Sơn, Lê Chí Quang và Quang-Chính, nói lờ mờ về vụ này. Chúng tôi biết cái bí ẩn đó là lớp người mới bất mãn với lớp người cũ trong Bộ Chính-trị. Họ muốn quy trách cho cá nhân, trong khi bộ Chính-trị đảng Cộng-sản mới là những người chủ động.


Ghi chú của IFA,

Chúng tôi nhận được lệnh phải điều trần về vấn đề này do văn thư số 3778-7 ngày 11-2-2001. Chúng tôi ủy cho Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ, vì thuộc phần hành của ông. Mãi tới ngày 10-11-2001 ông mới hoàn tất và điều trần. Theo như chúng tôi biết thì cho đến ngày này, trong nước mới chỉ có vài bài gửi ra nói lơ mơ về vụ cắt đất. Cho nên người ta gán cho chúng tôi (IFA) và Bác-sĩ Trần là người đầu tiên bắn phi đạn vào Bộ Chính-trị đảng Cộng-sản VN. Chúng tôi xin minh xác: Chúng tôi cũng như Bác-sĩ Trần chỉ làm nhiệm vụ của của người nghiên cứu. Suốt toàn bản điều trần, không hề có một câu ác ý hay thù nghịch với đảng Cộng-sản Trung-quốc cũng như VN.

Thưa Quý-vị,

Phần điều trần của tôi đến đây chấm dứt. Chúng tôi đợi những thắc mắc của Quý-vị.

Cử tọa đặt câu hỏi, câu hỏi thứ thứ 23:

- Một nguồn tin thân cận, ông Lê Kinh Tài là một Đại-sứ của Việt-Nam có nói rằng, sở dĩ ông Nông Đức Mạnh được đưa lên chức Tổng Bí-thư, vì nhờ uy tín của thân phụ là cố Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Sự thực ra sao?

Một vị trong chủ-tọa đoàn (là Giáo sư y khoa) trả lời:

- Câu hỏi của Ngài đặt Gs Trần trước một khó khăn. Nếu ông không nói thực thì ông phạm tội đại hình là nói dối chúng ta. Còn như ông nói ra thì ông sẽ bị kiện lôi thôi. Tài liệu nghiên cứu ADN (DNA) về ông Hồ Chí Minh, nhóm nghiên cứu của Gs Trần đã bán cho công ty DNAW hồi tháng 3 vừa rồi. Nên không thể tiết lộ. Tôi chỉ có nói tổng quát, tài liệu đó dùng hệ thống ADN để làm sáng tỏ nguồn gốc mơ hồ của các danh nhân cận đại Việt-Nam, trong ấy có 2 vụ lớn nhất.

- Cận sử, cũng như dư luận nói rằng Đại-Nam hoàng đế Bảo-Đại là con ông Hồng-Đề chứ không phải là con của Đại-Nam hoàng đế Khải-Định. Sự thực ra sao? Nhóm của Giáo-sư Trần đã tìm ra, được kiểm nhận là đúng với phương pháp ADN mới nhất (3-2001).

- Đảng Cộng-sản VN công bố Chủ-tịch Hồ Chí Minh là con ông Phó-bảng Nguyễn Sinh Huy. Ông Nguyễn Sinh-Huy là con một nông dân tên Nguyễn Sinh-Nhậm. Nhưng sử gia Trần Quốc Vượng của viện Sử-học Hà-nội lại công bố rằng ông Nguyễn Sinh Huy không phải là con ông Nguyễn Sinh-Nhậâm mà là con ông Hồ Sĩ Tạo. Rồi những nguồn tin trong nước nói ông Nông Đức Mạnh và mấy người nữa là con của Chủ-tịch Hồ Chí Minh. Sự thực ra sao? Nhóm của Giáo-sư Trần cũng nghiên cứu, được kiểm nhận là đúng với phương pháp ADN mới nhất (3-2001).

Vẫn vị cử tọa trên:

- Làm thế nào mà Gs Trần có thể lấy được ADN của những người trong cuộc?

Vẫn vị trong chủ tọa đoàn:

- Thưa Ngài không khó vì …(chúng tôi bị cấm không phổ biến). Ngay những xương của người quá cố lâu rồi, ADN vẫn có khả năng xác định.

Tài liệu này được đánh số IFA-532-101001

PHỤ BẢN

Về cuộc mật đàm giữa Tổng Bí-thư Đỗ Mười, Thủ-tướng Võ Văn Kiệt và Chủ-tịch nhà nước Trung-quốc Giang Trạch Dân năm 1997.

Lời giới thiệu của IFA

Tháng bẩy năm 1977, Bác-sĩ Trần Đại-Sỹ được cử làm trưởng đoàn Pháp, của Ủy-ban trao đổi y học Pháp-hoa (Comité médical Franco-Chinois=CMFC) dẫn phái đoàn Pháp sang Trung-quốc làm việc trong hai tháng ở Bắc-kinh.

Đang lúc ông ở Bắc-kinh, thì Tổng-bí thư đảng Cộng-sản VN. Đỗ Mười và Thủ-tướng CS. Võ Văn-Kiệt cũng sang đây, hội với Chủ-tịch Trung-quốc Giang Trạch-Dân. Nhờ quen thân với một vài ký giả ban Việt-Ngữ của đài tiếng nói Bắc-kinh, ông biết khá nhiều về cuộc mật nghị này. Trở về, ông viết thư cho một người bạn là ký giả Hồ Anh, chủ nhiệm bán nguyệt san Văn-nghệ Tiền-phong ở Virginia, Hoa-kỳ. Tuy là thư riêng, nhưng đây là một tài liệu lịch sử bang giao Hoa-Việt, nó có thể giúp độc giả một cái nhìn rõ ràng hơn về bang giao giữa hai đảng Cộng-sản Trung-quốc, Việt-Nam, nên chúng tôi xin đăng nguyên văn, để một biến cố lịch sử này không bị chôn vùi. Cứ như nội dung bài này, thì năm 1997, đảng Cộng-sản VN còn kênh với đảng CS Trung-quốc, thế mà sau đó sang thời kỳ Lê Khả Phiêu, thì Trung-quốc dùng phép tắc nào mà biến VN thành một thuộc địa? Điều này xin để các vị cao minh giải đoán.

Paris ngày 20 tháng 9 năm 1997.

Kính thăm anh, và cháu Thủy-Tiên của chú.

Tôi vừa đi Trung-quốc về anh ạ. Sau hai tháng ăn cơm Tầu, tôi lên ba ký. Cái bụng trông giống bụng Đổng Trác quá. Nhờ vậy sức khỏe tương đối dồi dào, ngày nào cũng nộp thuế cho cô bạn gái, vì vậy cổ cũng xí xái cho cái tội, bỏ cổ một thân một mình ở giữa cái xứ Paris ồn ào này, ngày ngày ngồi vọng phu. Đi xa về kể chuyện cho anh và cháu đọc, gọi là chút quà của xứ sở của Khổng-tử, và xứ sở của Khuất-Nguyên, của Văn Thiên-Tường.

Bắt đầu từ tháng sáu, chúng tôi đã chuẩn bị. Sau cả tháng hội họp, phân chia nhiệm vụ, chúng tôi lên đường Hoa du. Đoàn của tôi gồm 9 đứa, thuộc Ủy-ban trao đổi y học Pháp-Hoa (CFMC). Lần này chúng tôi làm nhiệm vụ trao, tức đem chuông đi đánh xứ người, mà chủ đề là giải phẫu chỉnh hình.

Tất cả 9 đứa đều là giáo sư y khoa. Lớn nhất 64 tuổi, nhỏ nhất 45 tuổi, chia ra sáu đực, ba cái. Tám đứa đều là con cháu tộc Gaullois, còn tôi là con Rồng cháu Tiên. Kể về khả năng y khoa thì tôi đứng hạng bét. Nhưng sở dĩ tôi được làm trưởng đoàn, vì sống lâu lên lão làng. Cả 8 đứa đều mới được nghị định bổ nhiệm đâu năm, sáu năm. Riêng tôi, tôi đã ở trong CMFC đúng 20 năm. Vả lại, tôi được các bằng hữu Trung-quốc tín nhiệm, lại là thổ công trên đất Hoa-hạ, nên tôi nghiễm nhiên làm trưởng đoàn. Oai hơn tổng Cóc! Cả tám đứa đều có vợ hay chồng tháp tùng, bởi mấy khi được Hoa du. Có đứa còn mang cả con đi. Thành ra trên danh nghĩa có 9 đứa, mà phái đoàn lên tới 21 người. Được cái túi tiền của CMFC khá lớn, do các viện bào chế UPSA, UP John, Rhône Poulenc, Roche, MSD, Roussel… đài thọ, nên tôi chi cho phái đoàn thoải mái.

Chúng tôi tới Bắc-kinh ngày 2 tháng 7 năm 1997 bằng phi cơ Air France. Khi phi cơ vừa chạm đất, tôi ra oai:

- Tất cả tụi bay ngồi tại chỗ, nhường cho hành khách xuống trước.

Chúng tôi thuộc loại VIP, được đón rước, tặng hoa, chào mừng nên không phải xếp hàng, mọi thủ tục quan thuế, đóng dấu trên thông hành đã có người lo.

Sắp xếp, ấn định chương trình xong, nhiệm vụ của tôi coi như không còn gì đáng quan tâm. Anh biết không? Ở xứ Pháp mà một người đàn ông có chút máu văn nghệ như tôi đi ra ngoài cu ky một mình thì bị coi là ích kỷ, là bệnh hoạn, nên tôi đã hẹn danh ca Diệu-Nghi của đoàn văn công Hàng-châu gặp nhau ở Bắc-kinh. Nàng tới Bắc-kinh trước, khi tôi tới phi trường, thì nàng mặc bộ xiêm y khi đóng vai Dương Quý-phi, đón tôi, làm cả đoàn CMFC lé mắt phục tôi. Sau khi mọi việc chạy tốt, tôi xé lẻ, tiếu ngạo Bắc-kinh với Dương Quý-phi!

Anh biết không, sang Bắc-kinh, ngoài nhân viên phái đoàn, tôi không có ai là bạn cả để bàn chuyện văn chương, ngoài Diệu-Nghi. Diệu-Nghi tuy đẹp, nhưng văn chương thì nàng ẹ quá (Không lẽ suốt ngày lên giường?). Buồn nẫu ruột ra được. May ơi là may, tôi gặp một anh bạn cũ, hiện làm việc trong ban Việt-Ngữ đài Bắc-kinh. Thế là hữu bằng tự viễn phương lai (1), tôi có bạn mà bạn có thể nói tiếng Hoa, tiếng Việt. Hơn nữa chúng tôi có nhiều hiểu biết về vấn đề VN. Anh bạn cũng có vợ là danh ca người Tô-châu. Thế là 4 chúng tôi cùng tiếu ngạo khắp kinh đô cổ kính này. Anh ta giới thiệu cho tôi mấy người bạn mới. Mấy anh ấy đều là Tầu lai, trước đây sống ở Chợ-lớn, Hà-nội cả. Nghĩa là Tầu thì bảo họ là Ố-nàm nhần. (2) Còn Việt thì bảo họ là Chệt.(3)

Tôi sang được bẩy ngày, thì anh bạn ký giả báo cho biết rằng:

“Quốc-vương Đỗ Mười và Tể-tướng Võ Văn-Kiệt sắp sang chầu Thiên-tử Giang Trạch Dân”.

Anh ta nói :

“Nghe đâu phái đoàn không đông lắm, và cũng không đi tham quan chỗ này chỗ kia. Cuộc chầu thánh Thiên-tử này coi ra có vẻ căng căng, không khéo lại có bài học nữa,(4) thì thanh niên Việt-Hoa tha hồ mà chết”.

Thế rồi, anh bạn mất tích. Bốn ngày sau, anh gặp tôi, luôn mồm xin lỗi, vì phải theo dõi cuộc hội đàm. Anh than :

“Tổ bà nó, bọn mình là người có học, có tư cách, thành ra không làm bí thư tỉnh, bí thư khu được. Diễn biến các cuộc họp mình biết hết. Thế mà lại phải trình bầy lại cho những thằng dốt hơn con bò. Nó nghe chán rồi nó phán: Điều này nên tiết lộ, điều này không. Sự thực thế này, nhưng phải viết quẹo như thế kia. Nghe chúng phán, tức muốn ứa gan. Cáu quá, tối về tao banh cái miệng Mao Chủ-tịch của vợ (5) rồi hét lên : Tôi là thằng hèn, không xứng đáng là con cháu ông Đổng, ông Giản (6). Bây giờ tao tìm mày để thổ lộ cho bõ tức”.

Chú giải đoạn 1 của Văn-nghệ Tiền-phong:

(1) Câu này lấy trong sách Luận-ngữ, ý nói : Có người bạn từ xa đến, chẳng đáng vui sao.

(2) Ố nàm nhần. Tiếng Quảng-Đông, nghĩa là An-Nam nhân.

(3) Chệt. Chỉ người Hoa.

(4) Bài học. Hồi 1978, Đặng Tiểu-Bình đem quân đánh VN, rồi nói rằng dạy cho một bài học.

(5) Miệng Mao Chủ-tịch. Tiếng lóng, mà dân chúng Trung-quốc dùng để chỉ cái ngàn vàng của phụ nữ.

Đổng là Đổng Hồ, người nước Tấn. Giản là người nước Tề. Hai ông làm quan Thái-sử. Dù bị kề gươm vào cổ, bắt phải chép sai sự kiện lịch sử, vẫn chép đúng.

Anh kể : Giang Trạch-Dân là người có học, thâm trầm, mưu cơ, tính toán rất cẩn thận. Mỗi lời, mỗi ý đều nói rất văn hoa, lại ưa xen vào những câu trong kinh điển cổ, hoặc những câu thơ, câu từ. Thế nhưng trong buổi họp ông ta gặp gã Đỗ Mười dốt đặc cán mai. Y lại hay lẫn (1). Một sự kiện đã nói rồi, bàn rồi, lát sau y quay trở lại. Đã thế, thông dịch viên của y thì nói giỏi, nhưng dốt văn chương cổ, không đủ kiến thức diễn giải hết ý của Giang. Tỷ như Giang nói móc Đỗ Mười trong bữa ăn rằng Mười xuất thân là tên hoạn lợn bằng câu :

“Lợn Trung-quốc không to béo như lợn Việt-Nam, vì chúng ham nhảy cái quá. Còn lợn VN hầu hết là lợn thái giám, nên to lớn”.

Thế nhưng anh thông dịch, dịch là :

“Lợn Trung-quốc không to béo như lợn VN, vì bọn nuôi lợn ham tán gái, thiếu chăm sóc. Còn lợn VN thì do cán bộ chăm nuôi cẩn thận”.(2)

Tôi hỏi :

- Thế khi bắt tay nhau, thì Giang nói trước hay Đỗ nói trước ?

- Không ai nói trước cả. Sau khi bắt tay, thì Giang ứng khẩu đọc hai câu thơ như sau :

Độ tận kiếp ba huynh đệ tại,

Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu.

Thông dịch, dịch như sau : Sau khi trải qua cơn sóng gió, tình anh em vẫn còn. Hôm nay, gặp lại nhau, cười một cái, mới hiểu rõ ai là bạn, ai là thù. Theo mày, ý Giang muốn nói gì ?

Tôi phát biểu ý kiến :

- Tao thử giải nghĩa theo kiểu Tây xem có đúng không nghe. Độ là bến đò. Tận là hết. Kiếp là tiếng nhà Phật để chỉ tai vạ. Ba là sóng gió. Câu này hiểu theo nghĩa đen thì : Từ trước đến nay, Trung-quốc như răng, VN như môi. Hồi 1979, Đặng Tiểu-Bình xua quân đánh VN, rồi nói rằng dạy Hà-nội bài học ; thì không còn cái tình môi hở răng lạnh nữa, mà là răng cắn môi máu chảy ròng ròng. Anh em ta, những người Cộng-sản mí nhau trải qua một tai kiếp như đò vượt qua sông đầy sóng gió. Bây giờ các đồng chí sang đây, thì chúng ta lại cũng vẫn là anh em… Cộng-sản. Chúng ta phải xiết chặt tình huynh đệ, bằng không thằng cảnh sát quốc tế nó dùng đô la, nó nhét vào mồm chúng ta, rồi chúng ta lại đánh nhau thì chết.

Không ngờ tôi giảng nghĩa kiểu cà chớn như vậy, mà mấy anh bạn lại cười khúc khích :

- Cũng gần đúng ý Giang. Giang cũng muốn nói như vậy.

- Còn câu thứ nhì, thì ý nghĩa giản dị thôi. Tương phùng là gặp nhau. Nhất tiếu là cười một tiếng. Mẫn là hiểu rõ. Ân là ơn. Cừu là thù. Toàn câu này ý nghĩa như sau : Hôm nay anh em gặp nhau đây, cười một tiếng, hiểu rõ đâu là ân, đâu là cừu.

- Không hẳn như vậy, theo tao thì Giang muốn nói : Chúng ta gặp nhau đây hãy quên đi những gì là cừu thù, mà chỉ nên nhớ đến cái ân khi xưa Trung-quốc đã viện trợ cho VN suốt ba chục năm liền.

Thế nhưng ba hôm sau, một trong ba anh bạn đó nói riêng với tôi rằng :

“Cái câu thứ nhất, nó có ý nghĩa rất sâu sa, đại ý đe dọa Mười, Kiệt rằng : Bọn bay hãy coi gương thằng Lê Đức Anh. Nó bị méo miệng, một mắt nhắm không được. Bán thân bất toại”.

Tôi kinh hãi hỏi :

- Ẩu ! Trong hai câu thơ trên chữ nào chỉ vào việc ấy ?

- Mày ăn phó mát Camember riết rồi quên mẹ nó cả chữ nghĩa. Tao hỏi mày, thế chữ Huynh tiếng Việt nghĩa là gì ?

- Là… Anh ! Ừ nhỉ. Chết cha thằng Lê Đức-Anh. Câu trên hiểu theo nghĩa khác là : Sau khi chúng mày với tao đấm đá nhau, thì thằng Lê Đức-Anh còn nằm chình ình ra kia. Bây giờ gặp nhau đây, tao cười một tiếng, để chúng mày biết cái tội lấy oán trả ân.

Tôi tò mò :

- Thế bọn Giang đánh thuốc độc Lê Đức-Anh từ bao giờ ? Đánh bằng cách nào ?

- Cách đây mấy năm, bộ ba Mười, Anh, Kiệt sang Quảng-Đông triều kiến. Trong dịp đó Anh được tặng một cái áo. Chính cái áo tẩm nước hoa có thuốc đó đã làm cho Anh bị xuất huyết não, thành bán thân bất toại.

- Xạo ! Tao đếch tin.

- Uổng cho mày là giáo sư y khoa, bị mấy con Đầm hớp hồn rồi thành lú lẫn.

- Tao chưa hề xài Đầm! Từ hồi 18 tuổi đến giờ tao toàn ăn cơm Việt hoặc cơm Xẩm. Mày thấy không? Sang đây tao đi với Diệu-Nghi, chứ có đầm đìa nào đâu?

- Im cái mồm đi! Cãi chầy. Tao hỏi mày hôm rồi ông thủ trưởng của tao than rằng, thỉnh thoảng trong đêm ông ấy bị lên cơn đau tim, mày cho ông í một hộp cao dán. Mày dặn rằng: Khi lên cơn thì dán vào ngực, rồi hôm sau đi tìm bác sĩ. Có đúng không?

- Đúng.

- Thuốc đó là thuốc gì?

- Cordipatch.

Tôi chợt hiểu: Thì ra Lê Đức Anh bị Trung-quốc dùng một thứ thuốc thấm qua da, rồi thình lình bị huyết áp cao, sinh tai biến mạch máu não mà thành bán thân bất toại. Biết thế, nhưng tôi giả bộ ngây người ra không hiểu, để anh bạn tôi phải nói ra. Quả nhiên anh mắc bẫy. Anh hỏi tôi:

- Tao hỏi mày câu này : Mày có nhớ năm 1789, khi sai Thành Lâm sang phong vương cho vua Quang-Trung, vua Càn-Long gửi tặng cho vua Quang-Trung chiếc áo có thêu kim tuyến bẩy chữ :

Xa tâm chiết trục đa điền thử

Tất cả các quan Tây-sơn, Đại-thanh đều không ai hiểu ý nghĩa bẩy chữ này. Hiểu theo nghĩa đen là : Giữa cái xe, trục bị gẫy, đa số là do con chuột đồng. Ngô nghê thậm ! Nhưng năm 1792, vua Quang-Trung bị não xuất huyết, nằm bán thân bất toại mấy tháng rồi băng. Năm đó là Nhâm Tý, người ta mới hiểu rõ : Chữ Xa với chữ Tâm là chữ Huệ, tên vua Quang-Trung. Xa tâm là Huệ, chiết trục là gẫy trục, tức chết… Thử là con chuột, chỉ năm Tý, vua Quang-Trung sẽ băng. Trong áo đó tẩm thứ thuốc ngấm dần vào da. Mày hiểu chưa?

- Hiểu.

Tôi trở lại vấn đề:

- Thế Mười, Kiệt có hiểu ý nghĩa hai câu thơ đó không ?

- Ngay tại đương trường thì chúng không hiểu. Nhưng tối về, bọn trí thức đi theo cố vấn cho chúng. Chúng hiểu. Vả cái vụ vua Quang-Trung, Lê Đức-Anh, Đào Duy-Tùng, Lê Mai bị đầu độc, Mười, Kiệt đều biết cả. Nên ngu gì thì ngu, chúng cũng hiểu.

Chú giải đoạn 2 của Văn-nghệ Tiền-phong:

Tin này khá chính xác. Vũ Thư-Hiên trong Đêm giữa ban ngày cũng thuật : Trước đây Đỗ Mười bị bệnh tâm thần, phải vào nhà thương điên hai lần. Theo tin trong nước thì gần đây Mười bị chứng lẫn, đú.

2. Hồi chưa theo Cộng-sản, Đỗ Mười làm nghề hoạn lợn (Thiến lợn). Thấy cái nghề này quá bẩn, Hồ Chí-Minh mới sai chép trong tiểu sử của Mười rằng y làm nghề thợ sơn.

- Thế giữa Đỗ với Giang có bàn về việc chủ quyền hai quần đảo Hoàng-sa, Trường-sa không ? (1)

- Có ! Đỗ than rằng trong khi các bên bàn luận chưa ngã ngũ ra sao, thì hải quân Trung-quốc cứ nhằm hải quân Việt-Nam mà tấn công. Như vậy thì sao có thể mẫn ân cừu được ?

- Giang trả lời sao ?

Giang cười xòa, rồi nói rằng :

- Quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) do Trung-quốc chiếm từ chính quyền miền Nam VN, không liên quan gì tới đảng Cộng-sản Việt-Nam cả. Còn những cuộc đụng độ mới đây tại quần đảo Nam-sa (Trường-sa) thì đó là những biến cố nhỏ. Chúng ta gặp nhau đây, hãy bàn đại cuộc thì hơn.

Đỗ Mười không chịu, y cãi :

- Đụng chạm nhỏ gì mà tới 9 lần. Thiệt hại nhân mạng lên tới mấy trăm. Nhất là cuộc tấn công của hải quân Trung-quốc ngày 14-3-1988, khiến ba chiến hạm Việt bị chìm (2), mấy trăm nhân mạng bị chết.

Giang bèn xuất ra một văn kiện, do Thủ-tướng Phạm Văn-Đồng ký trước đây. Giang nói:

- Ngày 4-9-1958, khi Trung-quốc ra bản tuyên cáo lãnh thổ 12 hải lý, với bản đồ đính kèm, thì ngày 14-9-1958, Thủ-tướng Phạm Văn Đồng của VN, ký văn thư gửi cho Thủ-tướng Chu Ân Lai của Trung-quốc, công nhận bản tuyên bố lãnh hải. Từ ngày ấy cho đến nay, phía VN chưa bao giờ chống đối văn kiện này. Như vậy rõ ràng VN công nhận toàn bộ vùng biển Đông, trong đó có hai quần đảo Tây-sa (Hoàng-sa) và Nam-sa (Trường-sa) thuộc Trung-quốc. Quần đảo Tây-sa, Trung-quốc đã đánh chiếm từ chính quyền Sài-gòn ngày 19-1-1974. Còn quần đảo Nam-sa (Trường-sa), sau ngày 30-4-1975, VN đem quân tới chiếm đóng. Như vậy là VN xâm lăng, lấn chiếm lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc phải nổ súng đuổi quân xâm lược là lẽ thường tình.

Mười cãi:

- Tại Trường-sa còn có quân đội của Phi-luật-tân, Đài-loan, Mã-lai. Tại sao thủy quân Trung-quốc không tấn công vào quân hai nước đó, mà chỉ tấn công vào thủy quân Việt-Nam? Giang cười rằng: Quần đảo này hiện đang trong vòng tranh chấp giữa Trung-quốc với Phi-luật-tân, Mã-lai, nên Trung-quốc không thể tấn công họ, như vậy là bá quyền. Còn quân của Đài-loan ư? Quân Đài-loan cũng là quân Trung-quốc đóng trên lãnh thổ Trung-quốc, nên hải quân Trung-quốc không thể nổ súng, vì như vậy là huynh đệ tương tàn. Mươì cãi rằng : Nhưng tại Trường-sa từ trước đến giờ không hề có quân Trung-quốc đóng. Nay Trung-quốc dùng sức mạnh, chiếm mất mấy đảo của VN, như thế là phi lý.

Giang bèn trả lời rằng :

- Đảng Cộng-sản VN hiện nêu cao việc dùng tư tưởng của Chủ-tịch Hồ Chí Minh, thì đồng chí hãy tuân thủ tư tưởng của Hồ Chủ-tịch, vì chính Hồ chủ-tịch ra lệnh cho đồng chí Phạm Văn Đồng ký văn thư công nhận các quần đảo Nam- hải là của Trung-quốc.

Tôi hỏi :

- Cuộc mà cả cuối cùng ra sao ?

- Cả hai bên đều cù nhầy. Giang thì nhất định không chịu nhượng bộ, vì căn cứ vào văn thư do Phạm Văn Đồng ký năm 1958. Không còn gì để bàn nữa.

Tôi hỏi :

- Thế họ có cãi nhau gì liên quan đến vấn đề Cao-man không ?

- Hỏi thế mà cũng hỏi. Quốc-vương Đỗ triều kiến Thiên-tử Giang mục đích về vấn đề này mà thôi.

- Họ bàn gì ?

- Có bàn cái đếch gì đâu ? Giang chửi Đỗ sai con nuôi là thằng Hun-Sen bóp cổ thằng con lai ngoại hôn Ranariddh của Giang. Như vậy là không tôn trọng những gì cam kết trước đây (3).

- Tại sao Ranariddh lại là con lai ngoại hôn ?

- À xin lỗi, đây là câu nói lóng của bọn tao. Vì khi xưa bọn Lê Duẫn đem quân sang đánh thằng Pol Pot, thì anh chàng Ranariddh đang sống tại Pháp. Anh ta được Pháp giúp đỡ, lập mặt trận, la làng rằng bọn VC nó cướp nước tôi. Vậy có phải mẫu quốc Pháp đẻ ra anh ta không ? Sau khi về nước chấp chính, anh ta đếch có thực lực, anh ta phải ngước đầu nhìn về Thiên-quốc, xin ông bố Đặng Tiểu-Bình giúp đỡ. Thế thì anh ta là đứa con lai, nửa chệt nửa Tây. Khi Trung-quốc thấy cái thằng Pol Pot bị thế giới kinh tởm quá, thì cho nó bệnh(4), rồi đem tất cả lực lượng trao cho Ranariddh, để hợp pháp hóa đám thợ giết người này, hầu giữ chân ở Cao-man. Tưởng như vậy là không ai nói gì được. Nào ngờ thằng cảnh sát quốc tế nó sai Quốc-vương Đỗ Mười đá thằng Ranariddh. Đỗ bèn sai thằng Hun-Sen làm. Đúng ra việc làm của Hun-Sen phải kết tội, mà các cơ quan truyền thông của Mỹ gọi nó là anh hùng. Mẹ kiếp, anh hùng cái mả mẹ nó í. Vì vậy Giang thiên tử mới triệu hồi Quốc-vương, Tể-tướng Ố-nàm sang để tính tội (5).

Tôi cố khai thác :

- Thế Thiên-tử Giang tính tội Đỗ quốc vương ra sao ?

- Người nổi giận, chỉ vào mặt Đỗ quốc vương mắng rằng :

“Đế quốc Mỹ kéo thằng Cao-man, Miến-điện vào ASEAN với mục đích gì ? Các người nhập ASEAN có phải phải các người định dùng quần lang chiến hổ phải không ? Có phải các người dựa vào thằng đế quốc để chống Trung-quốc không ?”.

- Thế bọn Đỗ Mười trả lời sao ?

- Tên Võ Văn-Kiệt trả lời rằng : Khi nhà bị cháy, thì dù nước sông, nước biển, nước cống, nước rãnh gì cũng phải múc mà dập tắt lửa.

- Cuối cùng hai bên thỏa thuận ra sao ?

- Thỏa thuận cái con khỉ tườu. Bọn mặt dầy Mười, Kiệt khi đã bám đít được cái tên cảnh sát quốc tế rồi, thì nó có coi bọn Giang ra cái đếch gì. Mày ở Pháp, thì mày phải biết chứ ? Thằng Mỹ đã huấn luyện mấy trăm sĩ quan của Hà-nội về phối hợp liên quân Đồng-minh (6). Đồng-minh đây là ai ? Nếu không phải bọn ASEAN, bọn Nam-hàn, bọn Nhật-bản, bọn Đài-loan, Thái-lan, Phi-luật-tân ? Phối hợp để đánh ai ? Chống ai ? Nếu không phải là bọn bá quyền Giang ? Hơn hai mươi năm trước, bọn mày bị bọn Mỹ bỏ rơi, bọn Hà-nội được Nga-sô, Trung-quốc giúp, đánh cho thua bét tỹ ra, phải chạy đi khắp nơi. Bây giờ bọn mày là Liên-Âu, là Mỹ rồi, bọn Mười, Kiệt phải quỳ gối trước Liên-Âu, trước Mỹ hát bản nhạc có hai nốt (7). Nay mai, mày về VN, làm cố vấn Mỹ, tha hồ mà hét tụi nó.

- Tao ở Tây, tao có đánh nhau với ai đâu mà thua với được. Tây đếch cố vấn cho ai hết. Vả Tây có cố vấn cho Mười Anh Nông Dân, cũng không bao giờ dùng đến tao (8). Lý do tao là nhà văn, là có nhiều bạn làm ký giả… hơi tý là đem lên báo.

Trong dịp này mấy anh bạn cho tôi xem cuốn vidéo quay quang cảnh buổi họp. Khi tới chỗ Mười bắt tay Giang, thì anh ta bấm nút cho máy dừng lại rồi chỉ vào đôi câu đối treo trên tường :

- Đôi câu đối này chính Giang đưa ra ý kiến, rồi bọn Hoa-kiều bị Lê Duẫn đuổi khỏi VN làm. Mày thử đọc xem, có gì lạ không ?

Tôi đọc :

Nam-thiên đại thiện, nhân nhân thức.

Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.

- Mày hiểu không ?

- Có đếch gì mà không hiểu. Nam-thiên để chỉ VN, đại là lớn. Thiện là vua nhường ngôi cho người hiền. Nhân nhân thức là ai ai cũng biết. Toàn câu này, Giang có ý diễu Đỗ Mười có cai trị dân như bọn phong kiến. Nhưng nay Mười sắp sửa nhường ngôi cho người khác, chứ không có cái vụ bầu bán gì cả.

- Giỏi. Còn câu sau ?

- Bắc-quốc là Trung-quốc. Điền là ruộng. Thăng là lên. Xứ xứ tri, là khắp thế giới ai cũng biết. Toàn câu ngụ ý : Mấy năm nay, ruộng nương Trung-quốc tăng sản lượng cao, phải nhập cảng gạo VN rất ít. Nhưng cũng ngụ ý nói : Nước sông đưa lên ruộng, làm cho dân no đủ, đó là nhờ Giang Trạch Dân. Bởi giang là sông. Trạch là ruộng. Tóm lại hai câu này ngụ ý : Anh là tên phong kiến, đang chuẩn bị nhường chức tổng bí thư cho đàn em. Cả nước VN ai cũng biết. Còn bên Trung-quốc này, ta là Giang Trạch Dân, ta có kế hoạch làm cho nông sản dư thừa, cả thế giới đều biết.

Anh bạn tôi gật đầu :

- Tao cũng nghĩ như thế. Câu đối đó gói ghém nhiều ý thực. Nhưng ở Bắc-kinh này thiếu gì người hay chữ, mà phải nhờ tụi Hoa-kiều ? Bọn tao nghĩ nát óc ra mà không giải thích được. Vậy mày về Pháp, mày thử mò xem, có còn ý khác không ? Nếu mày giải được, thì thư cho bọn tao.

Chú giải đoạn 3 của Văn-nghệ Tiền-phong:

(1) Hai quần đảo mà Trung-quốc, Việt-Nam đang tranh chấp là Hoàng-sa và Trường-sa. Đảo Hoàng-sa người Hoa gọi là Tây-sa. Còn đảo Trường-sa họ gọi là Nam-sa.

(2) Mẩu tin này tiết lộ: Hải-quân Trung-cộng đã tấn công hải quân Việt-cộng trước sau 9 lần, làm hư hại 6 chiến hạm, và 3 chiến hạm chìm, chết mấy trăm người.

(3) Qua tiết lộ này, ta biết trong cuộc họp hồi Mười, Anh, Kiệt sang Trung-cộng mấy năm trước có cam kết rằng VC phải để cho Ranariddh, thân Trung-cộng làm đệ nhất thủ tướng Cao-miên.

(4) Qua tiết lộ này, ta mới biết Trung-cộng đã đầu độc Pol Pot.

(5) Mẩu tin này tiết lộ : Trung-cộng kết tội VC bây giờ làm con hờ của Mỹ. Muốn đá tung cái vòi con bạch tuộc Trung-cộng khỏi Đông-Nam-Á, Mỹ sai VC làm. VC bèn sai đứa con ngoan ngoãn Hun-Sen ra tay. Hèn gì, Mỹ cũng như các nước tự do chỉ phản đối Hun-Sen lấy lệ.

(6) Độc giả ở Hoa-kỳ nào biết rõ ràng về tin này, xin cho chúng tôi biết chi tiết.

(7) Bản nhạc hai nốt : Tiếng lóng của giới bình dân Trung-quốc để chỉ tiền Hoa-kỳ dollar. Hai nốt là đô và la.

(8) Mười Anh Nông Dân để chỉ Đỗ Mười, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh. Dân để chỉ Võ Văn Kiệt, vì Kiệt có bí danh là Sáu Dân.

Anh Hoàng ơi!

Từ hôm về Pháp đến giờ, tôi cứ suy nghĩ mãi về ý nghĩa hai câu trên. Nào chiết tự ? Nào chia chữ. Nào hợp chữ, mà cũng không tìm ra ý nghĩa. Sau, tôi thấy cái vế dưới để nói về Giang, thì tôi nghĩ cái vế trên phải có cái gì nói về Đỗ. Hai câu này do Hoa-kiều làm thì phải có ý nghĩa tiếng Việt ở trong. Mà tiếng Việt thì hay nói lái. Cuối cùng tôi đã tìm ra :

Nam-thiên đại thiện nhân nhân thức,

Bắc-quốc điền thăng xứ xứ tri.

Đại là lớn. Đại thiện là lớn thiện, nói lái của tiếng thiến lợn.

Còn vế dưới điền thăng là thằng điên.

Tóm lại đôi câu đối trên, Giang móc Đỗ Mười là thằng hoạn lợn, là thằng điên.

Vậy hai câu trên bao hàm ba nghĩa khác nhau :

Nghĩa thông thường :

Tại Việt-Nam, Đỗ Mười sẽ nhường ngôi cho đàn em. Ai cũng biết.

Bên Trung-quốc, ruộng nương xanh tốt, gạo dư thừa. Cả thế giới đều hay.

Nghĩa thâm trầm :

Tại Việt-Nam, Đỗ Mười là tên phong kiến, độc tài, đi chệch hướng của chủ nghĩa Cộng-sản, giữ ngôi bí thư như của riêng.

Bên Trung-quốc, Giang là người làm cho dân chúng có đủ lúa, gạo.

Nghĩa bí hiểm :

Tại Việt-Nam Đỗ Mười chỉ là thằng hoạn lợn. Ai cũng biết.

Bên Trung-quốc, người nào cũng biết y là một thằng điên.

Thôi đi xa về kể chuyện cho anh đọc như vậy đủ rồi. Nghe nói hồi này anh hay sang Pháp chơi. Dính Đầm rồi hả ? Báo cho anh biết, cái hũ phó mát Camembert của mấy cô Đầm mà tí toáy vào rồi, thì không bao giờ có thể dứt ra được đâu.

Viết đến đây, tôi cảm thấy ơn ớn lạnh. Chơi với anh gần ba mươi năm gì mà tôi không biết anh. Đe giết anh, anh không sợ. Nhưng không cho anh làm báo thì anh hóa điên. Khi làm báo, thì anh coi độc giả của anh như vua. Cho nên viết thư cho anh, tôi sợ anh đăng tên tôi lên, thì tôi sẽ mất job. Vậy tôi xin hăm trước : Anh mà đăng lên, thì đúng ngày mùng một tết tôi sẽ sang Arlington bẹo tai anh. Tôi nói được thì tôi làm được.

Kính chúc anh khỏe. Cho tôi hôn cháu Thủy-Tiên của chú. Nhớ nó gớm.

Yên-tử cư-sĩ Trần Đại-Sỹ.

Ghi chú của IFA:

Quả nhiên ký giả Hồ Anh cho đăng bức thư này vào Văn-Nghệ Tiền-Phong số xuân Mậu Dần, sau khi đã sửa chữa đi đôi chút, dưới hình thức một người bạn ở Costa Mesa, California, viết thư cho ông. Nhưng đảng Cộng-sản VN cũng đoán ra người viết là ai, nên Yên-tử cư-sĩ mới bị liệt vào một trong 80 tên phản động nhất.
(mevietnam)

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Công hàm PVĐ, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thành tích và Tội ác, Thác Bản Giốc, bán nước cầu vinh, phân chia Vịnh Bắc Việt, thềm lục địa, Ải Nam quan | Leave a Comment »

4. Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam

Posted by tieng_dan on February 8, 2008

II. Hiểm họa trường kỳ của Trung Quốc đối với VN

1- Hiểm họa về an ninh: Thế phong tỏa của Trung Cộng

Trong cuốn “Ðịa Lý Biển Ðông”, tác giả Vũ Hữu San có trình bày một phóng đồ (trang 65) với một viễn tượng vô cùng bi quan một khi Trung Quốc muốn khống chế Việt Nam bằng vũ lực. Trên mặt biển hiện nay Trung Quốc đã có các căn cứ Hải Quân vùng đông nam Trung Quốc sau đây (từ bắc xuống nam):

- Quangzou (gần Hồng Kông)
- Zhanjiang (bán đảo bắc Hải Nam)
- Beihai (Trong vịnh Bắc Việt, gần biên giới Hoa Việt)
- Haikou (phía đông bắc đảo Hải Nam)
- Yulin (phía nam đảo Hải Nam)
- Hoàng Sa.
- Riêng trên quần đảo Trường Sa, Trung Quốc chưa xây được căn cứ Hải Quân, vì đang tranh chấp với các nước. Dù vậy, Trung Quốc đã xây xong một cầu cho chiến hạm cập bến tại bãi Fiery Cross. Tuy nhiên, bản phúc trình của ông Michael Studeman, Hải Quân Thiếu Tá Tình Báo Hoa Kỳ (Naval Intelligence Lieutenant Commander), dưới tiêu đề “Calculating China’s Advances in the South China Sea Identifying the Triggers of Expansionism” có nhắc đến chủ trương của Hải Quân thuộc “Quân Ðội Giải Phóng của Nhân Dân” (People’s Liberation Army Navy – PLAN) như sau:

“In order to make sure that the descendants of the Chinese nation can survive, develop, prosper and flourish in the world in the future, we should vigorously develop and use the oceans. To protect and defend the rights and interests of the reefs and islands within Chinese waters is a sacred mission. . . . The [Spratly] Islands not only occupy an important strategic position, but every reef and island is connected to a large area of territorial water and an exclusive economic zone that is priceless.”

Ðể thực hiện được sách lược trên, PLAN xác quyết:

“The only way to give our maritime defense a solid basis is to intensify our naval buildup and upgrade our naval buildup defense capability. We cannot resolve problems with political or diplomatic measures until we have great naval strength, and only then will it be possible to overcome our enemies without engaging in battles. If intimidation fails to achieve any effects, we would then be able to actually deal an effective blow.”

Bằng vào lịch sử hành động của Trung Quốc 50 năm qua, luôn luôn dùng sức mạnh vũ lực để đạt mục đích tối hậu, viễn ảnh Trung Quốc xây cất quân cảng và căn cứ Hải Quân tại Trường Sa chỉ là vấn đề thời gian. Như vậy, Việt Nam sẽ chịu một áp lực khổng lồ của hải, lục, và không quân Trung Quốc trong tương lai đến từ mọi phía (hình 22). Trong một bản tin của Kanwa News ngày April 14, 1999, bình luận gia Andrei Pinkov đã báo động về việc Trung Quốc đã đẩy nhanh chương trình xây cất hệ thống hỏa tiễn “ground-to-air ” bắn từ đất liền lên không trong kế hoạch phòng vệ không gian. Trung Quốc đã điều nghiên hệ thống chỉ huy C31, bằng vệ tinh không gian (hình 23), đã bắt đầu thiết trí tại một vài căn cứ quân sự và sẽ được hoàn tất cho toàn quốc trong vài năm tới.

Ðầu năm 2000, cơ quan thông tấn AP có đề cập đến dự án xây xa lộ Trường Sơn trên đường mòn Hồ Chí Minh. Tin tức về dự án này làm xôn xao dư luận cộng đồng Việt Nam cũng như quốc tế. Nhiều người lo ngại về ảnh hưởng môi sinh của dự án, như phá rừng, đất lở, lụt lội miền đồng bằng, nhưng không mấy ai để ý đến khía cạnh quân sự. Hiển nhiên, dự án này là kết quả của việc Hà Nội đã ký thuận bản hiệp ước biên giới vào cuối năm 1999. Ðiều đáng chú ý là con đường mòn HCM trong thời chiến chỉ bắt đầu từ Nghệ An, mạn bắc của rặng Trường Sơn, nhưng dự án xây xa lộ mới lại bắt đầu từ tỉnh Lai Châu, tỉnh cực tây bắc của Việt Nam tiếp giáp với Lào và Trung Quốc. Dự án xa lộ chạy qua miệt phía tây rặng Hoàng Liên Sơn, qua phía đông lòng chảo Ðiện Biên Phủ, xuống Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Kontum, Pleiku, Ban Mê Thuột, Tây Ninh, Gia Nghĩa, An Lộc, và nhập vào Quốc Lộ 1 tại Tây Ninh. Quốc lộ 1 chạy từ Bắc dọc duyên hải vào Sài Gòn rồi đổi hướng chạy về phía Tây qua Nam Vang, Cambodia. Như vậy việc chuyên chở từ biên giới cực bắc vào nam sẽ ngắn hơn và thuận tiện hơn quốc lộ 1. Từ đó, người ta có thể suy ra viễn ảnh bán đảo Ðông Dương có thể bị Trung Quốc thôn tính một cách dễ dàng.

2. Hiểm họa về kinh tế: Mất những tài nguyên quan trọng

Từ khi lập quốc đến nay, sinh mệnh dân tộc Việt Nam luôn luôn gắn liền với ngư nghiệp và hải sản. Với sự lấn chiếm của Trung Quốc trên vịnh Bắc Việt, Hoàng Sa, và Tây Sa, nguồn lợi hải sản, ngư sản bị thu hẹp lại khá nhiều.

Vì đáy biển quanh các quần đảo khá cạn và nhiều san hô, nhiều loài cá sinh sản tại các vùng này. Từ nay, nguồn tài nguyên thiên nhiên này đã bị người cướp đoạt và sẽ ảnh hưởng đến sự trù phú của bờ biển Việt Nam.

Hiện nay, nguồn dầu hỏa và khí đốt là năng lượng thiết yếu cho việc phát triển kỹ nghệ và sự phù thịnh kinh tế. Hoàng Sa cũng như Trường Sa là những nơi có túi dầu nằm phía dưới (hình 24). Mất hai vùng này, Việt Nam chỉ còn túi dầu nằm ngoài khơi đảo Côn Sơn mà thôi. Vùng này nằm trong lãnh hải EEZ của Việt Nam. Thế nhưng cũng đã có lần vào năm 1996, một chiếc tàu với dụng cụ rà dầu (oil survey) của Trung Quốc đã bị phát hiện.

3. Hiểm họa về giao thông: Thủy lộ gián đoạn

Bản đồ về thủy lộ của tàu viễn duyên (hình 25) trích từ tài liệu của U.S. Institute for Naval Strategic Studies cho thấy Biển Ðông thủy lộ hàng hải chính cho tàu bè từ các nước nằm trong vùng đông bắc Á Châu chạy xuống vùng Tây Nam. Ðây không chỉ là một hiểm họa riêng cho Việt Nam, mà còn cho cả thế giới, nếu Trung Quốc thành công trong việc phong tỏa toàn vùng biển này như là một “nội hải” (territorial waters) của họ.

Trong một bài báo mới đây của tổ chức U.S. Heritage Foundations, tựa đề “How the Bush Administration Should Handle China and South China Sea Maritime Territorial Disputes”, Sep. 05, 2001, tác giả Dana R. Dillon đã báo động về sự phong tỏa của Trung Quốc trên vùng biển Ðông Hải. Tác giả trích dẫn bản tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền toàn vùng Biển Ðông, trong đó có “Ðiều 64″ như sau:

“The People’s Republic of China reaffirms that the provisions of the United Nations Convention on the Law of the Sea concerning innocent passage through the territorial sea shall not prejudice the right of a coastal state to request, in accordance with its laws and regulations, a foreign state to obtain advance approval from or give prior notification to the coastal state for the passage of its warships through the territorial sea of the coastal state.”

Rõ ràng đó là một sự thách thức công khai đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và với Hạm Ðội Thái Bình Dương của Mỹ nói riêng trong việc hải hành qua Biển Ðông. Hành động kiểm soát và bắt giữ các tàu chở hàng của Việt Nam từ năm 1992 và sự kiện Trung Quốc xây cất trạm hải quân (navy station) năm 1995 tại vùng đá ngầm Mischief Reef nằm trong hải phận EEZ của Phi Luật Tân, đã biểu lộ quyết tâm của Trung Quốc trong việc kiểm soát tàu bè qua lại trong Biển Ðông. Về mặt ngoại giao, Trung Quốc tham dự các cuộc thương thảo và ký vào các giao ước ngăn cấm việc sử dụng vũ lực. Nhưng hành động của họ thì ngược lại và luôn luôn vô hiệu hóa một cách có hệ thống (systematically nullify) bản Luật Biển Liên Hiệp Quốc UNCLOS.

Cũng theo nhận định của bình luận gia Dillon, cho đến nay, các chính phủ Mỹ từ Clinton cho đến Bush vẫn giữ thái độ thụ động ngay cả khi Trung Quốc lấn chiếm một vùng đá ngầm của Phi Luật Tân, một đồng minh của Mỹ. Hoa Thịnh Ðốn vẫn tiếp tục giữ thái độ “trung hòa” (neutrality), từ chối lên án hay phản đối hành động lấn chiếm của Trung Quốc, và chỉ kêu gọi các bên nên tự hạn chế trong việc dùng vũ lực để giải quyết các cuộc tranh chấp. Một trong những suy diễn để giải thích sự thụ động của chính phủ Mỹ là: Hiện nay Washington phải theo chính sách hòa hoãn với Trung Cộng để phân chia nguồn lợi kinh tế từ việc khai thác dầu hỏa, và cũng để nhờ Trung Quốc giúp đỡ trong cuộc chiến chống khủng bố tại A Phú Hãn.

Trong khi đệ nhất cường quốc thế giới ngại phản kháng Trung Quốc như thế, thì các nước ASEAN lại không dám “bênh” nhau hoặc đoàn kết để chống lại Trung Quốc. Nhìn rõ tình trạng hiện nay, mới thấy sự suy luận của một số người Việt Nam cho rằng Hoa Kỳ sẽ không bao giờ để yên cho Trung Quốc thực hiện được mộng bá quyền của họ trên Biển Ðông, để rồi kết luận rằng dân tộc Việt Nam khỏi cần làm gì cả đối với Trung Quốc, quả thật là một sự lạc quan đầy tai hại.

Ðối với Việt Nam, sự phong tỏa ngoài khơi của Trung Quốc về đường biển sẽ làm cho các hải cảng quan trọng như Hải Phòng, Ðà Nẵng, Cam Ranh và Vũng Tàu mất hẳn tầm mức hữu hiệu, khi mà các thương thuyền ngoại quốc muốn đi từ ngoài khơi biển Ðông vào các hải cảng này lại phải “xin phép” Trung Quốc.

4. Hiểm họa về môi sinh: Rủi ro về dầu loang và khí độc

Các cuộc khai thác dầu cặn và khí đốt trong vùng Biển Ðông sẽ phóng ra trên mặt biển nhiều khối lượng dầu thô bị tràn ra cũng như trong không gian các loại khí đốt chưa dùng. Nếu nhà máy lọc dầu và lọc gas được xây cất trên Hoàng Sa và Trường Sa, các chất đổ tràn hay thoát ra từ nhà máy sẽ nhiều hơn. Quanh năm, gió biển thổi vào Việt Nam chỉ có hai chiều: hoặc từ hướng đông bắc trong mùa đông, hoặc từ đông nam trong mùa hè. Gió mùa nào cũng sẽ mang dầu tràn trên biển hoặc khí đốt lan trong không gian vào nội địa Việt Nam. Dầu nổi trên biển sẽ làm ô nhiểm nước biển, sẽ che ánh nắng mặt trời làm cho đáy biển tối tăm và mất đi điều kiện sinh sản. Khí trên không sẽ lẫn vào hơi nước, gặp rặng Trường Sơn, đông lạnh và thành mưa độc trên sinh vật thực vật. Nếu việc khai thác do chính người Việt Nam quản trị, thì vì phúc lợi của dân tộc, chúng ta sẽ thận trọng trong mọi việc phế thải chất độc. Ngược lại, người Trung Quốc sẽ không bao giờ quan tâm đến sự an nguy vủa người Việt Nam.

III. Trách nhiệm của các chính phủ cầm quyền tại Việt Nam trong 50 năm qua

 

Qua những dữ kiện đã được trình bày và phân tích ở các phần trên, chúng ta thấy là Trung Quốc đã bắt đầu thực thi kế hoạch lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam trong hoàn cảnh Việt Nam bị các thế lực quốc tế chia đôi thành hai miền Nam và Bắc. Ðến khi miền Bắc nhờ viện trợ vũ khí của Trung Quốc mà chiếm được miền Nam, thì cuộc bành trướng của Trung Quốc càng gia tăng. Như vậy, trên phương diện lãnh thổ, tuy đảng CSVN tạo được hào quang bề mặt là “thống nhất đất nước về một mối”, song bề trái là “đảng đã hy sinh sự toàn vẹn của đất nước vì mục đích thống nhất đất nước”.

1. Ðảng CSVN hy sinh sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam để đổi lấy quyền lợi cho đảng

So sánh chứng từ của hai văn kiện đã trích dẫn ở phần Hai, mục I:

- Một bên là Bạch Thư (White Paper) của bộ Ngoại Giao Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam) tuyên cáo rằng “hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần bất khả phân của nước VNCH. Chính phủ VNCH sẽ không nhượng bộ trước vũ lực và chịu mất chủ quyền trên các quần đảo này”;

- Một bên là Văn Thư của Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Miền Bắc) “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc”. Văn thư này được giữ bí mật tuyệt đối trước nhân dân cả hai miền, mãi sau này mới bị Trung Quốc đưa ra ánh sáng.

Người ta thấy rõ:

- Trong khi Miền Nam bị khốn đốn vì phải dồn nỗ lực tự vệ chống lại sự xâm lấn của Miền Bắc, thì chính phủ Sài Gòn vẫn cương quyết hy sinh bảo vệ lãnh thổ. Sau khi Hoàng Sa thất thủ, dù bị Ðồng Minh Mỹ bỏ rơi, Miền Nam vẫn bày tỏ quyết tâm tranh đấu quyết liệt và công bố bạch thư đưa vấn đề Trung Quốc xâm phạm chủ quyền ra trước công luận quốc tế.

- Trong khi Miền Bắc tiến hành cuộc nội chiến xâm chiếm Miền Nam với chiêu bài “Chống Mỹ Cứu Nước”, thì hành động của chính phủ Hà Nội lại chứng tỏ “Vì Lợi Bán Nước”, đặt quyền lợi của đảng lên trên quyền lợi của quốc gia và dân tộc.

Tuy nhiên, có người cho rằng việc kết án đảng CSVN “bán nước” là bất công, vì “bộ đội của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN) đã hy sinh xương máu để bảo vệ từng tấc đất trong hai trận chiến năm 1979 tại biên giới Hoa Việt và năm 1988 tại Trường Sa”. Ðây là một lý luận xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về căn nguyên của từng biến cố. Sự thật, những nguyên nhân, diễn biến cuộc chiến cho thấy CSVN quyết chiến không phải vì để bảo vệ đất nước:

- Trên phương diện công pháp quốc tế, hai quốc gia Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập bởi Hiệp Ðịnh Genève, lấy Vĩ Tuyến (Latitude) 17 làm đường ranh giới. Quần đảo Hoàng Sa nằm phía nam Vĩ Tuyến 17 và thuộc chủ quyền của VNCH. Thế nhưng VNDCCH đã gởi văn thư hội ý cho Trung Cộng tiến chiếm Hoàng Sa. Như vậy, đảng CSVN đã toa rập với Trung Quốc, hy sinh sự tòa vẹn lãnh thổ để đổi lấy sức mạnh quân sự tiến hành cuộc xâm chiếm miền Nam.

- Sau khi Miền Bắc chiếm được Miền Nam, đảng CSVN cho quân đến tiếp thu một số đảo trong quần đảo Trường Sa do quân đội của VNCH trấn giữ trước. Ðó là điều dĩ nhiên, vì nguồn lợi dầu hỏa quá to lớn, không thể bỏ được. Trung Quốc liền đòi hỏi Miền Bắc thực thi việc di nhượng lãnh thổ và lãnh hải mà trước kia hai bên đã giao kết trong bí mật.

- Ðảng CSVN vì không muốn bị toàn dân Việt Nam nguyền rủa, nên toan tính bội tín bằng cách dựa vào hiệp ước hỗ tương ký kết với Liên Sô. Vì vậy mới xảy ra vụ Trung Quốc lấn chiếm biên giới Việt Nam năm 1979 và vụ Trung Quốc đánh chìm ba chiến hạm của Hà Nội năm 1988.

2. Ðảng CSVN quá yếu kém trong việc thương thuyết và luôn luôn che đậy sự thật về kết quả

Tiếp theo sụp đổ của Liên Sô vào cuối thập niên 1980’s, đảng CSVN đã hết phương bám víu để chống lại “the Chinese aggression”, nên đổi thái độ, bắt đầu ngoan ngoãn với Trung Quốc. Vì vậy mà có hiện tượng là đột nhiên Bắc Kinh và Hà Nội trở thành thân thiện, bắt đầu thương thuyết với nhau về vấn đề tranh chấp biên giới và hải phận từ đầu thập niên 1990’s đến nay.

Nói là thương thuyết, nhưng thật ra là đảng CSVN đã phải thi hành các điều đã bí mật cam kết với Trung Quốc trong thời chiến để đổi lấy viện trợ quân sự.

Hậu quả như chúng ta đã thấy, là các hiệp ước 1999 và 2000, Hà Nội đã nhượng cho Bắc Kinh vừa lãnh thổ lẫn lãnh hải của Việt Nam.

Tất cả các yêu sách của Bắc Kinh đưa ra trước khi ngồi vào bàn hội nghị, Hà Nội đều phải thỏa thuận lúc ký hiệp ước. Từ vụ Bắc Kinh đòi hỏi chủ quyền ải Nam Quan và một số vùng nằm phía bắc các sông Kỳ Cùng và sông Bằng, cho đến việc xé hiệp ước Pháp Thanh 1887 để ấn định ranh giới lãnh hải mới trong vịnh Bắc Việt để nhượng cả toàn vùng mỏ khí đốt dưới đáy biển cho Trung Quốc, Hà Nội đều triệt để tuân theo. Tất cả các thỏa thuận với Bắc Kinh, Hà Nội giữ bí mật, không bao giờ hỏi ý dân, vì biết rằng sẽ bị dân phản đối.

Các hiệp ước nhượng bộ này chắc chắn vẫn còn tiếp diễn, cho đến khi Việt Nam hoàn toàn bị Trung Quốc khống chế về mọi phương diện, hoặc cho đến khi đảng CSVN không còn quyền hành cai trị đất nước Việt Nam. Trong tương lai gần, Hà Nội sẽ phải nhượng trọn vẹn quần đảo Trường Sa và có thể cả hải phận của đảo Côn Sơn, nơi có mỏ dầu mà Hà Nội đang khai thác, kế thừa khế ước của VNCH. Vì mọi huyết mạch của đảng CSVN đã bị tên phù thủy Trung Quốc nắm lấy, cho sống thì sống, bắt chết cũng không dám cưỡng lại.

Tóm lại trong vụ đánh mất lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam trong 50 năm qua, đảng CSVN là thành phần duy nhất chịu trách nhiệm hoàn toàn trước nhân dân và lịch sử. Bề trái của các hiệp định “hữu nghị hỗ tương giữa hai quốc gia Trung Quốc và Việt Nam” đã bị phơi bày: Ðó là chỉ là phản ảnh của tham vọng bành trướng lãnh thổ của Trung Quốc, và quyền lợi tối thượng của đảng CSVN được đảng đặt trên quyền lợi quốc gia.

Phần Ba: Ðề Nghị

Làm thế nào để đòi lại các phần lãnh hải và lãnh thổ của tổ tiên đã bị mất? Ðó là một câu hỏi cấp thiết đặt ra cho toàn dân Việt Nam trong thời đại này để giải quyết vấn nạn của dân tộc.

Vì đây là một bài biên khảo về vấn đề Trung Quốc xâm phạm biên giới của Việt Nam, nên các phần thu thập dữ kiện và phân tích vấn đề trình bày ở trên được xem là các phần chính yếu. Tuy nhiên, bài viết sẽ được đầy đủ hơn nếu có phần gợi ý về một số giải pháp khả thi cho vấn nạn của đất nước. Ước mong những gợi ý thô thiển này sẽ được các bậc thức giả cũng như các nhà lãnh đạo các tổ chức chính trị lưu tâm tới để triển khai và ứng dụng phần nào chăng.

I. Vô hiệu hóa các hiệp định đã được ký kết

 

1. Những khó khăn về mặt pháp lý

Trong tình huống hiện nay, những ai quan tâm đến vấn đề toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam cũng đều thấy rõ một điều: Các hiệp ước mà nhà nước CHXHCNVN đã chính thức ký kết với Bắc Kinh sẽ khiến cho việc đòi lại chủ quyền trên các vùng đã bị nhượng mất vô cùng khó khăn trên mặt pháp lý quốc tế. Ngày 9-6-2000, “Hiệp ước về Biên Giới Trên Ðất Liền” đã được quốc hội cũ của nước CHXHCNVN thông qua (ratify). Hiện nay hai bên đang thiết lập các bia ghi dấu (monuments) phân định ranh giới. Thế nhưng tin tức này vẫn còn bị bưng bít ở trong nước, thậm chí đảng viên thâm niên như ông Ðỗ Việt Sơn vẫn chưa biết và vẫn kêu gọi quốc hội mới đừng thông qua. Cho đến nay, chưa có tin tức về Hiệp Ước Phân Ðịnh Vịnh Bắc Bộ được quốc hội thông qua hay chưa. Nhưng bằng vào các sự “giao hảo” giữa hai chính phủ và sự “thăm viếng” qua lại liên miên của các giới chức thẩm quyền cao cấp nhất của hai bên trong thời gian tám tháng vừa qua, có lẽ quốc hội hai bên sẽ thông qua hiệp ước vịnh Bắc Việt trong khóa họp cuối năm 2001 hay đầu năm 2002.

Sự trì hoãn của quốc hội mới CHXHCNVN về việc thông qua Hiệp Ước Phân Ðịnh Vịnh Bắc Bộ rất có thể là hậu quả của vụ đại hội 9 của đảng đã bất ngờ thay thế Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu, người được Giang Trạch Dân, chủ tịch đảng cộng sản Trung Quốc, công khai ủng hộ trong khi đại hội 9 của đảng CSVN nhóm họp.

Cũng có thể sự trì hoãn này đã xảy ra là do sự lên tiếng phản đối của một số đảng viên CSVN và các trí thức trẻ trong nước. Gần đây, đảng viên Ðỗ Việt Sơn, 78 tuổi đời, 54 tuổi đảng, đã viết thư phổ biến trên các hệ thống mạng lưới truyền tin, đề nghị tân chủ tịch quốc hội CHXHCNVN Nguyễn Văn An “không cho quốc hội thông qua hiệp định biên giới Việt – Trung, cả trên đất liền và trên biển, đảm bảo quyền lợi cho Tổ quốc và danh dự dân tộc”. Tiếp theo, Lê Chí Quang, 30 tuổi, tốt nghiệp cử nhân Luật tại Ðại Học Hà Nội cũng viết bài đăng trên mạng lưới điện toán báo động về “hiểm hoạ Bắc Triều” và đặt câu hỏi “liệu tân tổng bí thư Nông Ðức Mạnh có đứng vững được trước làn sóng xâm lăng từ Phương Bắc không?” Lê Chí Quang có vẻ là một thanh niên nhiệt huyết và can đảm. Anh đã nêu một câu nói của cổ nhân Hàn Phi Tử để kết luận cho bài viết của anh “Nước mất, mà không biết là bất tri; biết mà không lo liệu là bất trung; lo liệu mà không liều chết là bất dũng.”

2. Nhiệm vụ của các thành phần yêu nước tại quốc nội

Nếu các phỏng đoán trên (về ảnh hưởng của các phản kháng đã khiến quốc hội trì hoãn sự thông qua hiệp định vịnh Bắc Việt) là đúng, thì các thành phần tiến bộ ở trong nước phải ý thức nhiệm vụ quan trọng của họ. Họ nên hiểu rõ rằng đảng CSVN là kẻ sang nhượng đất nước cho ngoại quốc; và rằng họ không thể hy vọng gì ở sự phục thiện của bộ Chính Trị đảng CSVN. Một trong những định hướng mà họ nên nghĩ tới là phải vô hiệu hóa các hiệp định mà đảng đã ký kết. Muốn vô hiệu hóa các hiệp định đó, họ phải loại bỏ tư cách chính danh của đảng CSVN trong vấn đề sang nhượng lãnh thổ của Việt Nam cho ngoại quốc. Từ định hướng này, họ có thể vận động, hướng dẫn dân chúng đồng loạt phủ nhận tính cách đại diện nhân dân của đảng.

Loại bỏ tính cách đại diện nhân dân của đảng CSVN là giải pháp lý tưởng nhất. Nhưng giải pháp này đòi hỏi những người can đảm như Lê Chí Quang, Ðỗ Việt Sơn phải thể hiện lời nói hiên ngang của mình bằng hành động. Nếu không làm được như thế thì ít nhất họ cũng có thể hướng dẫn quần chúng làm một số hành động cụ thể sau đây:

- Ðồng loạt đặt vấn đề với quốc hội và yêu cầu quốc hội rút lại sự thông qua hiệp ước nhượng đất năm 1999, cũng như từ chối thông qua hiệp ước nhượng biển năm 2000.
- Ðồng loạt ký tên vào các thỉnh nguyện thư do các mạng lưới hải ngoại đưa lên để tranh đấu với Trung Quốc trên bình diện quốc tế.

II. Vận động thế giới ngăn chận Trung Quốc lấn chiếm các lân bang

 

1. Vai trò của các tổ chức Phi Chính Phủ (Non-Government Organizations – NGO) của người Việt hải ngoại

- Ðặt vấn đề chủ quyền của dân tộc Việt Nam tại LHQ.
- Vận động chính giới tại các quốc gia tôn trọng công lý và hòa bình, đặc biệt là Hoa Kỳ và các quốc gia Âu Châu lên tiếng về bản văn gọi là “Luật Biển Của Trung Hoa Cộng Hòa Quốc”, đồng thời áp lực Trung Quốc tôn trọng Luật Biển Liên Hiệp Quốc.
- Vận động các quốc gia ASEAN, cùng với các quốc gia trong vùng Thái Bình Dương ra tuyên cáo chung không chấp nhận Trung Quốc xem Biển Ðông là nội hải của họ.
- Vận động toà án quốc tế cứu xét vụ án Trung Quốc cưỡng chiếm Hoàng Sa và xâm lấn Trường Sa của Việt Nam.
- Phát động phong trào ký thỉnh nguyện thư yêu cầu LHQ và chính phủ Mỹ can thiệp vào tình trạng lấn chiếm của Trung Quốc. Mặc dù Luật Biển Liên Hiệp Quốc bị xem thường, Liên Hiệp Quốc chỉ cứu xét khi có sự khiếu nại mang tính cách chính thống, hoặc từ một chính phủ quốc gia, hoặc từ một tổ chức phi chính phủ (NGO)
- Thành lập một mạng lưới diễn đàn truyền thông quốc tế để kết hợp các nỗ lực đấu tranh chống lại sự tuyên truyền trên mạng lưới quốc tế của Trung Quốc và để hướng dẫn người dân trong và ngoài nước ký vào thỉnh nguyện thư bằng internet.

2. Vai trò của các hội chuyên gia và kỹ thuật trong và ngoài nước

- Thu thập tài liệu và nhật tu các tin tức mới liên hệ đến các cuộc tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải tại vùng Ðông Dương.
- Chuyển ngữ các tài liệu ra nhiều thứ tiếng.
- Tổ chức các cuộc hội thảo với dân tộc láng giềng có quyền lợi tại Biển Ðông.
- Hợp tác, cung cấp trao đổi tài liệu quốc nội và quốc tế qua phương tiện mạng lưới điện toán.

III. Thành lập một liên minh dân tộc để bảo vệ bờ cõi Việt Nam trong lâu dài

 

1. Quan niệm chỉ đạo cho Liên Minh Dân Tộc Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam

- Xác định mục đích: Liên Minh Dân Tộc Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam nhằm mục đích đòi Trung Quốc trả lại các phần lãnh thổ và lãnh hải đã bị đảng CSVN di nhượng từ 50 năm qua.
- Liên Minh Dân Tộc Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam vận dụng mọi thành phần dân tộc trong và ngoài nước trong thế hỗ tương, ngoại trừ thành phần lãnh đạo đảng CSVN vì họ đã chứng tỏ là không quan tâm đến quyền lợi của đất nước bằng quyền lợi của đảng.

2.- Vị trí đấu tranh của Liên Minh Dân Tộc Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam

- Liên Minh Dân Tộc Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam được tiến hành song song với phong trào đấu tranh hiện nay cho nhân quyền, dân chủ, và phong trào chống tham nhũng tại Việt Nam.

3.- Trách nhiệm và đặc tính của Liên Minh Dân Tộc Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam

- Phối hợp hoạt động của mọi tổ chức và cá nhân quan tâm đến sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

- Hoạt động công khai trong và ngoài nước.
- Phổ biến rộng rãi tình trạng biên giới Việt Nam hiện nay đến báo chí và dư luận trong nước.

Kết Luận

“Nếu người Việt Nam không lo, ai lo? Nếu không lo bây giờ, bao giờ?”

Trước hiểm họa bị diệt vong hay đồng hóa tương tự như Tây Tạng, số phận của dân tộc hoàn toàn tùy thuộc vào ý thức trách nhiệm của mọi thành phần quan tâm đến sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, trong cũng như ngoài nước. Dĩ nhiên, mọi người Việt Nam đều ý thức rằng việc bảo vệ bờ cõi đất nước là một bổn phận truyền thống của tiền nhân để lại cho hậu duệ. Vì là một bổn phận truyền thống, nó phải được đặt cao hơn mọi ý thức chính trị và quyền lợi của mọi đảng phái.

Ở trong nước, một số đảng viên CSVN cũng như những trí thức trẻ đã thấy rõ lãnh đạo đảng CSVN chỉ vì quyền lợi của đảng và của cá nhân họ mà làm tiêu hao tài sản của tổ quốc. Với những phương tiện truyền thông hạn hẹp, họ gióng lên những tiếng chuông cảnh tỉnh quốc dân. Tuy nhiên, để tránh bị buộc vào trọng tội “phản động, phản cách mạng” và hy vọng sẽ không bị trừng phạt, đàn áp bởi những kẻ đang có quyền thế, họ đã miễn cưỡng kèm theo lời ca ngợi công lao “chống Mỹ cứu nước” của đảng CSVN. Họ mong chờ gì ở người tập thể Việt hiện đang sống lưu vong tại hải ngoại, vốn là nạn nhân của công cuộc “chống Mỹ” ấy? Hình thức đấu tranh của họ lại mâu thuẫn với những gì họ đã biết rõ: Dù trong lòng đã bất tín nhiệm đảng CSVN, nhưng vì sợ bị đàn áp khốc liệt, họ vẫn phải tiếp tục công nhận tính cách chính danh và tư thế lãnh đạo của đảng.

Ở hải ngoại, một số cá nhân hay hội đoàn đã và đang báo động về hiểm họa lấn chiếm của Trung Cộng. Ða số các đoàn thể đấu tranh cách mạng đều nhận rõ “lãnh đạo đảng CSVN bán nước”. Khởi đi từ nhận thức này cùng nhu cầu canh tân xứ sở, các nỗ lực đấu tranh giải trừ chế độ CSVN đang được đặt lên ưu tiên hàng đầu. Tuy vậy, trên thực tế, chính vì sự khác biệt trong đường lối và ưu tiên đấu tranh, từ đó nảy sinh sự hoài nghi, bất tín nhiệm lẫn nhau. Vì vậy, việc thi hành bổn phận bảo vệ bờ cõi trở thành đơn lẻ.

Trong bối cảnh thiếu vắng một phối hợp toàn diện cho dân tộc, người viết xin chấm dứt bài viết bằng một câu hỏi dài, hướng về quý vị thức giả nặng lòng với Tổ quốc, các nhà cách mạng chân chính, các chiến lược gia lỗi lạc, và các thanh niên nhiệt huyết hậu duệ của Quốc Tổ Hùng Vương:

- Có thể nào, một liên minh dân tộc được thành hình, có một sách lược vượt lên trên mọi khuynh hướng chính trị đương thời, kết hợp được các thế đấu tranh của mọi người Việt trong và ngoài nước, để cùng theo đuổi một mục tiêu chung là đòi lại sự vẹn toàn lãnh thổ và lãnh hải cho dân tộc Việt Nam đã bị mất vào tay Trung Quốc, hay không?

Nguyễn Ðình Sài


Tài Liệu Tham Khảo

 

- Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Bộ Giáo Dục Trung Tâm Học Liệu VNCH, 1971
- Vũ Nguyệt Minh, Nước Tôi Dân Tôi, Cơ Sở Ðông Tiến, tháng 11, 1989
- BBC News, “Hope For Vietnam China Sea Dispute”, 26-9-2000
- Vũ Hữu San, Ðịa Lý Biển Ðông với Hoàng Sa và Trường Sa, Hương Quê, 1995
- Jane’s Intelligence Review, “A Code of Conduct for the South China Sea”, Oct 27, 2000
- Datacom Ad Network, “China, Vietnam Pledge To Resolve Border Dispute”, Apr 5, 2000
- Heritage Public Relations, “US Must Dispute Beijing’s Claims To The South China Sea?”, Sep 07, 2001
- Vietnam-Related General News, “Vietnam, China To Speed Tonkin Gulf Demarcation”, May 12, 2000
- Cameron W. Barr, “Old Foes Vietnam and China Cautiously Rebuild Ties”, The Christian Science Monitor, Oct 3, 1997
- Scott Snyder, The South China Sea Dispute: Prospects For Preventive Diplomacy, U.S Institute Of Peace Special Report, 1997
- John Pike, “Spratly Islands”, Federation Of American Scientists Military Analysis Network, Jan 30, 2000
- White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands, Republic of Vietnam, Ministry of Foreign Affairs, Saigon 1975, Paracel Forum
- Proclamation by the Government of the Republic of Vietnam dated February 14, 1974, Paracel Forum
- Dana R. Dillon, “How the Bush Administration Should Handle China and South China Sea Maritime Territorial Dispute” The Heritage Foundation, Sep 5, 2001
- Robert Storey & Daniel Robinson, Vietnam, Lonely Planet Book, 1995
- Bruce Elleman, “Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict”, Apr 20, 1996
- Michael Studeman, “Calculation China’s Advances in the South China Sea, Identifying the Triggers of “Expansionism”, US Navy NWC Review, 1998
- King C. Chen, China’s War With Vietnam, Standford, CA, Hoover Institution, 1987
- Felix K. Chang, “Beijing’s Reach In The South China Sea”, ORBIS, Summer 1996
- Trần Ðại Sỹ, “Bí Ẩn Về Việc Ðảng CSVN, Lãnh Ðạo Nhà Nước Cắt Lãnh Thổ, Lãnh Hải Cho Trung Quốc”, Nguyệt San Việt Nam Online, BC, Canada
- Marwyn S. Samuels, Contest For The South China Sea, Mathuen & Co, New York & London, 1982: 110-117
- CIA – The World Factbook – Paracel Islands
- Carlyle A. Thayer, “Chronology of Key Events”, Pacific Forum CSIS, 1999 – 2001
- Paracel Forum The Discussion Proceeds For Peace, “Vietnam Distances Itself From Spratly Islands Report.
- Vietnamnavy.com/hoangsa.html: Hà Văn Ngạc, “Những diễn biến đưa tới trận chiến Hoàng Sa”, 1998; Vũ Hữu San “Sau 24 Nam Nhớ Về Hải Chiến Hoàng Sa”, 1998; Trần Ðỗ Cẩm, “Trận Hải Chiến Tại Quần Ðảo Hoàng Sa”; Trần Ðỗ Cẩm, “Tình Hình Chiếm Ðóng Tại Quần Ðảo Trường Sa”, 2000
- BBC News Online, “China Ends Huge Mine Clearing Programme,” Asia-Pacific, Aug. 12, 1999
- BBC News Online, “China Clears Thousands of Landmines on Vietnamese Border”, Jan. 6, 1998
- Rod Paschall, “The Bloodshed In South-east Asia”, The Quarterly Journal of Military History, Nov. 14, 1999
- Trade and Environment Database Project, “Spratly Islands Dispute (Spratly Case No. 325)”, Apr 30, 1996
- U.S. International Institute for Strategic Studies (IISS – FAS), Jan 30, 2000
- Andrei Pinkov, “China’s Plans to Develop the National-Class C31 System”, Kanwa News April 14, 1999
- Luke T. Chang, China’s Boundary Treaties and Frontiers Disputes, New York: Oceana Publications, 1982

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thác Bản Giốc, Ải Nam quan | Leave a Comment »

3. Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam

Posted by tieng_dan on February 8, 2008

 

Phần Hai: Phân Tích

 I. Các cuộc nhượng bộ của Hà Nội đối với Bắc Kinh

Viết về các cuộc thương thảo giữa Bắc Kinh và Hà Nội không đơn giản và dễ dàng. Lý do chính là Hà Nội giữ nội dung các cuộc thương thảo vô cùng bí mật. Ðảng CSVN lúc nào cũng tự xem là đại diện nhân dân, nhưng không bao giờ hỏi ý hay báo cáo cho nhân dân được rõ. Các tài liệu, vì thế phần lớn được sưu tầm từ báo chí quốc tế hay thư khố Trung Quốc. Ta có thể suy đoán rằng đảng CSVN phạm nhiều trọng tội đối với nhân dân nên phải triệt để dấu kín những gì đã thỏa thuận đối với Trung Quốc. Ðiều này sẽ được trưng dẫn trong phần này. Tuy nhiên, trước hết ta hãy tìm hiểu về những nguyên nhân bề mặt cũng như bề trái của Trung Quốc khi xâm lấn lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam.

1- Tham vọng bá quyền của Trung Quốc

- Bành trướng biên giới lãnh thổ

Khi cử đại quân xâm lấn bờ cõi Việt Nam, Bắc Kinh đã đưa ra một số lý do mà họ cho là “tự vệ chính đáng”, như sau:

* Cảnh cáo Hà Nội không được nuôi tham vọng thôn tính Lào và Campuchia. Vào thời gian đó đảng CSVN đã cho quân tràn sang đánh đuổi Polpot, thủ lãnh Khemer Ðỏ thân Trung Cộng nói là để cứu dân campuchia khỏi nạn diệt chủng. Ở Lào, CSVN cũng đã thiết lập một chính phủ thân Hà Nội. Ðối với Bắc Kinh, thế liên hiệp ba nước Việt Miên Lào có nguy cơ trở thành liên bang Ðông Dương sẽ ngăn chặn mộng bá quyền của Trung Quốc về phía nam.

* Phá vỡ thế liên hiệp hỗ tương giữa Liên Sô và Việt Nam. Ngày 3 tháng 11, 1978, Moscow và Hà Nội ký hiệp ước quốc phòng, mở đầu cho sự hiện hữu thường trực của quân đội Soviet Union (Liên Sô) tại hải cảng Cam Ranh. Theo tài liệu chính phủ Mỹ, bắt đầu từ tháng 9-1978, Liên Sô bắt đầu gia tăng việc chuyên chở vũ khí cho Việt Nam cả đường biển lẫn đường bay (Bruce Elleman, “Sino-Soviet Relations” 20 April 1996.) Ðây là thế gọng kềm chiến lược mà Bắc Kinh rất lo sợ. Trong khi đó cuộc tranh chấp biên giới giữa Liên Sô và Trung Quốc vào cuối thập niên 60 càng ngày càng thêm căng thẳng. Như vậy, cuộc xâm lấn biên thùy Việt Nam của Trung Quốc còn có hai mục tiêu chiến lược. Một là biểu thị cho Hà Nội thấy rằng “sự cam kết của Soviet trong việc bảo đảm yểm trợ quân sự cho Việt Nam” chỉ là một điều không tưởng. Hai là giải đáp bài toán cân não: Soviet có thật sự là một siêu cường đáng sợ không, hay chỉ là một con gấu giấy “paper polar bear”. Ðiều đáng lưu ý là: Sau cuộc lấn chiếm biên giới Việt Nam từ 15 tháng 2 đến 4 tháng 3, 1979, gần một tháng sau, ngày 3 tháng 4, Bắc Kinh tuyên bố chấm dứt Hiệp ước Liên Sô – Trung Quốc ký năm 1950 về Hữu Nghị, Liên Minh, và Hỗ Tương giữa hai nước.

* Cảnh cáo Hà Nội áp dụng chính sách “kỳ thị” với người Hoa Kiều sinh sống lâu đời tại Việt Nam như ở Chợ Lớn, Hải Phòng, v.v…, Từ đầu năm 1978, trên nửa triệu người Việt gốc Hoa đã phải ra đi “vượt biên bán chính thức”, để lại nhà cửa, gia tài, của cải cho đảng viên cao cấp đảng CSVN thu gom và chia chác.

Tuy nhiên, những lý do “tự vệ” hay “công đạo” mà Trung Quốc nêu ra chỉ là vỏ bọc của một âm mưu thâm độc, và cuộc lấn chiếm biên thùy Việt Nam chỉ là bước đầu của một kế hoạch “Ðại Trung Quốc” mà Bắc Kinh bắt đầu theo đuổi từ thập niên 50.

Năm 1950, một năm sau ngày dành được đất nước từ tay Tưởng Giới Thạch và Trung Hoa Quốc Dân Ðảng để chính thức thành lập nước Trung Hoa Cộng Hòa Nhân Dân Quốc, Trung Quốc đã công bố một bản đồ rộng lớn (hình 15: “Paracels Forum”, Muzi Daily News, 6/26/01), bao trùm một phần lớn các quốc gia tiếp giáp với Trung Quốc như: (tính từ Tây bắc theo chiều kim đồng hồ) Mongolia, East Russia, Ðại Hàn, Việt Nam, Lào, Miên, Thái Lan, Tây Tạng, Miến Ðiện, Bhutan, Nepal, một phần nhỏ của Ấn Ðộ, Pakistan, và Kyrgyzstan. Ðây là một sự kiện chưa hề được ghi lại trong tài liệu thư khố ở bất cứ quốc gia tây phương nào. Bắc Kinh chỉ tuyên bố mơ hồ rằng biên giới và lãnh hải này có từ thời nhà Hán (khoảng thế kỷ thứ 2 trước Công Nguyên).

- Bành trướng lãnh hải

Theo bản đồ với những ghi chú bằng chữ Trung Hoa, thì Trung Quốc không những dành chủ quyền cả các biển tiếp giáp với Trung Quốc như Korea Bay, Yellow Sea (bắc Thượng Hải), East China Sea (Bao gồm Ðài Loan), South China Sea (Biển Ðông của Việt Nam), mà còn lấn sang cả Vịnh Thái Lan, và một phần của Ấn Ðộ Dương nữa.

Trong một tài liệu khác (hình 16) từ U.S. International Institute for Strategic Studies (IISS – FAS, January 30, 2000), Mao Trạch Ðông đã chỉ thị cho Chu Ân Lai ra tuyên cáo xác nhận chủ quyền trên toàn thể “Nanhai” là “nội hải”, và hai quần đảo “Xisha” và “Nansa” là lãnh thổ của Trung Quốc. Hình 17 là bản đồ chín gạch do Bắc Kinh phổ biến.

Mặt khác, cũng theo thống kê của IISS, Trung Quốc đang nuôi dưỡng một đạo quân gần 3 triệu người. Với một lực lượng hùng hậu như vậy, cộng thêm tham vọng bành trướng lãnh thổ bằng vũ lực, Trung Quốc là mối đe dọa sinh tử hàng đầu cho các nước trong vùng Ðông Nam Á, nhất là Việt Nam. Hiện nay, Trung Quốc theo chiến lược lấy sức mạnh để uy hiếp từng nước yếu, chỉ chịu thương thuyết song phương mà không chịu thương thuyết đa phương, không để các nước đưa Trung Quốc vào thế “mãnh hổ nan địch quần hồ.”

Trong khi đó, đảng CSVN đã đối phó như thế nào trong các vụ thương thảo với Trung Quốc từ trước đến nay? Họ đã “đối phó” bằng cách nhượng bộ tiên tục để trục lợi và củng cố thế lực của đảng. Ðây là vấn đề sẽ được phân tích kế tiếp.

2- Những nhượng bộ của Hà Nội

- Nhượng bộ quần đảo Hoàng Sa

Năm 1974, khi Trung Cộng tiến chiếm Hoàng Sa và VNCH chống trả mãnh liệt, thì Hà Nội hoàn toàn im lặng.

Năm 1975, VNCH ban hành bạch thư và tuyên cáo xác nhận chủ quyền trên hai quần đảo với quyết tâm bảo vệ bờ cõi. Bản tuyên cáo có đoạn mở đầu như sau:

“Bổn phận cao cả và cấp bách nhất của một chính phủ là bảo vệ chủ quyền, độc lập, và sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa quyết tâm thi hành bổn phận này, mặc cho bao khó khăn gặp phải và mặc cho những trở ngại đến bất cứ từ đâu.

Ðối diện với cuộc lấn chiếm bằng vũ lực bất hợp pháp của Trung Cộng trên quần đảo Hoàng Sa, một phần của lãnh thổ nước Việt Nam Cộng Hoà, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa thấy cần tuyên cáo trước dư luận thế giới, bạn cũng như thù, rằng:

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần bất khả phân của nước VNCH. Chính phủ VNCH sẽ không nhượng bộ trước vũ lực và chịu mất chủ quyền trên các quần đảo này.”

(“The noblest and most imperative task of a Government is to defend the sovereignty, independence and territorial integrity of the Nation. The Government of the Republic of Vietnam is determined to carry out this task, regardless of difficulties it may encounter and regardless of unfounded objections wherever they may come from.

In the face of the illegal military occupation by Communist China of the Paracels Archipelago which is an integral part of the Republic of Vietnam, the Government of the Republic of Vietnam deems it necessary to solemnly declare before world opinion, to friends and foes alike, that:

The Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) archipelagoes are an indivisible part of the territory of the Republic of Vietnam. The Government and People of the Republic of Vietnam shall not yield to force and renounce all or part of their sovereignty over those archipelagoes.”)

Trong khi đó, Hà Nội vẫn giữ thái độ im lặng, vì Hà Nội đã có quá nhiều thương lượng và nhượng bộ bí mật từ trước, mãi sau này mới lộ ra.

Những nhượng bộ của đảng CSVN đối với Trung Quốc có thể được truy nguyên từ lòng ham muốn “thống nhất lãnh thổ” của đảng từ năm 1950, khi hai nước Trung Quốc và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ký hiệp ước hữu nghị và hỗ tương. Từ đó đến 1975, Bắc Kinh đã viện trợ cho Hà Nội trên 20 tỷ Mỹ Kim (King C. Chen, Chiana’s War with Vietnam). Ðương nhiên, Hà Nội phải trả nợ bằng cách này hay cách khác. Tiền và tài nguyên không có để trả thì phải trả bằng lãnh hải và lãnh thổ, nhất là lãnh thổ đang nằm trong vòng kiểm soát của Việt Nam Cộng Hòa.

Dấu hiệu khởi đầu của hành động “trả nợ” này là văn thư nhượng đảo và nhượng biển của Thủ Tướng VNDCCH Phạm Văn Ðồng, ký ngày 14-9-58, để đáp ứng với bản tuyên bố về lãnh hải và “bản đồ chín gạch” (the nine dash map – hình 17) của Trung Quốc ban hành 10 ngày trước đó, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và một lãnh hải bao bọc gần hết bờ biển Việt Nam, lan ra tận Phi Luật Tân, chạy dài xuống tận bờ biển Nam Dương, Mã Lai. Ðọc câu đầu của văn thư Phạm Văn Ðồng gởi cho Chu Ân Lai (hình 18) “Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.” Người ta thấy ngay đã có sự thương thảo và thỏa thuận bí mật giữa Bắc Kinh và Hà Nội từ nhiều ngày trước, và sự di nhượng đất nước Việt Nam phát nguyên từ tham vọng thống nhất đất nước của Ðảng CSVN.

- Nhượng bộ biên giới Hoa Việt 1979

Như các phần trên đã trình bày, trận xâm chiến của Trung Quốc vào biên giới phát nguyên từ nhiều nguyên do, trong đó, tham vọng lấn chiếm và thôn tính các nước láng giềng là động cơ thầm kín còn mục tiêu phá vỡ hiệp ước liên kết của Liên Sô – Việt Nam ký vào năm 1978 là lý do bên ngoài. Dĩ nhiên, vì đã lỡ chọn theo Liên Sô và trở thành kẻ thù của Trung Quốc, Hà Nội phải kháng cự vì sự sống còn của chế độ, chứ không phải để bảo toàn đất nước. Bằng cớ CSVN xem nhẹ về sự vẹn toàn lãnh thổ được nêu lên bằng một chuỗi thảo luận và tương nhượng sau khi Trung Cộng rút quân về.

Kết quả sau 15 lần thương thảo là việc CSVN thỏa thuận nhường cho Trung Quốc 720 km vuông ở vùng Lạng Sơn mà nhiều cán bộ CSVN trong nước đã tố cáo lãnh đạo đảng. Nhưng diện tích này chỉ tính ở biên giới Nam Quan vùng Ðồng Ðăng tỉnh Lạng Sơn mà thôi. Theo tài liệu từ Trung Quốc mà giáo sư Trần Ðại Sỹ thu thập, thì cổng Hữu Nghị đã bị dời về phía nam, cách ải Nam Quan 5 cây số, và nằm trong địa phận của quận Ðồng Ðăng (hình 19). Hiện nay, trạm ga xe lửa xuyên quốc gia đặt tại Ðồng Ðăng là trạm kiểm soát của hai bên (hình 20 – Vietnam and China Rebuild Ties, The Christian Science Monitor – International, Oct 3, 1997).


Ðó là chưa kể bề dày của biên giới mới khoảng 600 m cũng nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Du khách từ nước này phải đi bộ giữa 2 trạm mới qua được biên giới nước kia.

Trên thực tế, diện tích đất đai mất mát lên hàng ngàn cây số vuông, nếu tính cả các vùng phải di nhượng ở Cao Bằng và Lào Kay. Theo tài liệu Pacific Forum CSIS Comparative Connections, cuộc thương thảo lần cuối (thứ 15) giữa hai bên Việt Hoa kéo dài một tháng từ 22-6 đến 22-7-1999. Hai bên nỗ lực làm việc để kịp thời hạn ký kết hiệp ước vào cuối năm theo lệnh của các chủ tịch đảng. Mất thời gian nhất là một số “bất đồng ý kiến về ranh giới trong 76 vùng tranh chấp”. Lược qua các ghi chép (chronology) của CSIS về các cuộc thăm viếng qua lại giữa đôi bên, hay các cuộc thảo luận song phương, người ta thấy rất rõ là Hà Nội luôn luôn ở thế bị động và sau những lần dằng co từ chối, đều phải chấp nhận những đòi hỏi của Bắc Kinh. Kết quả, hiệp ước biên giới song phương đã được bộ trưởng ngoại giao Tống Gia Xuân và Nguyễn Mạnh Cầm ký vào ngày cuối năm (30-12-1999). Ngày 29-4-2000, quốc hội Trung Quốc thông qua hiệp ước; ngày 9 tháng 6, 2000, quốc hội CSVN cũng thông qua. Hiển nhiên là hai bên đều được lợi: Trung Quốc được chủ quyền các vùng đất huyết mạch kiểm soát phía bắc ngạn các sông Kỳ Cùng và sông Bằng, hầu có thể mở tung cánh cửa vào phía nam, mà mấy ngàn năm qua các cuộc xâm lăng từ phương Bắc thường bị chặn vì địa thế hiểm trở.

Khi đất đã nhượng thì cũng nhượng luôn cả dân bản xứ, ai không muốn sống trong vùng quản chế của Trung Quốc thì được giúp đỡ tái định cư trên đất hoang ở ranh giới phía nam các sông Kỳ Cùng và sông Bằng.

Khi nhượng đất như thế thì Hà Nội được lợi gi? Theo tiết lộ của nhật báo Xinhua, món lợi đưa đến từ cuộc di nhượng đất đai này là việc giao thương lên đến hàng tỷ mỹ kim và việc Bắc Kinh viện trợ cho Hà Nội xây dựng các dự án kỹ nghệ về thủy lực (hydropower), thép, hơi đốt, phân bón và quặng nhôm (bauxite).

Có người đặt vấn đề rằng nếu Hà Nội phải hy sinh vài ngàn cây số đất hoang mà được viện trợ như thế thì đó là việc “thuận mua vừa bán” và việc “bán nước” không còn là một “tội” như những người khác buộc. Lý luận như thế có hai điều không chỉnh: Thứ nhất, đất nước là của dân tộc, không phải của bất cứ một chế độ nào. Chế độ không có quyền cắt nhượng đất đai của dân tộc cho người để được lợi trong thời đại của mình. Thứ hai, lý luận “thuận mua vừa bán” mặc nhiên chấp nhận tính cách đổi chác của Bắc Kinh trong việc “mua” đất của dân tộc Việt Nam bằng một cái giá được nhà cầm quyền CSVN chấp nhận, do đó sẽ rất khó cho dân tộc Việt Nam đặt vấn đề bất công để đòi lại sau khi chế độ hiện hữu cáo chung. Thực tế cho thấy Bắc Kinh vừa dùng vũ lực, vừa mua chuộc, vừa gạt gẫm lãnh đạo Hà Nội để chiếm cho bằng được các vùng đất có quặng mỏ quý và có địa lợi chiến thuật, làm đầu cầu xâm lược sau này. Trong bản tường trình của Giáo sư Trần Ðại Sỹ, ông đã nêu lên những “nghi vấn” về vụ một số nhân vật lãnh đạo cao cấp “thân Nga chống Hoa” đã bị đầu độc, trở thành “bán thân bất toại.” Nếu những nghi vấn này có thật, thì cũng chẳng bao giờ có thể trở thành những vụ án được cứu xét. Trong chế độ cộng sản, không bao giờ có “công lý” cho người ngã ngựa.

- Nhượng bộ một phần vịnh Bắc Việt

Vụ nhượng đất vừa xong thì tiếp đến vụ sang nhượng một phần biển trong vịnh Bắc Việt (Tonkin Bay). Theo Luke T. Chang, (China’s Boundary Treaties and Frontiers Disputes), hiệp ước Pháp – Thanh được ký kết tại Bắc Kinh trên 100 năm trước, ngày 26-6-1887, có ghi rõ đường phân ranh giới hải phận EEZ (Exclusive Economic Zone) trong vịnh Bắc Việt được lấy theo đường kinh tuyến (longgitude) 108o03′18″E (tính từ Greenwood) khởi đầu từ biên giới bờ biển giữa hai nước tại Vịnh Tonkin. Bắc Kinh không đồng ý tuân theo hiệp ước cũ và đòi hỏi Việt Nam phải chấp nhận lấy đường trung tuyến để ấn định lãnh hải EEZ giữa hai nước. Tuy nhiên đường trung tuyến của Bắc Kinh dựa trên đảo Hải Nam và bờ biển Việt Nam, trong khi Hà Nội chủ trương trung tuyến nằm giữa hai đảo Bạch Long Vĩ và Hải Nam. Tính ra, sự khác biệt là vùng màu xám ở giữa vịnh, với một diện tích trên 5 ngàn cây số vuông (hình 21).

Sau một năm thảo luận, Hà Nội lại phải nhượng bộ, chịu hủy bỏ hiệp ước Pháp-Thanh, chịu mất độc quyền kinh tế trong vùng xám. Vùng này nằm trong thềm lục địa của Việt Nam, rất gần với đảo Bạch Long Vĩ, có nhiều tôm cá và các loại hải sản khác cũng như tiềm năng về khí đốt dưới lòng biển. Ngày 25-12-2000, Chủ Tịch Nhà Nước Trần Ðức Lương sang Trung Quốc ký hiệp ước lịch sử chấp nhận hải phận theo đường vẽ của Trung Quốc. Hiệp ước cũng phân định sự hợp tác đánh cá và sử dụng tài nguyên năng lực nguyên tử giữa hai nước. Lại một lần nữa, quyền lợi và sự sống còn của chế độ được Hà Nội đặt lên trên chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc.

- Nhượng bộ tại quần đảo Trường Sa

Việc nhượng bộ tại quần đảo Trường Sa hiện nay là vấn đề gay go nhất cho chế độ CSVN. Tất cả tài liệu của VNCH đều xác định chủ quyền toàn vẹn trên lãnh thổ ngoài khơi này. Hiện nay, Hà Nội không những đương đầu với Trung Quốc mà còn với nhiều quốc gia khác như Ðài Loan, Phi Luật Tân, Mã Lai là các nước đã chiếm đóng một phần của quần đảo. Một điều vô cùng nghịch lý, là Trung Quốc không chịu thương thuyết đa phương (multilateral discussion) mà chỉ chịu thương thảo song phương (bilateral) với các quốc gia Phi Luật Tân và Mã Lai Á, nhưng lại không chịu thương thuyết với Việt Nam về Trường Sa. Ðiều nghịch lý này tương tự như những tên cướp bàn luận để chia chác những gì cướp được, còn người bị cướp thì không được dự vào. Nguồn lợi dầu hỏa và khí đốt lớn lao trong vùng không cho phép Hà Nội nhượng bộ các nước một cách dễ dàng. Vì nếu chấp nhận tình trạng chiếm đóng của các nước, thì Hà Nội sẽ bị mất vĩnh viễn một nguồn lợi lớn. Mặc dù hiện nay Hà Nội thừa hưởng di sản của VNCH để lại, chiếm đóng nhiều đảo và diện tích rộng lớn hơn tất cả các nước cộng lại, nhưng trên 50% vùng dầu hỏa và khí đốtlạinằm trong hải phận EEZ của Mã Lai Á. Mặt khác, đối với Trung Quốc, Hà Nội lâm vào tình trạng “há miệng mắc quai”, vì bị kẹt với văn thư của Phạm Văn Ðồng chấp nhận lãnh hải rộng lớn của “Ðại Trung Quốc.” từ năm 1958.

Do đó, hiện nay Hà Nội có vẻ “chịu phép” với Trung Quốc, không dám hăng hái tranh đấu bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa.

Theo tờ LatelineNews ngày 15-2-2001, dưới tựa đề “Vietnam Distances Itself from Spratly Islands Report”, Hà Nội đã “né tránh trách nhiệm” khi tờ Sài Gòn Giải Phóng, một đại nhật báo của đảng tại miền Nam tương tự như tờ Nhân Dân ở miền bắc, đăng một bài báo tiết lộ rằng “các viên chức cao cấp của đảng và quân đội đã họp kín để thảo luận về việc thành lập đơn vị quản trị hành chính riêng cho quần đảo Trường Sa và thiết kế việc bảo vệ chủ quyền Việt Nam.”

Bài báo của tờ SGGP đã gây nên một “phản ứng bén nhạy” từ phía Trung Quốc. Phát ngôn nhân bộ ngoại giao Trung Quốc Zhu Bangzao (Dư Bằng Giao) đã lên tiếng: “Trung Quốc có chủ quyền toàn vẹn bất khả tranh chấp đối với quần đảo Nansha và toàn vùng lãnh hải liên hệ. Bất cứ quốc gia nào có hoạt động gì trên quần đảo này đều xâm phạm chủ quyền của Trung Quốc, đều bất hợp pháp và vô giá trị.”

Ðể đáp lại lời tuyên bố của Dư Bằng Giao, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao CSVN Phan Thúy Thanh giải thích một cách ngượng ngập: “Ðó (báo SGGP) chỉ là một tờ báo thành phố (“only a city newspaper”). Bà Phan Thúy Thanh nhiều lần từ chối trả lời trực tiếp các câu hỏi của nhiều ký giả về việc nhà nước CHXHCNVN minh định thế nào về chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa, mà chỉ giải thích rằng “theo sử liệu của Việt Nam Cộng Hoà thời trước, quần đảo này được xem là một phần của tỉnh Khánh Hòa.”

Xem như thế, người Việt Nam không còn hy vọng gì ở đảng CSVN trong việc tranh đấu với Trung Quốc để đòi lại chủ quyền về lãnh thổ và lãnh hải mà Trung Quốc đã lấn chiếm bằng một kế hoạch dài hạn và có hệ thống sách lược từ nửa thế kỷ qua. Sự lấn chiếm này sẽ tiếp diễn liên tục theo chiến lược tiệm tiến như vết dầu loang, cho đến khi Trung Quốc hoàn thành tham vọng “Ðại Trung Quốc” của họ. Ðể tự cứu, dân tộc Việt Nam cần ý thức được mối hiểm họa ngoại xâm này hầu có một sách lược đấu tranh quyết liệt và hữu hiệu đối với Trung Quốc. Cuộc đấu tranh này phải được tiến hành song song với cuộc đấu tranh giải trừ mối hiểm họa nội thù của dân tộc là chế độ CSVN.

Posted in Biển Đông VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thác Bản Giốc, Ải Nam quan | Leave a Comment »

2. Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam

Posted by tieng_dan on February 8, 2008

Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi VN (2)

THỨ TƯ 23 THÁNG GIÊNG 2002

Phần Một: Dữ Kiện – Tài Liệu

I. Biên giới Việt Nam về phía bắc và phía đông

 

Trên đất liền, biên giới của một quốc gia là địa giới, là lằn ranh phân định với quốc gia lân cận về các hướng. Trên biển cả, biên giới là đường chu vi của hải phận 12 hải lý tính từ bờ đất hay bờ đảo.

1. Ðịa giới phía bắc:

“Nước Việt Nam có hình chữ S, chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu.”

Câu nói trên hầu như trở nên một thành ngữ mà mọi người Việt Nam đều biết, và minh xác rằng ải Nam Quan là địa đầu cực bắc cũng như mũi Cà Mâu là địa đầu cực nam của nước Việt Nam. Tuy nhiên, trên phương diện địa lý và căn cứ theo bản đồ, ải Nam Quan thuộc tỉnh Lạng Sơn, song tỉnh này lại không nằm ở phần cao nhất của Việt Nam.

Có sáu tỉnh địa đầu giáp giới với Trung Quốc ở phía bắc. Từ tây sang đông, các tỉnh địa đầu đó là Lai Châu, Lào Kay, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, và Hải Ninh.

Lai Châu nằm cực tây nhất, tiếp giáp với Lào và Vân Nam, có địa danh nổi tiếng là Ðiện Biên Phủ nằm gần biên giới Lào Việt.

Lào Kay cũng tiếp giáp với Vân Nam có rặng Hoàng Liên Sơn cao trên 3000 thước, trùng điệp từ tây bắc sang đông nam. Ðịa thế hiểm trở với nhiều thung lũng và ghềnh thác, là thượng nguồn của Sông Hồng từ Vân Nam xuống. Con đường bộ thông thương từ bắc xuống nam khá nhỏ hẹp. Con đường xe hỏa độc nhất chạy từ Hà Nội dọc theo bắc ngạn sông Hồng ngược về hướng tây bắc sang tận Vân Nam.

Hà Giang có núi Côn Lĩnh và vùng Ðồng Văn nằm cực bắc nhất, tiếp giáp với Quảng Tây. Cuối thế kỷ 17, một phần Hà Giang bị thổ dân Thái cắt dâng cho Tàu, đến năm 1728 mới được trả lại.

Cao Bằng có biên giới dài nhất với Tàu, tiếp giáp với Quảng Tây. Ðời vua Lý Nhân Tông, Cao Bằng bị quân nhà Tống sang xâm lấn vào năm 1076, nhưng bị anh hùng Lý Thường Kiệt đánh đuổi và phải chịu trả đất lại cho Triều Lý.

Lạng Sơn tiếp giáp Quảng Ðông, có các địa danh lịch sử nổi tiếng như vùng biên giới Ðồng Ðăng với ải Nam Quan, Chi Lăng, thị trấn Kỳ Lừa, núi Vọng Phu, và động Tam Thanh. Lạng Sơn từng chịu đựng nhiều cuộc xâm lấn trong lịch sử và nhiều lần bị sa vào tay người Trung Hoa.

Hải Ninh với thị xã Móng Cáy nằm cực đông nhất, tiếp giáp với vịnh Bắc Việt và Quảng Ðông. Ðất Hải Ninh xưa thuộc quận Giao Chỉ một trong 15 bộ của nước Văn Lang.

2. Hải phận hướng đông

Trước thời đất nước chia đôi, lãnh thổ của Việt Nam gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lãnh hải là phần biển bao quanh lãnh thổ. Ðơn vị đo lường của lãnh hải và hải hành là hải lý. Hải lý (nautical mile, knot) là khoảng cách trên biển dài bằng một phút (minute) của chiều dài đường xích đạo quanh trái đất. Vòng quanh trái đất có 360 độ, tức là 21600 hải lý. Tính ra số, một hải lý dài 6080 feet, tức 1853 mét hay 1.85 cây số. Như vậy, so với một dặm đất (một mile bằng 1609 mét) thì hải lý dài hơn một chút, bằng 1.15 dặm.

Trước kia, bề dày của lãnh hải được các quốc gia xem là 3 hải lý. Nhưng vào thập niên 70, hầu hết các quốc gia trong đó có Nam, Bắc Việt Nam đều ra tuyên cáo ấn định bề dày hải phận là 12 hải lý. Ngoài lãnh hải, các quốc gia đều ấn định chủ quyền an ninh lãnh hải (security territorial water) là 12 hải lý, tính từ hải giới, và chủ quyền khai thác kinh tế là 200 hải lý (Exclusive Economic Zone – EEZ). Sau khi chiếm trọn cả đất nước, nhà cầm quyền CSVN cũng ra tuyên cáo (ngày 12-5-1977), một lần nữa xác định chủ quyền về lãnh hải 12 hải lý, hải phận an ninh 24 hải lý, và vùng đặc quyền kinh tế 240 hải lý, tính từ bờ đất.

Tuy nhiên, có một số quốc gia, nêu lý do an ninh quốc phòng, đã tuyên cáo chủ quyền lãnh hải của quốc gia của họ là 200 hải lý thay vì 12 hải lý. Ðến ngày 1 tháng 2, 1992, có 12 quốc gia tuyên cáo chủ quyền lãnh hải 200 hải lý (Vũ Hữu San, “Ðịa Lý Biển Ðông”, trang 70). Ðây là một sự kiện trái ngược với thỏa ước “Luật Biển Liên Hiệp Quốc”. United Nations Convention on the Law of the Sea, gọi tắt là UNCLOS được công bố ngày 10-12-1982 tại Montego Bay, Jamaica, với chữ ký của 159 đại diện các quốc gia. Sau 12 năm, đến ngày 16-11-1994, có 60 quốc gia phê chuẩn thông qua (ratification).

Luật Biển Liên Hiệp Quốc ấn định “Biển cả là tài sản chung của nhân loại”. Vấn đề định nghĩa “hòn đảo” có giá trị lãnh thổ để từ đó một quốc gia có thể xác nhận lãnh hải của mình cũng được ghi chú. Ðiều 121(13) ấn định rằng một hòn đảo không có điều kiện sinh sống cho con người hoặc nguồn lợi kinh tế riêng cho chính nó sẽ không được xem là có lãnh hải hay là vùng đặc quyền kinh tế (Jane’s Intelligence Review, Oct 27, 2000).

Các nước Ðông Nam Á đều phê chuẩn Luật Biển Liên Hiệp Quốc. Ngoại trừ Trung Quốc không những không ký kết, không chấp nhận, mà còn ban hành “Luật Lãnh Hải Của Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc” vào năm 1992 để buộc thế giới phải tôn trọng. Một điểm đã tạo nên tranh chấp lộn xộn nhất của “Luật Lãnh Hải Trung Quốc” là “Nam Hải (tức Biển Ðông của Việt Nam) là nội hải của Trung Quốc”. Vấn đề này sẽ được trình bày và phân tích chi tiết ở các phần sau.

Phần Một: Dữ Kiện – Tài Liệu

II. Các biến cố liên hệ đến biên giới Việt-Hoa
từ thập niên 1950 đến nay

 

Từ khi chiếm trọn vẹn Trung Hoa lục địa, Bắc Kinh đã theo đuổi một chính sách bành trướng lãnh thổ. Trước hết là việc công bố bản đồ lãnh thổ và hải phận bao gồm một biên giới rộng lớn chưa hề được ghi chép trong lịch sử, gây ra nhiều cuộc tranh chấp với các nước láng giềng. Ðặc biệt, đối với vương quốc Tây Tạng theo hệ thống “Phật Pháp Trị”, mà các vị “phật sống” (Dalai Lama) có quyền hành tương tự như các vị quân vương trong chế độ quân chủ, Bắc Kinh đã dùng chiêu bài “giải phóng” để đánh chiếm và ép buộc quốc gia này theo chế độ cộng sản. Tình trạng lấn chiếm này cũng tương tự như nước Mông Cổ ở phương bắc. Từ thập niên 60 đến nay, Bắc Kinh tranh chấp biên giới với cả Liên Sô và Ấn Ðộ.

Riêng đối với Việt Nam, cuộc lấn chiếm bờ cõi Việt Nam của Bắc Kinh khá khốc liệt, liên tục và có hệ thống, vừa trên đất liền vừa ngoài biển cả. Sau đây là một số dữ kiện được góp nhặt trên sách báo Việt Nam lẫn quốc tế.

1. Cuộc đụng độ tại Hoàng Sa (Paracels) năm 1974 giữa Trung Cộng và Việt Nam Cộng Hòa

Trên bản đồ hàng hải, quần đảo Hoàng Sa, mà Trung Quốc gọi là Xisha (Tây Sa), là một chuỗi gồm trên 100 đảo nhỏ nằm ngoài khơi Việt Nam, giữa kinh tuyến 111 độ và 113 độ Ðông và từ vĩ tuyến 15 độ 45 đến 17 độ 05 Bắc. Một cách đơn giản, quần đảo này nằm cách bờ biển Quảng Trị và Thừa Thiên khoảng 170 hải lý về hướng Ðông. Quần đảo này cách bờ biển Trung Hoa lục địa và Phi Luật Tân trên 400 hải lý.

Trận hải chiến tại Hoàng Sa vào ngày 19 tháng 1 năm 1974 giữa Trung Quốc và Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã được kể lại khá chi tiết bởi những cựu quân nhân Hải Quân VNCH, đa số từng tham dự trận đánh, và đã được đăng trên đặc san Lướt Sóng của hội Bạch Ðằng, cựu quân nhân Hải Quân VNCH tại San Jose. Hiện nay những bài viết và các phóng đồ hành quân có thể được tìm thấy trên mạng lưới của Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải VNCH:

http://www.vietnamnavy.com/hoangsa.html

Vào thăm trang web trên, độc giả có thể tìm thấy trên 20 bài viết gồm văn, thơ. Ðặc biệt là những bài viết giá trị của ba vị học giả sau đây:

- Ông Hà Văn Ngạc, “Những Diễn Biến Ðưa Tới Trận Hải Chiến Hoàng Sa”,1998; ông Hà Văn Ngạc là cựu Hải Quân Ðại Tá Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân Trần Hưng Ðạo có nhiệm vụ bảo vệ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

- Ông Vũ Hữu San, “Sau 24 Năm Nhớ Về Hải Chiến Hoàng Sa”, 1998; ông Vũ Hữu San là cựu Hải Quân Trung Tá Hạm Trưởng Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư HQ 4 tham chiến ngày 19-1-74. Ngoài bài viết trên, ông còn là tác giả của một cuốn sách biên soạn công phu, tựa đề “Ðịa Lý Biển Ðông Với Hoàng Sa Và Trường Sa”, Nhà In Hương Quê, 1995.

- Ông Trần Ðỗ Cẩm, “Trận Hải Chiến Tại Quần Ðảo Hoàng Sa”, 1998; đây là một thiên phóng sự có kèm nhiều hình ảnh, bản đồ chi tiết về quần đảo Hoàng Sa và cuộc hải chiến ngày 19-1-74, mà tác giả cho biết là trích trong tác phẩm “Biển Ðông Nổi Sóng”. Ông Trần Ðỗ Cẩm cũng là một sựu sĩ quan Hải Quân thâm niên và hiện nay là Chủ Bút Nguyệt San Ðoàn Kết tại Austin, Texas. Mặc dù không tham dự trận hải chiến Hoàng Sa, ông đã phỏng vấn các người tham dự và sưu tầm thêm tài liệu để viết nên các tài liệu rất giá trị.

Trong phạm vi bài này, người viết chỉ xin phép các tác giả tóm lược nội vụ cùng trích dẫn một vài bản đồ và hình ảnh để dùng làm tài liệu cho việc phân tích vấn đề tranh chấp biên giới ở phần Hai.

Ðoàn chiến hạm của Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa gồm 4 chiến hạm khá lỗi thời, do Hoa Kỳ chế tạo từ Ðệ Nhị Thế Chiến. Các chiến hạm này do Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc chỉ huy, đến quần đảo Hoàng Sa với nhiệm bảo vệ lãnh thổ của Việt Nam. Trước đó, Hải Quân nhận được tin từ các đơn vị trấn giữ quần đảo báo cáo cho biết một số đảo đã bị quân đội Trung Quốc đổ bộ và chiếm đóng. Ðây là sự kiện chưa hề xảy ra trong lịch sử cả hai nước.

Sáng ngày 19 tháng 1, năm 1974, Khu Trục Hạm (DES) HQ 4 và Tuần Dương Hạm (WHEC) HQ 5 cho các toán Người Nhái Biệt Hải đỗ bộ tái chiếm đảo Cam Tuyền, Quang-Hòa (Duncan) và một số đảo khác. Quân đội Trung Quốc trên các đảo khác được bảo vệ bởi 4 chiến hạm tương đối tân tiến với vận tốc nhanh gấp đôi. Sau khi Tuần Dương Hạm HQ 16 và Hộ Tống Hạm (MSF) HQ 10 nhập vùng hành quân, Hải Quân Ðại Tá Hà Văn Ngạc cho tàu chớp đèn hiệu yêu cầu chiến hạm của Trung Quốc bốc lính đổ bộ và rời quần đảo. Hiệu lệnh không được tuân theo, Ðại Tá Ngạc nhân danh sứ mệnh bảo vệ bờ cõi, ra lệnh các chiến hạm khai hỏa, bắn vào tàu Trung Quốc, và bị các tàu này bắn trả. Sau vài giờ giao chiến, bốn chiến hạm của Trung Quốc bị bất khiển dụng, trong đó có hai chiếc bị chìm. Riêng HQ 10, một loại tàu rà mìn trong thế chiến 2 được tân trang, cũng bị bắn chìm, Hạm Trưởng và Hạm Phó đều bị tử thương cùng một số nhân viên. HQ 16 bị rủi ro trúng đạn của HQ 5 vào phòng truyền tin nên mất liên lạc vô tuyến và chạy về căn cứ Ðà Nẵng. Phát hiện 4 chiến hạm Trung Cộng có tốc độ nhanh từ hướng đông bắc chạy xuống tiếp ứng, hai chiến hạm HQ 4 và HQ 5 nhận lệnh bỏ hải đảo chạy về căn cứ. Ngày hôm sau, lực lượng trú phòng của VNCH đã bị tràn ngập. Hai toán quân đã đổ bộ cũng bị quân đội Trung Quốc bắt giữ và một thời gian sau mới được giao trả cho VNCH.

Sự phản đối của chính phủ VNCH đối với cuộc xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc đã bị gián đoạn với biến cố thôn tính miền Nam của CSVN vào năm 1975. Từ đó Trung Quốc chiếm giữ trọn vẹn quần đảo Hoàng Sa mà không còn gặp một đối kháng nào về phía nhà cầm quyền CSVN. Nguyên nhân của hiện tượng khác thường này sẽ được phân tích ở phần sau.

Một điểm đặc biệt cần được nêu ra ở đây, là các học giả Việt Nam gốc Hải Quân VNCH không hề nhắc đến sự tham chiến của không quân VNCH cũng như của không lực Trung Quốc. Thế nhưng tài liệu của Jane’s Intelligence Review (“A Code of Conduct For South China Sea”, Jane Information Group, 27/10/2000) thì xác quyết là Trung Quốc có sử dụng không lực. Tình trạng quần đảo này được tổ chức truyền thông này tóm lược như sau:

“The Paracel Islands (Xisha Islands to China) are located in the northwestern part of the South China Sea and are claimed by China and Vietnam. China occupied the Paracels following an air and sea battle with South Vietnamese troops in January 1974. Since then, China has set about upgrading military facilities on the islands. To extend the naval air force’s power projection into the South China Sea, China is believed to have extended its airstrip on Woody Island in the Paracels to over 2,500m, providing a forward base and staging area for extending the range of its aircraft.”

2. Cuộc xâm lăng biên giới VN năm 1979 của Trung Quốc

Ðầu năm 1979, Trung Quốc xua quân tràn sang biên giới Việt Nam, với sự tuyên truyền là để “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Cuộc xâm lăng biên giới Việt Nam bắt đầu vào ngày 17 tha’ng 2, 1979. Theo cuốn sách “China’s War with Vietnam”, King C. Chen, Stanford, CA, Hoover Institution, Press, 1987), sau hai tuần lễ giao chiến dữ dội giữa hai bên, Trung Quốc tuyên bố đã chiếm được ba trong sáu thị xã nằm địa đầu giới tuyến, là Cao Bằng, Lạng Sơn, và Lào Kay. Hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn ở gần nhau. Còn Lào Kay và Cao Bằng nằm hai bên tỉnh Hà Giang. Ðiều này chứng tỏ Trung Quốc đã tiến quân tràn qua biên giới bằng ít nhất là ba ngã. Các thị xã Lào Kay, Cao Bằng và Lạng Sơn tương đối dễ đến từ Trung Quốc. Lào Kay tiếp giáp với biên giới hai nước và có trạm giao thông với Trung Quốc. Trạm thông thương biên giới thứ hai, và quan trọng hơn, là ải Nam Quan, tức Hữu Nghị Quan phía bắc thị xã Lạng Sơn. Bắc Kinh rất khó điều quân tới Lai Châu và Hà Giang, vì đường Quốc Lộ 2 thông thương giữa hai nước qua Hà Giang khá cheo leo, rặng Hoàng Liên Sơn chắn ngang biên giới tây bắc rất hiểm trở và khó vượt qua.

Căn cứ trên địa hình các tỉnh và lời tuyên bố của Bắc Kinh, thì cánh quân phía tây từ Vân Nam tiến sang chiếm được Lào Kay rồi tiến về phía đông theo Quốc Lộ 70 dọc bắc ngạn sông Hồng. theo lời kể lại của một số sĩ quan bị bắt đi tù “cải tạo” trên rặng núi Hoàng Liên Sơn, thì họ được đảng CSVN cấp tốc di chuyển về phía nam trong thời gian đó.

Cánh quân phía tây tràn sang biên giới không gặp nhiều chống cự khi chiếm thị trấn Lào Kay nằm sát biên giới. Nhưng sau đó thì bị chận lại vì thung lũng sông Hồng và sông Lô quá hiểm trở. Ðường xe hỏa xuyên quốc gia chạy dọc theo bắc ngạn sông Hồng cũng là một cản trở vì có quá nhiều cầu đã cũ bên sườn núi thẳng vách và dễ bị phá vỡ.

Cuộc tiến quân hai đạo ở phía đông của Bắc Kinh sang Cao Bằng và Lạng Sơn sau này được xác nhận bởi hai ký giả Robert Storey và Daniel Robinson (“Vietnam”, Lonely Planet Publications, 3rd Edition, 1995, trang 506 và 517). Cánh quân xâm chiếm Lạng Sơn hùng hậu hơn cánh quân tấn công Cao Bằng, xuất phát từ tỉnh Quảng Ðông tràn qua biên giới từ ải Nam Quan, chiếm các phố thị địa đầu là Ðồng Ðăng, rồi theo Quốc Lộ 4 tiến xuống phố Kỳ Lừa và thị xã Lạng Sơn.

Theo ký giả Bruce Elleman, (“Sino-Soviet Relations and the February 1979 Sino-Vietnamese Conflict”, 1996), lực lượng của Trung Quốc có khoảng 250 ngàn (“quarter million men”), chia làm nhiều đạo quân ồ ạt tràn sang biên giới nhưng đã bị quân địa phương trấn thủ tiền đồn dùng du kích chiến làm chậm cuộc tiến quân trong khi chờ đợi quân chính quy được điều động từ miền Nam Việt Nam lên tiếp ứng.

Theo Cameron W. Barr, The Christian Science Monitor – International, Oct 3/1997, được bà Nguyễn Thị Dương trước kia ở Lạng Sơn nhưng nay cư ngụ tại Ðồng Ðăng cho biết, quân Trung Quốc tràn sang biên giới tiến về thị xã Lạng Sơn. Tại đây, họ gặp sức kháng cự của quân phòng vệ (town’s defenders) và phải tiến chiếm từng căn nhà. Vì vậy mà một phần lớn của thành phố Lạng Sơn đã đổ nát tan hoang sau hơn một tuần chịu đựng lửa đạn từ hai phía.

Sau 16 ngày xâm chiếm các vùng biên giới lãnh thổ Việt Nam, đột nhiên vào ngày 5 March, 1979 Bắc Kinh rút hết quân về. Họ tuyên bố mục đích cho Hà Nội “một bài học” đã đạt. Thế nhưng cuộc rút lui của họ đã xảy ra cùng lúc với hai sự kiện làm cho dư luận chú ý:

- Nhiều đơn vị chính quy của bộ đội CSVN đang được điều động từ miền Nam lên miền biên giới để chuẩn bị ứng chiến khi quân Trung Quốc tràn xuống sâu hơn trong nội địa. (ở đây xin mở một ghi chú: CSVN chỉ thị quân đội trú phòng chống trả mãnh liệt và điều động quân đội chính quy ứng chiến có phải xuất phát từ quyết tâm bảo vệ lãnh thổ không hay vì động cơ nào khác? Vấn đề này sẽ được phân tích ở phần sau).

- Trung Quốc gài lại phía nam biên giới trên hai triệu quả mìn chôn trên các lối đi hay đồng ruộng, và trên các đồi núi, với mục đích là ngăn chặn sự truy kích từ đằng sau trong khi đoàn quân triệt thoái về nước (BBC News Online: “China Ends Huge Mine Clearing Programme,” Asia-Pacific, August 12, 1999). Một tài liệu khác của BBC (“China Clears Thousands of Landmines on Vietnamese Border”, January 6, 1998) tổng số diện tích các bãi mìn dọc biên giới lên đến 20 triệu mét vuông bao gồm 120 vùng gần 1300 cây số dọc theo biên giới từ Lai Châu sang Hải Ninh. (“Qiu Daxiong, deputy commander of the Guangxi Military Area Command, said the mine clearing operation, is expected to clear 120 zones on nearly 20 million sq.m. of ground”). Mìn gồm 18 loại khác nhau, chỉ có dụng cụ gỡ mìn tối tân và chuyên gia thông thạo mới tháo gỡ được. Có nhiều đồi chôn mìn cỏ mọc quá cao, không thể rà được dù là dụng cụ tối tân, phải dùng đến chất nổ làm nổ cả bãi mìn. Cuộc tháo gỡ mìn được thực hiện từ năm 1993 mãi đến tháng 8 năm 1999 mới hoàn tất.

Nhu cầu của “Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học” đã để lại thương vong khá lớn cho cả hai bên. Chỉ trong hai tuần, tổng số tổn thất của hai đạo quân của Bắc Kinh lên tới trên 20 ngàn, tức gần 1/10 quân số tham chiến (Storey and Robinson, trang 506). Những vũ khí đã gây cho Trung Quốc nhiều tổn thất nhất lại chính do họ viện trợ cho Bắc Việt trong cuộc chiến Việt Nam. Tổng số tử vong của hai bên lên tới 56 ngàn người (“The Bloodshed In South-east Asia”, Rod Paschall, The Quarterly Journal of Military History, Nov. 14, 1999), hơn cả số tử vong của quân đội Mỹ trong trên 10 năm tham chiến tại Việt Nam

Theo hai tác giả Robert Storey và Daniel Robinson, thị xã Lạng Sơn và quận Ðồng Ðăng, cách Lạng Sơn 20 cây số về hướng bắc, đã bị tàn phá trong trận chiến 1979. Hiện nay, phần lớn thành phố vẫn chưa được sửa chữa, và thường được chỉ cho du khách xem như là một bằng cớ về sự hung hãn của người Tàu (“evidence of Chinese aggression”).

3. Vụ Trung Quốc xâm chiếm Trường Sa (Spratly Islands) và đánh chìm chiến hạm của Việt cộng năm 1988

 

Hiện nay có khá nhiều tài liệu về vụ Trung Cộng xâm chiếm Trường Sa (Tàu gọi là Nansha – Nam Sa) và công bố bản đồ lãnh hải bao gồm cả Biển Ðông Hải (Tàu gọi là Nanhai – Nam Hải).

Về phía Việt Nam, có các cựu sĩ quan Hải Quân VNCH như:

- Ông Vũ Hữu San với tác phẩm “Ðịa Lý Biển Ðông Với Hoàng Sa và Trường Sa”.

- Ông Trần Ðỗ Cẩm với bài viết “Tình Hình Chiếm Ðóng Tại Quần Ðảo Trường Sa, đăng trên website của Tổng Hội Hải Quân và Hàng Hải: http://www.vietnamnavy.com.

- Tuy nhiên tài liệu giá trị và chính thức nhất là cuốn Bạch Thư của bộ Ngoại Giao của chính phủ Việt Nam Cộng Hòa được công bố sau vụ Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa và trước khi Sài Gòn thất thủ. Tài liệu này có thể được tìm thấy trong mạng lưới “Pacific Forum – The Discussion Proceeds For Peace”. Ðây là một tài liệu khá dày, trên 50 trang, viết bằng Anh ngữ, có tựa đề là “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands”. Ðính kèm cuốn bạch thư là “Tuyên Cáo của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa, February 14, 1974″. Cả hai tài liệu có ghi xuất xứ và thời gian là “Republic of Vietnam, Ministry of Foreign Affairs, Saigon, 1975, nhưng vì không phải là nguyên bản nên không có phóng ảnh của chữ ký hay dấu triện của cơ quan này. Về phía quốc tế, có nhiều tài liệu, trong số đó, các bài viết sau đây chứa nhiều chi tiết quan trọng:

- “A code of Conduct for the South China Sea?”, Jane’s Intelligence Review, Oct 27, 2000

- “South China Sea Dispute: Prospects For Preventive Diplomacy”, United States Institution of Peace Special Report.

- “Spratly Islands,” FAS Military Analysis Network, John Pike, Jan 30, 2000.

- “Spratly Islands Dispute (Spratly Case No. 325)”, Trade and Environment Database Project, April 30, 1996.

Nhìn qua bản đồ (hình 8 và 9), quần đảo Trường Sa có vẻ gần với Philippines và Malaysia hơn Việt Nam. Tuy nhiên, các tài liệu quốc tế đều xác nhận sự có mặt của người Việt Nam từ thế kỷ thứ 17 hoặc xưa hơn, trong khi Ðài Loan chỉ mới hiện diện trên một hòn đảo sau Thế Chiến thứ hai, khi tiếp thu sự bại trận của Nhật Bản. Còn Philippines và Malaysia thì mới chiếm giữ và tuyên bố chủ quyền trên một vài đảo sau cuộc thất thủ của Việt Nam Cộng Hòa.

Biển Ðông là một trong vài vùng biển có nhiều tàu bè qua lại nhất, vì là đường giao thương từ Nhật, Ðại Hàn, Mỹ từ hướng đông-bắc xuống tây-nam tiếp cận với Thailand, Malaysia, Singapore, Ấn Ðộ, v.v… Biển Ðông cũng nổi tiếng về nguồn lợi ngư sản hầu như bất tận vì đáy biển không sâu và có nhiều chỗ sinh sản (habitats) cho nhiều loại cá. Từ hậu bán thế kỷ 20 đến nay, với sự khám phá dầu hỏa và khí đốt trong Biển Ðông, quần đảo Trường Sa đột nhiên trở thành quan trọng như một vùng tài nguyên trù phú.

Theo tài liệu của Jane’s Intelligence, toàn vùng Trường Sa gồm khoảng 200 hòn đảo lớn nhỏ và 200 bãi đá ngầm. Diện tích tổng số đá nổi lên trên mặt nước chỉ vào khoảng 8 cây số vuông thôi, nhưng trải ra một diện tích mặt biển khoảng 240 ngàn cây số vuông (tài liệu của U.S. Institution of Peace ghi 800 ngàn cây số vuông).

Ngoài triển vọng dầu hỏa và khí đốt, quần đảo này có tầm mức quan trọng về chiến lược, nếu quốc gia chiếm giữ hải đảo hay đá ngầm có quyền xác nhận hải phận 12 hải lý quanh bờ đảo và 200 hải lý đặc quyền kính tế ngư sản.

Cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc có tầm mức quy mô và nguy hiểm cho Việt Nam về cả hai phương diện kinh tế và chiến lược (sẽ được phân tích ở phần sau). Cuộc lấn chiếm đầu tiên xảy ra năm 1976, sau khi họ đã thành công trong việc cưỡng chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của VNCH vào năm 1974, như đã sơ lược trình bày trong phần nói về Hoàng Sa. Cũng theo phương pháp lấn chiếm cố hữu của kẻ ỷ mạnh làm càn, Trung Cộng đưa tàu chiến xâm nhập và đổ bộ trên các hòn đảo không có người ở, cùng lúc ngang ngược công bố với thế giới rằng “toàn thể Nam Hải là nội hải của Trung Quốc và các quần đảo Trường Sa, Tây Sa là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời cổ xưa”.

Năm 1988, cuộc xâm lấn liên tục của Bắc Kinh đạt quá mức chịu đựng của Hà Nội. Trong một cuộc đụng độ tại vùng đá ngầm Fiery Cross Reef (Bãi Chữ Thập) vào ngày 14-3-1988, Hải Quân Trung Quốc đánh chìm ba chiến hạm của Hải Quân CSVN, gây tử thương cho trên 72 thủy thủ đoàn. Ðó là lần thứ nhì sau cuộc chiến 1979, mà hai nước cộng sản “anh em” vì quyền lợi quốc gia đã không tôn trọng “nghĩa vụ quốc tế” của chủ nghĩa cộng sản. Từ khi cưỡng chiếm vùng đá ngầm này, Trung Quốc đã biến nó thành một “hòn đảo nhân tạo (arificial island) bằng cách xây cất trên vùng đá này một căn cứ tiếp liệu, một sân đáp trực thăng nhằm mục đích kiểm soát không phận, một cầu nổi dài 300 mét có khả năng cập cầu cho tàu thủy có trọng tải 4000 tấn, và một trạm máy thu nhận tối tân có khả năng thu nhận hiện tượng và phát sóng báo hiệu thời tiết cho tàu bè qua lại. Trên vùng đá ngầm Ða Lực (Johnson Reef) và bãi chữ thập (Fiery Cross Reef), họ kiến trúc nhà ở, chòi canh cho quân lính cư ngụ (hình 11, 12 và 13).



Theo Felix K Chang (“Beijing’s reach in the South China Sea”, ORBIS, Summer, 1996), cuộc lấn chiếm Trường Sa của Trung Quốc được tiến hành song song với sự thay đổi về quan niệm chiến lược, từ phòng vệ duyên hải (jinhai fangyu) sang phòng vệ viễn dương (jinyang fangyu). Năm 1992, Trung Quốc bắt giữ 20 tàu chở hàng của Việt Nam từ Hồng Kông đi qua Ðông Hải. Tiếp theo, các nước quanh vùng như Phi và Mã Lai cũng lên tiếng phản đối Trung Quốc có tham vọng khống chế các nước quanh vùng Ðông Hải. Mặt khác, vì thấy Hà Nội quá yếu kém về mọi phương diện, chính các quốc gia này cũng nhảy vào chiếm đóng một số đảo trong vùng Trường Sa. Cho đến nay qua bao nhiêu lần phản đối một cách yếu ớt, Hà Nội vẫn không hề đưa vấn đề ra trước công pháp quốc tế để đòi lại các đảo đã bị Trung Cộng và các nước cưỡng chiếm. Nguyên do bí ẩn này sẽ được phân tích ở phần sau.

Dưới đây là bảng tóm lược về các vụ lấn chiếm hải đảo và lãnh hải Việt Nam của Trung Quốc

1974: Trung Quốc mang nhiều tàu chiến đến cho quân đổ bộ một số đảo của quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến xảy ra. VNCH có một chiếc bị chìm. Phía Trung Quốc có hai chiến hạm chìm và 2 bốc cháy phải ủi vào bờ. Trung Quốc tăng viện bằng máy bay và tàu chiến tối tân, VNCH rút về. Hà Nội im lặng thỏa nhượng bằng văn thư của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng

1976: Trung Quốc tuyên bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc tỉnh Hải Nam (tức đảo Hainan) trong sự im lặng của Hà Nội, và sau khi hoàn tất cuộc thôn tính Hoàng Sa, bắt đầu cho tàu và quân chiếm đóng một số đảo của Trường Sa.

1988: Hải quân Trung Quốc và CSVN đụng độ tại vùng đá ngầm Chữ Thập (Fiery Cross Reef). Trung Quốc đánh chìm 3 chiến hạm của CSVN và gây tử thương cho 72 thủy thủ. Từ đó Hà Nội giữ im lặng cho đến nay.

1992: Tháng 3, Hà Nội tố cáo Bắc Kinh khoan dầu trong hải phận Việt Nam, trong vịnh Bắc Việt, ngoài khơi Côn Sơn, và đổ bộ vùng đá ngầm Ða Lực. Cũng trong năm đó Trung Quốc bắt giữ 20 tàu Việt Nam chở hàng từ Hồng Kông đi qua Ðông Hải. Trung Quốc công bố “Luật Biển của Trung Quốc – Chinese Law” xác quyết toàn vùng Ðông Hải là nội hải của họ.

Hình 14 là bản đồ chỉ dấu các quốc gia đang chiếm đóng mỗi đảo do FAS Military Analysis Network thống kê.

Xem phần kế tiếp: Phần Hai: Phân Tích

 

Posted in Biển Đông VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thác Bản Giốc, Ải Nam quan | Leave a Comment »

1. Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam

Posted by tieng_dan on February 8, 2008

Kỹ sư Nguyễn Ðình Sài
THỨ HAI 21 THÁNG GIÊNG 2002

Dẫn Nhập

I. Nam Quốc Sơn Hà

 

Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Bốn câu thơ trên của danh tướng Lý Thường Kiệt sinh vào thế kỷ 11 đời nhà Lý, xác định rằng sông núi nước Nam là của dân tộc Việt, đã hiện hữu từ hàng ngàn năm trước, bất cứ ai ngang ngược xâm phạm sẽ bị đánh bại tan tành. Ðó là một tuyên ngôn về chủ quyền của đất nước, là biểu tượng về quyết tâm bảo vệ lãnh thổ của dân tộc Việt Nam trước các cuộc xâm lấn không ngừng từ phương bắc. Trải qua bao nhiêu thời đại, biên giới Việt Hoa vẫn được giữ nguyên vẹn. Ải Nam Quan bao lần được nhắc đến trong lịch sử chống ngoại xâm vẫn luôn luôn là cái mốc ranh giới phương bắc của nước Việt. Thế nhưng, đến cuối thập niên 50, thì lãnh thổ Việt Nam bắt đầu mất dần… Vì sao?

II. Vấn nạn của hậu duệ Việt Nam

 

Năm 1979, Trung Quốc đem quân đánh chiếm Lào Kay, Cao Bằng và Lạng Sơn, ba thị trấn địa đầu giới tuyến Việt Nam. Nhưng sau hơn hai tuần chạm phải chiến thuật du kích của quân đội trú phòng địa phương, họ đã rút về. Họ gài lại một bãi mìn khổng lồ trên vùng đất đã lấn chiếm để chặn đường truy kích của quân đội chính quy mà đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) sắp điều động từ miền Nam lên chiến tuyến.

Sau 15 lần hội đàm giữa đại diện Bắc Kinh và Hà Nội từ đầu thập niên 1990’s, hiện nay hai bên đã tiến tới việc vẽ bản đồ phân ranh giới (demarcation). Bắc Kinh thỏa thuận tháo gỡ các mìn đã chôn. Ðến tháng 8 năm 1999, Bắc Kinh đã hoàn tất công tác gỡ mìn dọc theo biên giới. Ðây là một thành quả được các nhà quan sát thời sự xem là lớn nhất trong lịch sử gỡ mìn.

Về phía Hà Nội, trong suốt thời gian hiện hữu, đảng CSVN đã nhiều lần tương nhượng đất đai bị Bắc Kinh đánh chiếm. Bây giờ cổng “Hữu Nghị” thì nằm ở phía nam ải Nam Quan và ải Nam Quan đã nằm sâu trong “nội địa” Trung Quốc đến vài cây số. Trong các cuộc thương thảo hai bên, Bắc Kinh luôn luôn biện giải đó chỉ là một tình trạng “hiện hữu tất nhiên” (status quo) vì phần đất đó “do những thổ dân địa phương muốn sống dưới nền hành chánh của Trung Quốc”. Ngược lại CSVN hầu như không có thái độ tranh thủ quyết liệt để đòi lại đất đai đã mất.

Mặt khác Hà Nội cũng nhắm mắt cúi đầu cho Bắc Kinh chiếm giữ và khai thác mỏ dầu ở các quần đảo Paracels (Hoàng Sa) và Spratlys (Trường Sa), và di nhượng luôn một phần của Tonkin Bay (Vịnh Bắc Việt). Mục đích là đánh đổi sự ổn định để giao thương với Mỹ và để rảnh tay mà bảo tồn quyền hành thống trị của đảng đối với nhân dân Việt Nam.

Không những thế, dưới sự dụ dỗ lẫn áp lực của Bắc Kinh, rồi đây đảng CSVN sẽ tiến hành công cuộc xây xa lộ Trường Sơn ngay trên con “đường mòn HCM” trong thời chiến, từ biên giới tây bắc xuống tận vùng Tây Ninh, rồi bắc sang xa lộ đông-tây Việt Miên xuyên qua Cambodia, để Trung Quốc mượn đường mà giao thương với Thailand, Malaysia, và Indonesia. Xa lộ này sẽ ảnh hưởng quan trọng trên các phương diện môi sinh, kinh tế, chiến lược phòng thủ, không những đối với Việt Nam, mà còn đối với cả toàn vùng Ðông Nam Á. Bài viết này nhằm mục đích trình bày một cách tóm lược các diễn biến từ nửa thế kỷ qua, phân tích mối tham vọng của Bắc Kinh cũng như những nhượng bộ của Hà Nội, để từ đó đề nghị một số giải pháp thích ứng cho nghĩa vụ bảo vệ bờ cõi Việt Nam.

Phần Một: Dữ Kiện – Tài Liệu

 

I. Biên giới Việt Nam về phía bắc và phía đông
II. Các biến cố liên hệ đến biên giới Việt-Hoa từ thập niên 1950 đến nay
II.1. Cuộc đụng độ tại Hoàng Sa (Paracels) năm 1974
II.2. Cuộc xâm lăng biên giới VN năm 1979 của Trung Quốc
II.3. Vụ Trung Quốc xâm chiếm Trường Sa (Spratly Islands) năm 1988

Phần Hai: Phân Tích

 

I. Các cuộc nhượng bộ của Hà Nội đối với Bắc Kinh
II. Hiểm họa trường kỳ của Trung Quốc đối với Việt Nam
III. Trách nhiệm của các chính phủ cầm quyền tại Việt Nam trong 50 năm qua

Phần Ba: Ðề Nghị, Kết Luận, – Tài Liệu Tham Khảo

 

Kỹ sư Nguyễn Ðình Sài
PH Trưởng Phân Hội Washington, USA
Ủy Viên Hội Ðồng Quản Trị Hội Chuyên Gia Việt Nam
Trích Bách Hợp 6, 01/2002

Posted in Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thác Bản Giốc, Ải Nam quan | Leave a Comment »

1. Biên Giới Việt Trung: Đi Tìm Sự Thật Sau Những Che Giấu

Posted by tieng_dan on February 8, 2008

BÀI VỞ HCGVN
[logo]


BÀI VỞ NGHIÊN CỨU
Biên Giới Việt Trung: Đi Tìm Sự Thật Sau Những Che Giấu

Nguyễn Đình Sài
THỨ HAI 16 THÁNG MƯỜI HAI 2002

Biên Giới Việt Trung: Đi Tìm Sự Thật Sau Những Che Giấu

Nguyễn Đình Sài
Kỹ sư công chánh

Kỹ sư Nguyễn Đình Sài tốt nghiệp ngành Kỹ Thuật Công Chánh (Civil Engineering) và Cao Học Quản Trị về ngành Công Kỹ Nghệ (MBA in Engineering Technology) tại Mỹ; văn bằng hành nghề (Professional Engineer) từ năm 1985; Từng làm Giám Thị Công Trường xây hệ thống dẫn thủy nhập điền quận Lạc Lâm, tỉnh Tuyên Đức (1964-65); hiện làm Project Manager cho các dự án cầu đường, cống rãnh và thủy lợi thuộc Bộ Công Chánh Hạt Snohomish County, Tiểu bang Washington, Hoa Kỳ; hội viên American Society of Civil Engineers; hội viên HCGVN; Ủy viên Hội Đồng Quản Trị HCGVN nhiệm kỳ 1998-2004; Phân Hội Trưởng Phân Hội Washington State từ 1996; hiện được Hội giao trách nhiệm thực hiện Tập San Bách Hợp.

Bài viết này ghi lại những biến chuyển trong một năm qua, khi tin tức về những hiệp ước liên hệ đến biên giới và lãnh hải Việt Nam được phơi bày trước dư luận. Những thỏa thuận do chính phủ Việt Nam ký kết với Trung Quốc vào các năm 1999 và 2000 đã bị tiết lộ vào mùa thu năm 2001, và đã gặp sự chống đối mãnh liệt của tập thể người Việt trong cũng như ngoài nước. Để đối phó với sự công phẫn của đồng bào, đảng CSVN đã dùng nhiều biện pháp, từ việc cho các viên chức chính phủ viết bài giải thích dưới hình thức “bài phỏng vấn”, đến các vụ bắt bớ hăm dọa những nhà tranh đấu ở trong nước. Mặt khác, tại hải ngoại, bộ máy trí vận của đảng cũng đang nỗ lực viết bài phản luận, tạo hoài nghi về lịch sử địa lý nước nhà, rằng những vùng đã mất vốn không phải là tài sản của ông cha để lại. Tuy nhiên, mặc cho chủ trương triệt để giấu giếm của đảng và nhà nước, sự thật đang được phơi bày qua những chứng cớ, tài liệu và kỹ thuật nghiên cứu sưu tầm hiện đại.


- I. Phong trào phản kháng lan rộng sau các chứng cớ cụ thể
- II. Phản ứng của đảng Cộng Sản Việt Nam
- III. Phân tích về biên bản Hiệp Ước 1999
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 1)
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 2)
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 3)
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 4)
- V. Kết luận

I. Phong trào phản kháng lan rộng sau các chứng cớ cụ thể

THỨ NHẤT 15 THÁNG MƯỜI HAI 2002

Trong nửa năm đầu của 2002, người ta thấy sự xuất hiện của nhiều bản tin, nghiên cứu và tham luận về các vụ nhượng bộ của Hà Nội đối với Bắc Kinh. Đối chiếu các tài liệu sưu tầm được từ các nguồn trong và ngoài nước, người ta nhận thấy các nhượng bộ của VN đối với TQ có thể được chia làm hai giai đoạn: Trước và sau cuộc xâm lấn biên thùy Việt Nam của CS Trung Quốc vào năm 1979.

Trước cuộc chiến tranh tháng 2 năm 1979, đã có những nhượng bộ lãnh thổ và lãnh hải từ phía Hà Nội cho Bắc Kinh rồi. Chứng cớ về các nhượng bộ đó đã được phơi bày với hai sự thật không thể chối cãi, đó là:

Về phương diện lãnh hải:

Chứng cớ rõ nhất về vụ nhượng biển trước năm 1979 là bức thư của Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt Nam) Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ Tướng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Chu Ân Lai. Bức thư này (hình 1) được ký ngày 14-9-1958, cam kết rằng chính phủ nước VNDCCH công nhận toàn bộ bản tuyên bố của Trung Quốc 10 ngày trước đó, trong đó Trung Quốc xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo quanh vùng kể cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hình 1 – Lá thư Phạm Văn Đồng

Trung Quốc kèm theo bản tuyên bố này (hình 2) một bản đồ 9 gạch [1], gọi là “baseline map”, dọc theo hải phận của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, và tuyên bố bên ngoài đường căn bản này là “nội hải” (internal sea) hay là “Lưỡi Rồng Trung Quốc”. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đã nêu một số tài liệu khác do chính VNDCCH phổ biến để làm bằng cớ về sự thỏa thuận nhượng biển của Hà Nội. Trong một bài viết, dưới tiêu đề “The Issue of South China Sea” do bộ Ngoại Giao Trung Quốc phổ biến vào tháng 6 năm 2000(2), có một số đoạn liên hệ đến Việt Nam như sau:

- Prior to 1975, Vietnam had, in explicit terms, recognized China’s territorial integrity and sovereignty over the Nansha Islands.
- Vietnam acknowledged the Nansha Islands as being China’s territory in its world maps published in 1960 and 1972 as well as its textbooks published in 1974.
- Vice Foreign Minister Dung Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d’affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that “according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory.” Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that “judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty.”
- Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail on September 6, 1958 the Chinese Government’s Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People’s Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People’s Republic of China, including all islands on the South China Sea. On September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam “recognizes and supports the Declaration of the Government of the People’s Republic of China on China’s territorial sea.”.
- It is stated in the lesson The People’s Republic of China of a standard Vietnamese school textbook on geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China.


Hình 2 – Tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải
DECLARATION OF THE GOVERNMENT OF THE PEOPLE’S REPUBLIC OF CHINA ON THE TERRITORIAL SEA
(Approved by the 100th Session of the Standing Committee of the National People’s Congress on 4th September, 1958)

The People’s Republic of China hereby announces:

(1) This width of the territorial sea of the People’s Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People’s Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

(2) The straight lines linking each basic point at the mainland’s coasts and offshore outlying islands are regarded as base lines of the territorial sea of the mainland China and offshore islands. The waters extending twelve nautical miles away from the base lines are China’s territorial sea. The waters inside the base lines, including Bohai Bay and Giongzhou Strait, are China’s inland sea. The islands inside the base lines, including Dongyin Island, Gaodeng Island, Mazu Inland, Baiquan Island, Niaoqin Island, Big and Small Jinmen Islands, Dadam Island, Erdan Island and Dongding Island, are China’s inland sea islands.

(3) Without the permit of the government of the People’s Republic of China, all foreign aircrafts and military vessels shall not be allowed to enter China’s territorial sea and the sky above the territorial sea.

Any foreign vessel sailing in China’s territorial sea must comply with the relevant orders of the government of the People’s Republic of China.

(4) The above provisions (2) and (3) also apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

Taiwan and Penghu are still occupied with force by the USA. This is an illegality violating the People’s Republic of China’s territorial integrity and sovereignty. Taiwan and Penghu are waiting for recapture. The People’s Republic of China has rights to take all appropriate measures to recapture these places in due course. It is China’s internal affairs which should not be interfered by any foreign country.


Về phương diện lãnh thổ:

Chứng cớ rõ nhất về việc Hà Nội đã nhượng đất cho Bắc Kinh trước năm 1979 là bức ảnh “Mục Nam Quan” mà nhiều người lầm tưởng là cổng Nam Quan. Đối chiếu các nguồn tin trao đổi trên các diễn đàn ảo trong nửa năm qua, người viết phỏng đoán tòa công sự “Mục Nam Quan” đã được xây lên vào khoảng thời gian từ 1960 đến 1966, có nguồn tin viết là do Tân Gia Ba xây cho Trung Quốc. Trước khi qua đời, Chủ Tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc Mao Trạch Đông đã đến cắt băng khánh thành công sự mới và đặt tên cho nó là “Mục Nam Quan” (ý họ Mao ám chỉ là cổng hòa thuận ở phia nam – the southern peace gate), còn Chủ Tịch VNDCCH Hồ Chí Minh thì đặt tên là “Hữu Nghị Quan” (cổng tình bạn – the friendship gate). Căn cứ vào hình ảnh, các bài viết của những người từng đến thăm công sự này, đồng thời quan sát địa hình của toàn vùng cùng với đường biên giới trên các bản đồ, người viết có thể kết luận rằng công sự mới nằm về phía nam của ải Nam Quan. Vị trí mới này nằm trên đồng bằng sông Kỳ Cùng, cách biên giới và cổng Đại-Nam Quan cũ của Việt Nam khoảng 5 km.

Chứng cớ về vụ sang nhượng lãnh thổ vùng này sẽ được trình bày cặn kẽ sau.

Nhân đây cũng xin ghi chú là danh từ “Hữu Nghị Quan” nay không còn được các viên chức nhà nước VN (như ông Lê Công Phụng chẳng hạn) sử dụng cho công sự ấy nữa, vì họ đã nhất trí gọi theo tên “Mục Nam Quan” mà họ Mao đã đặt. Thay vì vậy, họ đã dùng danh từ “cổng Hữu Nghị” để gọi cái trạm kiểm soát nhỏ do phía VN cất lên, cách Mục Nam Quan khoảng 500 m về phía nam.

Chứng cớ về vụ Trung Quốc tiếp tục lấn chiếm thêm bờ cõi Việt Nam sau năm 1979 có thể được phát giác vào những năm đầu thập niên 1990, khi Trung Quốc bắt đầu cuộc tháo gỡ hàng triệu quả mìn trên cả hàng ngàn cây số vuông dọc biên giới mà họ đã rải ra khi triệt thoái vào năm 1979 [3].

Cuộc gỡ mìn được Trung Quốc tiến hành từ phía bắc xuống, theo chiến thuật vừa gỡ vừa chiếm đóng. Khi một vùng vừa được gỡ xong, các viên chức TQ lại phân chia cho những người Trung Hoa tiên phong làm đơn xin sở hữu vùng đất mới. Trong khoảng thời gian 5 năm từ 1992 đến 1997, hàng ngàn người Hoa đã định cư tại các vùng đất mới cấp này.

Thế nhưng các vùng đất mới đó đã từng là đất đai của thổ dân Việt Nam. Năm 1979, lúc quân Trung Quốc tràn qua, nhiều người đã phải chạy về phương nam. Sau khi quân TQ rút lui, họ vẫn không thể trở về vì đất cũ của họ bị rải mìn (hình 3). Sau khi mìn đã được gỡ xong thì họ trở về muốn lấy lại đất đai mà họ đã canh tác trước khi chiến tranh. Song vì các vùng đó đã bị những người lạ đến chiếm mất rồi, nên nhiều người đã phẫn nộ, cương quyết đòi lại. Chính vì vậy, trong thời gian đó các cơ quan thông tấn quốc tế thường loan tin về những trận chiến nhỏ dọc biên giới mà nhà nước Việt Nam gọi là “tranh chấp” [4].

Hình 3 – Một vùng đất ở Đồng Đăng bị TQ gài mìn trước khi rút lui năm 1979

Trước các chứng cớ rõ ràng về sự nhân nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho Trung Quốc, đảng CSVN đã bị nhiều người am hiểu vấn đề lên tiếng phản đối, tạo nên một phong trào rầm rộ chưa từng có. Từ đầu năm 2002 đến nay, các cuộc chống đối các hiệp ước phi pháp Việt Trung đã được tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau. Với phương tiện thông tin rộng lớn ở hải ngoại, việc tổ chức, vận động cuộc phản đối càng ngày càng dễ dàng hơn trước. Chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, người Việt thống nhất ý chí như thế. Họ đã nhận thấy đất đai tổ tiên đã và đang bị sang nhượng cho ngoại bang hết lần này đến lần khác một cách có hệ thống. Họ cũng nhận rõ rằng thành phần lãnh đạo đảng CSVN đã đặt quyền lợi của đảng và cá nhân cao hơn nhiệm vụ bảo vệ các di sản quý báu của Việt Nam.

II. Phản ứng của đảng Cộng Sản Việt Nam

THỨ BẢY 14 THÁNG MƯỜI HAI 2002

Từ một năm qua, áp lực của sự chống đối mạnh mẽ của dân chúng càng ngày càng tăng đã tạo nên hậu quả là Hà Nội phải đưa ra một số biện pháp như sau:

1- Những vụ bắt giữ và hù họa.

Vào ngày 21 tháng 2, 2002, cơ quan thông tấn VNN đã đăng bản tin từ Việt Nam gởi sang, loan báo về việc nhà nước đã bắt giữ hoặc giam tại gia những người đã lên tiếng báo động về các hiệp ước Việt Trung, như các ông Lê Chí Quang, Trần Khuê, Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Minh Quốc, Vũ Cao Quận, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, và Nguyễn Đan Quế. Đa số những vụ bắt giữ hay quản thúc tại gia đều không có bản án, ngoại trừ trường hợp Luật gia Lê Chí Quang đã bị bắt giữ, buộc tội “tuyên truyền chống chế độ”, vi phạm điều 88 Bộ Luật Hình Sự, đã bị đưa ra tòa, chỉ vì ông đã viết bài dưới tựa đề “Hãy Cảnh Giác Bắc Triều” để báo động với đồng bào về những nhân nhượng của chế độ đối với sự xâm lấn liên tục của Trung Quốc.

Ngoài những bắt bớ được tiết lộ ra hải ngoại, người ta cũng chú ý đến sự im lặng của hàng chục người khác đã từng lên tiếng hoặc ký thư chung gởi cho quốc hội và nhà nước để phản đối các bản hiệp ước. Bây giờ họ đang ở đâu? Họ đang bị chế độ trù dập thế nào? Có ai nghe thấu được lời kêu than của họ không?

2- Vụ phản luận đầu tiên của ông Lê Công Phụng.

Song song với các bắt bớ và hăm dọa, nhà nước Việt Nam cũng phát động các cuộc phản luận hầu tranh thủ dư luận.

Phần lớn các vụ phản luận xuất phát từ các viên chức nhà nước, như ông Lê Công Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam, trưởng phái đoàn thương thuyết với Trung Quốc, bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao, và các bản tin đăng trên trang web của Quốc Hội.

Trong bài phỏng vấn lần đầu ngày 27-1-2002 do Thu Uyên của cơ quan VACS Orient đưa lên internet, ông Lê Công Phụng cho biết rằng mục đích của Hiệp Ước 1999 là xác định lại đường biên giới theo Hiệp Ước Pháp Thanh ký vào năm 1887. Ông Phụng đã nói một câu đáng chú ý nhất là:

“Một nhu cầu rất bức bách là phải phân định lại biên giới cho rõ ràng. Như tôi đã nói, do biến thiên về thiên nhiên, khi phân định cách đây 100 năm thì đường biên giới đi qua một quả đồi; nhưng hơn 100 năm qua, quả đồi này biến mất và lại xuất hiện quả đồi khác. Mà đường biên giới tự nhiên nó phải đi theo địa hình.”

Lời tuyên bố này cho thấy tính chất phi lý trong lập luận của một viên chức cao cấp của nhà nước:

- Không thế nào chỉ một trăm năm mà một quả đồi có thể … “biến mất” một cách dễ dàng. Một quả đồi có thể bị thay đổi hình dáng do sự khai khẩn, trồng trọt lâu ngày, độ cao thấp xuống một chút, hoặc do việc khai khẩn các mỏ quý mà ngọn đồi bị đào mất đi, hoặc do sự san bằng để xây đường xá. Điều này rất khó xảy ra tại vùng biên giới trong 100 năm qua, vì trong thời gian này làm gì có các máy móc cơ giới tân tiến san núi non hiểm trở thành bình địa như thế.

- Nhưng hiện tượng quả đồi khác “xuất hiện”, thì tuyệt đối không thể xảy ra được, ngoại trừ trường hợp động đất. Nếu không động đất thì phải mất cả ngàn năm mới có được sự biến đổi như thế.

- Đã thế, biên bản mới lại căn cứ vào các ngọn đồi mới mà cắm mốc, như vậy nhà nước không sợ sau 100 năm thì các ngọn đồi ấy lại “biến mất” và lại phải sử dụng các ngọn đồi khác nằm sâu trong nội địa Việt Nam để cắm mốc nữa hay sao?

- Không thể có luật lệ quốc tế nào áp dụng kiểu “đường biên giới tự nhiên nó phải đi theo địa hình”. Lý luận này chứng tỏ không những ông Trưởng Đoàn Phân Định Biên Giới thiếu kiến thức về khoa địa hình, mà còn không đọc kỹ biên bản Hiệp Ước 1999. Điều V (5) của Hiệp Ước 1999 ghi rõ:

“Bất kỳ sự thay đổi nào có thể xảy ra đối với sông suối biên giới đều không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới Việt – Trung đã được xác định trên thực địa cũng như sự quy thuộc của các cồn, bãi, trừ khi hai bên ký kết có thỏa thuận khác.”

Những người có chút kiến thức về khoa địa hình học (Geography) đều biết rằng bản đồ địa hình (geographic maps) được vẽ bằng hệ thống tọa độ (coordinate system) gồm kinh độ (longitude) và vĩ độ (latitude). Ngày nay, các bản đồ loại này còn được kiến tạo qua hệ thống GPS (Global Positioning System) chụp từ satelites, vẽ ra các đường cao độ (elevation contours) khá chính xác với khoảng cách (interval) 10 mét cho loại bản đồ có tỷ lệ 1:50000.

Biên bản Hiệp Định Pháp-Thanh ký vào năm 1891, sau khi hoàn tất việc cắm mốc biên giới căn cứ theo bản văn HĐ 1887, chỉ diễn tả khái quát về vị trí đối chiếu với đỉnh núi hay địa danh, để giúp người ta dễ dàng tìm ra cột mốc đã đóng, chứ không có mục đích căn cứ vào biên bản mà vẽ bản đồ. Tuy nhiên, biên bản 1891 đã ghi rằng có ba bản đồ đã được các Ủy Viên ký tên và niêm phong:

“Mỗi bản đồ có bốn bản sao, 2 bản sao do các nhà địa hình học Trung Hoa thực hiện, 2 bản sao do các nhà địa hình học Pháp thực hiện. Một bản sao của Trung Hoa đã được Chủ tịch Trung Hoa giao lại cho Chủ tịch Pháp và một bản sao của Pháp đã được Chủ tịch Pháp giao lại cho chủ tịch Trung Hoa. Biên bản được làm bằng tiếng Pháp và tiếng Hoa, mỗi ủy ban sẽ giữ các bản sao bản đồ và biên bản để làm tin” [5].

Các bản đồ đó mới chính là các tài liệu để ấn định đường ranh giới. Khi một cột mốc bị dời đi hay phá hủy, thì bản đồ sẽ được dùng để dựng lại cột mốc mới theo tọa độ ghi trên bản đồ. Như vậy, muốn vẽ đường biên giới trên bản đồ mới thì chỉ cần đi tìm các bản đồ cũ của HĐ Pháp – Thanh lưu trữ trong các thư khố của các nước Trung Quốc và Pháp (và có lẽ tại Hà Nội). Nói một cách khác, các bản đồ địa dư của Việt Nam thực hiện trước năm 1954, chẳng hạn như bản đồ của Nha Địa Dư thời Pháp thuộc để lại cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (kế thừa chế độ Quân Chủ của triều Nguyễn) chắc chắn đã được sao lại hay dựa theo bản đồ biên giới mà Pháp đã ký kết. Nếu theo phương pháp đó, thì việc vẽ lại đường biên giới theo HĐ Pháp Thanh trên các bản đồ hiện đại không còn khó khăn nữa. Và để thực hiện các cột mốc mới, vì các mốc cũ đã bị lính Trung Quốc dời chỗ năm 1979 mất rồi, thì chỉ cần theo tọa độ của các dấu thập trên bản đồ mà mướn các chuyên gia trắc lượng (surveyors) quốc tế đi đánh dấu trên đất liền là xong. Đất đai của quốc gia là vấn đề tối hệ trọng, dù có tốn tiền mướn chuyên gia giỏi để làm việc cho đúng và giá trị lâu dài, thì cũng đáng lắm.

Trong bài phỏng vấn 27-1-2002, ông Lê Công Phụng đã xác nhận đường biên giới căn cứ vào Hiệp Định 1887, nghĩa là ban Phân Định Biên Giới của ông đã có các bản đồ Pháp-Thanh vẽ ra vào năm 1891. Vậy chỉ cần scan và đưa các bản đồ ấy lên internet là đủ rồi, không cần giải thích. Các chuyên gia về địa hình sẽ căn cứ vào các dấu thập trên bản đồ cũ để vẽ lại đường ranh giới trên các bản đồ mới với các dữ kiện về địa hình chi tiết hơn. Đường biên giới sẽ bao gồm các yếu tố sau: (1) tọa độ của các cột mốc, (2) hướng đi (với những con số chính xác độ, phút, giây), và (3) khoảng cách giữa hai cột mốc. Như vậy đường biên giới theo hệ thống lưới tọa độ toàn cầu sẽ hoàn toàn độc lập với địa hình như núi non, sông suối. Dù sau này sông núi có biến đổi thì đường biên giới vẫn còn nguyên, vì nó dựa trên hệ thống lưới tọa độ. Có được các chi tiết này, các toán trắc lượng sẽ dễ dàng đánh dấu trên mặt đất hoặc hai bên bờ nước nếu đường biên giới cắt ngang dòng. Việc đơn giản và khoa học như thế mà tại sao cho đến nay đảng CSVN vẫn triệt để dấu kín các bản đồ mà họ nói là đã có?

3- Lời tuyên bố của bà Phan Thúy Thanh.

Bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao, trong cuộc tiếp xúc với báo chí vào ngày 6 tháng 2, 2002, đã tuyên bố rằng “việc phân chia biên giới được thực hiện trên nguyên tắc công bằng”. Tuy nhiên, bà Thanh đã không đưa ra một dẫn chứng cụ thể hay tài liệu nào để cho thấy nguyên tắc phân chia biên giới ra sao, có lẽ vì đó không thuộc phần hành của bà. Vì vậy, những lời tuyên bố của bà Thanh không hữu ích gì cả cho công việc đi tìm dữ kiện về biên giới, và không cần sự phân tích.

4- Bản tin trên trang web Quốc Hội CSVN ngày 3-4-02.

Theo bản tin do Quốc Hội chính thức phổ biến, ngày 2 tháng 4 là ngày chót của kỳ họp thứ 11, Quốc Hội khóa 10, có đầy đủ các viên chức lãnh đạo tối cao của đảng và nhà nước CSVN tụ họp để nghe Ngoại Trưởng Nguyễn Dy Niên tường trình về hai Hiệp Ước 1999 và 2000. Căn cứ theo bản tin thì hoàn toàn không có thảo luận gì đối với một vấn đề tối quan trọng của quốc gia và dân tộc, cũng như chẳng có ai được phép chất vấn gì về nội dung của Hiệp Ước 1999. Như vậy, theo tin tức tài liệu ngoại quốc, ngoài Ủy Ban Thường Vụ của Quốc Hội đã phê chuẩn vào ngày 9-6-00, còn toàn thể đại biểu đoàn thì vẫn chưa được biết nội dung. Ngược lại, Nghị Quyết 36/2000/QH10 ngày 9-6-2000 thì ghi là Quốc Hội đã phê chuẩn Hiệp Ước. Một bản văn quan trọng như thế mà dân không được biết, đại biểu Quốc Hội không được phóng bản để nghiên cứu trước khi “biểu quyết”, thì sao gọi là có tính dân chủ được?

5- Hệ thống tuyên truyền trí vận của CSVN tại hải ngoại.

Hiện nay, Hà Nội đang chỉ thị cho hệ thống trí vận hải ngoại của đảng ra sức tuyên truyền về những lợi ích của Hiệp Ước 1999. Điển hình là câu nói hầu như thuộc lòng của những nhà ngoại giao VN, như sau:

“Việc ký hiệp ước biên giới trên đất liền với Trung Quốc đã góp phần tạo môi trường thuận lợi chung quanh Việt Nam, tăng cường sự tin cậy và quan hệ hợp tác toàn diện với Trung Quốc theo khuôn khổ đã được xác định là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai.”

Mặt khác, họ cũng ra sức tuyên truyền về nguồn gốc của người Việt vốn xuất phát từ Trung Hoa. Điển hình là tờ truyền đơn (hình 4) dán trên vài khu thương mại người Việt tại Toronto, nhân dịp người viết đến thuyết trình về “Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam” vào tháng 4, 2002.

Hình 4 – Trích dẫn từ tờ truyền đơn tại Toronto, tháng 4, 2002

Song song với các phản luận chính thức của nhà nước CSVN, người ta thấy một vài nhân vật tại hải ngoại sử dụng “bút hiệu” để viết một số bài với luận cứ hỗ trợ cho luận điệu của nhà nước CSVN. Nhiều người cho rằng các nhân vật đó đã thi hành theo một kế hoạch trí vận của CS tại hải ngoại. Người viết không có đủ phương tiện tìm hiểu xem sự cáo buộc đó chính xác ra sao, hay là các tác giả đó chỉ hành động vô ý thức và vô tình nằm trong quỹ đạo của CSVN. Vì vậy, người viết không thể nêu đích danh hoặc bút hiệu của những tác giả, cũng như tựa đề của các bài viết hỗ trợ cho luận điệu của Hà Nội, mà chỉ xin tóm lược một vài dữ kiện để dư luận phán xét.

Trước hết là một “nhà bình luận thời cuộc”, dùng tên họ người Tàu làm bút hiệu, viết một bài tham khảo với những ngôn từ khá nghiêm túc, đăng trên một website, được lồng trong hình thức “thu thập dữ kiện” mà tác giả cho là “khả tín” với nhiều tài liệu do nhà nước CSVN phổ biến, để dẫn chứng cho luận cứ của mình. Bài báo có những đặc diểm sau đây:

- Nêu nghi vấn về dữ kiện để từ đó lập luận cho rằng các bài viết lên án chế độ CSVN là “thiếu trung thực” và không đáng tin.

- Biện luận để tạo sự tin tưởng đối với các lời tuyên bố của ông Lê Công Phụng nhưng lại tránh né sự phân tích tính cách giấu giếm trong lời nói của ông Phụng mà nhiều người vạch ra.

- Nêu nghi vấn về các con số “trên 700 km2″ và cho các dữ kiện của ông Lê Công Phụng có độ chính xác cao hơn.

- Trích dẫn những “đối thoại” giữa những cán bộ CS từng bị nhà nước khai trừ, về sự chính xác của diện tích tranh chấp là 224 km2 giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Nhân vật thứ hai sử dụng nhiều bút hiệu, trong số đó cũng có bút hiệu của người Tàu, và viết nhiều bài báo hơn. Hầu hết các bài viết có đặc tính sau:

- Tác giả cho ông Lê Công Phụng được hưởng đặc quyền khả tín (benefit of the doubt) của một viên chức nhà nước. Theo tác giả này, trong khi chưa có ai đưa ra được bằng cớ chứng minh ông Phụng sai chỗ nào, thì những lời nói của ông Phụng mặc nhiên phải có mức độ chính xác cao.

- Mặt khác, tác giả lại đả phá các bài viết báo động về việc làm của Hà Nội, chỉ vì các bài này chưa có được các tài liệu mà Hà Nội đang cố giấu như hiệp ước, bản đồ, v.v…

- Tác giả trích dẫn phiến diện sử sách xưa để lập luận rằng cả vùng Ải Nam Quan và Cổng Nam Quan luôn luôn là của Trung Quốc chứ chưa hề là của Việt Nam.

- Tác giả dùng mọi biện luận để chứng minh Ải Nam Quan “thuộc Tàu”; điển hình nhất là định nghĩa chữ “Nam Quan” là “cửa nam” và từ đó cho rằng nếu cửa đó là của Việt Nam thì phải gọi nó là “Bắc Quan”!

Điểm khác biệt với tác giả thứ nhất là vị thứ hai còn kèm vào các bài viết của mình những ngôn từ mỉa mai, miệt thị, khinh bạc, đả phá các phong trào ái quốc hải ngoại, đồng thời dẫn dụ dư luận vào các cuộc tranh biện về sự mất còn của Ải và Cổng Nam Quan. Tuy tuyên bố mình “tôn trọng pháp lý và sự thật” nhưng vị này lại nỗ lực lập luận kiểu “cưỡng từ đoạt lý”, và trích dẫn sai lạc tài liệu cũ về Ải Nam Quan mà không đính kèm các bản sao, cho dù đã bị người khác thách thức trên internet.

Trong một thời khoảng nào đó, hai tác giả nói trên đã tạo nên những hoài nghi đối với công cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Họ, cũng như bộ phận trí vận của CSVN tại hải ngoại, sẽ ảnh hưởng về lâu về dài như thế nào? Họ có thể dẹp tắt được cuộc tranh đấu không? Viễn ảnh này tùy thuộc vào sự sáng suốt của những nhà tranh đấu trong việc tranh thủ dư luận quốc tế cũng như việc hướng dẫn, thông tin trung thực cho đồng bào trong và ngoài nước.

Rất nhiều người đã lên tiếng phản kháng lại các luận điệu sai lầm của hai kẻ đã viết bài bênh vực cho đảng CSVN. Người viết đặc biệt chú trọng đến hai vị với các tài liệu có mức độ xác tín cao và trùng hợp với những tài liệu mà người viết có được.

Tác giả thứ nhất là GS Nguyễn Phúc Liên, với một bài đăng trên các diễn đàn nghị luận của người Việt, trong đó ông cho biết đã về VN năm 1995, thăm viếng và chụp hình tận nơi. Ông cũng đăng lên một bức hình của Nha Địa Dư VNCH, ấn hành năm 1956, theo bản đồ Việt Nam của thời Quân Chủ để lại. Đáng tiếc là có lẽ vì không rõ, bản đồ này đã bị sửa chữa một chút, khiến các chữ thập nhỏ biểu thị đường biên giới ở Đồng Đăng bị lõm quá sâu vào nội địa Việt Nam. Sự thật, đường biên giới trên bản đồ của Nha Địa Dư cắt ngang Quốc Lộ 1 tại đầu chữ “Ải Nam Quan”. Lúc bấy giờ Hiệp Ước 1999 chưa được ký kết, tuy nhiên, những nơi mà GS Liên đã đến có lẽ không phải là vị trí nguyên thủy của Ải Nam Quan 100 năm về trước. Đó chỉ là biên giới mới, cách biên giới cũ khoảng 6-8 km về phía nam, phản ảnh hậu quả của hai cuộc xâm lấn của Trung Quốc: Lần đầu do Hà Nội đã thỏa thuận với Bắc Kinh trong khoảng thời gian 1956 đến 1960, để đánh đổi vũ khi xâm chiếm miền Nam; lần sau là sự lấn chiếm của Trung Quốc sau khi gỡ mìn từ 1993 – 1995, vì vậy mà cả vùng mang sắc thái mới được khai hoang như các tấm hình của ông cho thấy. Rất tiếc trong số những tấm hình ông chụp được lại không mang hình ảnh nào của lịch sử, như cổng Nam Quan, Mục Nam Quan, hay các bờ đá trên đỉnh núi. Điều này cũng dễ hiểu vì các vị trí lịch sử lúc đó đã thuộc cả về địa phận của Trung Quốc rồi.

Vị thứ hai lấy bút hiệu là T-54, đã viết một bài phân tích dưới hình thức email trên các diễn đàn. Tuy nhiên, sự hiểu biết lịch sử Việt Nam của vị này khá chính xác, chứng tỏ một khả năng sưu tầm tỷ mỷ và một hệ thốnglậpluận khá thuận lý (logical). Những chi tiết mà người viết đồng ý là chính xác nhất là:

- Các vị trí của cửa ải Nam Quan trước và trong thời Pháp thuộc nằm giữa hai rặng núi dài 7 km, phía nam vùng Pingxiang (Bằng Tường). Vùng này chưa xuất hiện trên bản đồ Nha Địa Dư (làm khoảng 1950, in lại năm 1956), nhưng có tên trong bản đồ USGS 1967.

- Vị trí của cổng Hữu Nghị nằm sâu về phía nam, bên ngoài hai rặng núi, gần Đồng Đăng. Làng “Hữu Nghị” trước cuộc chiến 1979 còn thuộc về VN nhưng hiện nay đã thuộc về Trung Quốc.

6- Vụ phản luận thứ hai của ông Lê Công Phụng

Dưới áp lực ngày càng gia tăng của quần chúng, ngày 29-8-02, nhà nước đã đưa lên trang web của Nhật Báo Nhân Dân một bản văn và công bố như là “nguyên văn” bản “Hiệp Ước Về Biên Giới Trên Đất Liền Việt Nam – Trung Quốc”. Rồi tiếp theo, cũng trên trang web đó, lại xuất hiện một bài phỏng vấn ông Lê Công Phụng lần thứ hai, đăng từ ngày 13 đến 15 tháng 9.

Đọc bản văn và bài phỏng vấn, hầu như tất cả các học giả đều không thể đồng ý với những điều ông Phụng đã nói. Nhiều người đã cho rằng nhà nước CSVN vẫn còn tiếp tục che dấu những gì mà đồng bào đều muốn biết: Sự thật ở đâu?

Trước khi phân tích bản văn và bài phỏng vấn, chúng ta hãy ghi nhận tổng quát như sau:

- Bản văn Hiệp Ước 1999 được công bố sau 2 năm 8 tháng kể từ ngày hai bên ký kết. Sự “tiết lộ” chậm trễ này cùng với sự thiếu vắng bản đồ chứng tỏ chế độ đang ra sức che dấu sự thật càng lâu càng tốt.

- Bài phỏng vấn không những chứa toàn là những biện bác, mà còn có những lời lẽ công kích, miệt thị, và lên án những ai đã lên tiếng phản kháng hành động sai trái của chế độ. Cả người phỏng vấn lẫn ông Phụng đều gọi những người phản kháng là “bọn phản động”.

- Ngược với thái độ thù hận đối với những người cùng nòi giống, ông Lê Công Phụng lại không tiếc lời ca ngợi người bạn tốt Trung Quốc, xưng tụng “tình hữu nghị muôn đời bền vững”. Thái độ này chứng tỏ: một là kiến thức của ông Phụng quá kém cỏi nên không biết rằng lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài chống đỡ các cuộc xâm lăng liên miên của “kẻ thù phương bắc”, hai là ông Phụng dư biết sự thật đó nhưng không đủ sức đề kháng mà phải nói theo lệnh của cấp lãnh đạo đảng.

III. Phân tích về biên bản Hiệp Ước 1999 

1- Nhận xét về nội dung của bản văn Hiệp ước 1999

Bản văn ấn định 62 giới điểm trên 1437 cây số đường biên giới giữa hai nước. Mỗi điểm sẽ được đánh dấu vị trí bằng một cột mốc vĩnh viễn (permanent pillar). Cột mốc đầu tiên mang ký hiệu 1369, cao 2.2 m, rộng 50 cm, làm bằng đá hoa cương, được cắm tại đầu cầu Bắc Luân thị xã Móng Cái, đã được khánh thành vào ngày 27-12-01. Theo trưởng ban Biên giới bộ Ngoại Giao CSVN Trần Trung Trực, khoảng 1400 cột mốc sẽ được cắm dọc biên giới.

Trên phương diện kỹ thuật của ngành trắc lượng (surveying) và địa đồ (geographic map), thì việc ấn định đường biên giới trên bản đồ mới dựa trên bản đồ cũ phải theo một tiến trình gồm các giai đoạn sau:

(1) Thực hiện bản đồ mới có đường cao độ (elevation contours), các cao điểm (elevation points of mountain peaks), và hệ thống lưới tọa độ (coordination system) gồm kinh tuyến (longitude) và vĩ tuyến (latitude). Bản đồ mới phải có cùng tỷ lệ với bản đồ cũ. Độ chính xác có thể chấp nhận được là từ 1:50000 hoặc lớn hơn (nghĩa là mẫu số nhỏ hơn, thí dụ 1:10000 chẳng hạn).

(2) Trên một cái bàn kiếng có đèn sáng ở phía dưới, đặt bản đồ mới chồng lên bản đồ cũ, lấy đường ven biển Việt Nam, đảo Hainan, và đường chính các sông lớn để làm chuẩn. Kế tiếp, vẽ đường biên giới cũ lên trên bản đồ mới. Đường biên giới được nối với nhau bằng các đường thẳng nhỏ có các điểm góc (angle points). Các điểm góc này được gọi là “giới điểm”, hay là “điểm biên giới”. Dùng phép toán nội-suy (interpolation) từ các đường cao độ để tính ra cao độ (elevation) của các giới điểm. Từ một giới điểm, dùng thước đo 3 khoảng cách chính xác đến 3 đỉnh núi có cao độ ở gần giới điểm. Như vậy, một cách đảo ngược, giới điểm sẽ được ấn định bởi giao điểm của ba vòng tròn có bán kính là 3 khoảng cách đã đo. Kết quả của giai đoạn này là đường biên giới được vẽ trên bản đồ địa hình mới với đầy đủ lưới tọa độ, các cao điểm và các đường cao độ.

(3) Viết bản văn diễn tả mỗi giới điểm căn cứ trên 3 khoảng cách đã đo và con đường nối các giới điểm với nhau. Vì trên mặt đất, con đường giữa hai giới điểm khá xa nên dĩ nhiên không là đường thẳng và phải qua nhiều điểm góc phụ. Nhằm mục đích dễ nhận diện, bản văn ghi lại các dữ kiện về các điểm góc phụ giữa các giới điểm như dòng sông, sống núi, mũi đá, v.v… hoặc những cao điểm được tính từ phương pháp nội suy kể trên. Đây là biên bản được kèm theo hiệp ước, cùng với bản đồ mới, như là một phần bất khả phân của hiệp ước.

(4) Toán trắc lượng đo đạc (survey team) sẽ chấm tọa độ (coordination) của các giới điểm, rồi vẽ đường thẳng từ giới điểm đến một công sự (monument) có sẵn tọa độ ở gần đó. Đường thẳng này sẽ được tính ra bằng hướng độ và khoảng cách (bearing and distance). Toán trắc lượng sẽ đến tận nơi các công sự đã có sẵn tọa độ, căn cứ vào các đường có hướng độ và khoảng cách để ấn định và xây cột mốc các giới điểm trên đất liền. Rồi từ các giới điểm này đo đạc tiếp để tiến tới giới điểm kế tiếp, và so sánh với tọa độ đã được chấm trên bản đồ để điều chỉnh sự chính xác.

(5) Sau khi hoàn tất các cột mốc thì toán trắc lượng đã có một biên bản chi tiết (detailed record) gồm hệ thống tọa độ với hướng đi, khoảng cách, và cao độ (Coordination system with bearings, distances and elevations). Biên bản này phản ảnh địa hình thực tế của các giới điểm và đường nối các giới điểm trên bản đồ. Biên bản này cùng với bản văn ở giai đoạn 3 và bản đồ ở giai đoạn 2 là những tài liệu bất khả phân của Hiệp Ước.

Hiện nay, việc thực hiện đường biên giới Việt Trung đang ở giai đoạn số 4, nhưng còn lâu mới hoàn tất được giai đoạn này. Bản văn của Hiệp Ước 1999 mà nhà nước CSVN vừa công bố chỉ là kết quả của giai đoạn số 3. Họ lại không kèm theo bản đồ mới và cũ của giai đoạn 2, nên các chuyên gia khó mà biết thực hư giữa hai bản đồ cũ và mới khác nhau thế nào. Cho dù có bản đồ giai đoạn 2, thì hai bên vẫn có thể thông đồng với nhau để đặt cột mốc khác với bản đồ, vì vậy mà biên bản ở giai đoạn 5 cũng cần được xem là một biên bản công cộng (public record) để bất cứ ai cũng có quyền kiểm kê về sau này.

Trở lại Hiệp Ước 1999, khảo sát kỹ bản văn hiệp ước, người ta có thể nhận thấy sự diễn tả mỗi đường biên giới giữa các cột mốc rất mù mờ và mâu thuẩn. Hãy trích dẫn một đoạn:

“Từ giới điểm số 3, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi (1), hướng Tây Bắc đến điểm có độ cao 1933, sau đó theo đường phân thủy (2) giữa các nhánh thượng lưu là các suối Là Pơ, Là Si, Á Hu, Nậm sau, …, Nậm Pảng đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu các sông Zhe Dong, Ha Luo luo Ba, …, Jin Thui đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam rồi chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao (3) 1690, 1975, 1902,…., 1800 đến điểm có độ cao 1519, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Đông đến chỏm núi không tên (4), rồi theo sống núi nhỏ, hướng Đông đến giới điểm số 4….”

Sau đây là nhận xét về đoạn trên:

(1) Trên thực tế, không thể có trường hợp sống núi nằm ngay bờ sông.

(2) Không thể có trường hợp một độ cao 1933 rồi nhảy ngay xuống “đường phân thủy giữa các nhánh” của vài chục con suối của cả hai nước. Theo sự diễn tả, cho dù có sự hy hữu như thế, thì đó là một đỉnh núi trơ trọi xuất phát các khe nước nguồn gốc của các nhánh, và thường thì ngọn núi cao như thế phải có tên và chung quanh là bình nguyên cả. Điều này không thể có với rặng núi Hoàng Liên Sơn trùng điệp từ bao đời của đất nước VN.

(3) Các hướng đi Đông Bắc, Đông Nam, rồi Đông Bắc qua vài chục cao điểm trước khi đến giới điểm 4, mà chẳng có khoảng cách gì cả, thì làm sao mà 2 toán Việt và Trung có thể vẽ được một đường biên giới với độ chính xác là chỉ cách biệt nhau có 227 km2 mà thôi?

(4) Chỏm núi không tên và cũng không có cao độ thì làm sao mà kiếm được trên bản đồ hay đất liền? Sự diễn tả đó thật là vô ích khi cho vào bản văn của Hiệp Ước.

Tóm lại một bản văn có thể được dùng để vẽ đường biên giới trên một bản đồ mới nếu: (a) bản văn có ghi hệ thống tọa độ, hướng đi và khoảng cách giữa các giới điểm, (b) sự diễn tả đó là sự thật căn cứ trên bản đồ, và (c) có hiện hữu của các bản đồ ghi các cao độ và tên các địa danh trong bản văn mà hai quốc gia đã dùng. Ngược lại, vì thiếu các chi tiết cần thiết nên đường biên giới Việt Trung không thể được vẽ ra để kiểm chứng thực hư ra sao. Hiện nay nhà nước CSVN vẫn triệt để che dấu các bản đồ, mặc dù bản văn ghi rõ:

“Bộ bản đồ nói trên đính kèm Hiệp-ước này là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp-ước.”

Vậy thì vì lý do gì mà bản đồ bị dấu kín? Rồi đây những bản đồ ấy sẽ được đưa lên internet hay được phát hiện ở đâu đó hay chăng?

2- Sự thật đằng sau hai bài phỏng vấn ông Lê Công Phụng.

Trong bài phỏng vấn, ông Phụng cho biết biên bản dựa theo Hiệp Định Pháp-Thanh 1887. Đó là một tiết lộ lý thú. Sau đây là một số phân tích dựa trên bản văn và lời tuyên bố của ông Phụng cũng như của Trung Quốc:

- Thứ nhất, để buộc Việt Nam thuận theo một hiệp ước mới, Trung Quốc đã bác bỏ HĐ 1887 với lý do rằng nhà Thanh lúc bấy giờ (hậu bán thế kỷ 19) quá yếu nên đã chịu ký hiệp định bất bình đẳng, nhường nhiều đất đai cho Pháp, kẻ nhân danh là “chính phủ bảo hộ” của Việt Nam. Tại sao hiện nay TQ đang ở thế thượng phong đối với VN về mọi mặt, mà lại chịu chấp nhận trở lại HĐ 1887?

- Thứ hai, bao năm trường từ 1954 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc xâm lấn công khai nước VN cũng như các quốc gia láng giềng, áp dụng những thủ đoạn giành giật lén lút, và theo đuổi các cuộc thương lượng dai dẳng. Tại sao đã tốn bao công lao như thế mà rốt cuộc Bắc Kinh lại chấp nhận được lợi có 1 km2 như ông Lê Công Phụng tuyên bố? Hiển nhiên sự nhượng bộ của CSVN phải lớn hơn 1 km2 ấy rất nhiều mới mong thỏa mãn được tham vọng của Bắc Kinh. Ông Phụng có thể tự lừa dối mình, điều đó chẳng nói làm chi, nhưng với sự dối gạt quốc dân và miệt thị những người quan tâm đến sự tồn vong của đất nước VN bằng thái độ hiềm thù, ông Phụng có xứng đáng là viên chức cao cấp ngành ngoại giao của một quốc gia hay chăng?

- Thứ ba, trong cuộc xâm lấn bờ cõi VN của Trung Quốc qua các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Lao Cai vào năm 1979, một số cột mốc đã bị quân lính TQ dời chỗ. Sau 3 tuần lễ chiếm đóng các tỉnh trên, TQ rút về, dọc đường họ đã rải 2 triệu quả mìn trên hàng ngàn km2 dọc theo biên giới phía bên VN. Các bãi mìn đã ngăn chặn sự truy kích của quân đội chính quy CSVN được điều động từ chiến trường Campuchia về đồng thời sau này ngăn chặn cuộc hồi hương của thổ dân bản xứ về lại đất đai của họ. Năm 1993, sau khi VN hứa chịu thần phục “Bắc Triều”, TQ bắt đầu gỡ mìn đồng thời lại cung cấp ngay đất ấy cho dân TQ vô gia cư đến lập nghiệp nơi đất mới. Điều này đã được gián tiếp xác nhận bởi chính ông Lê Công Phụng khi ông cho biết “một số mốc bị xê dịch”, “thường xuyên xảy ra tranh chấp trên toàn tuyến biên giới”, và “một số khu vực dân Trung Quốc cư trú quá đường biên giới, ở một số khu vực khác dân ta cư trú quá đường biên giới thì hai bên nhất trí duy trì cuộc sống ổn định của dân cư.” Đọc câu sau cùng, ta có thể loại bỏ chuyện phi lý là “dân ta cư trú quá đường biên giới”, vì không có tin tức nào cho thấy VN xâm lấn biên thùy TQ, và dân nước yếu không thể làm điều này đối với nước mạnh hơn; như vậy, đủ thấy CSVN đã nhượng bộ để yên cho dân TQ chiếm đóng lãnh thổ VN hàng trăm km2, trước khi có đàm phán để xin lại một phần lãnh thổ đã bị cưỡng chiếm.

- Thứ tư, hãy đọc lời tuyên bố của ông Phụng như sau:

“Ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, ta và Trung Quốc đã nhận thức rõ yêu cầu khách quan của việc chuẩn xác lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước. Từ giữa những năm 70, hai bên cũng đã tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới, lãnh thổ, song chưa đi tới thỏa thuận.” [6].

Căn cứ vào lời tuyên bố đó, cùng đối chiếu với các dữ kiện khác sẽ đề cập đến sau, thì ta có thể phỏng lượng là: Một phần lớn Ải Nam Quan đã mất vào cuối thập niên 1950, cùng lúc với văn thư sang nhượng Biển Đông của ông Phạm Văn Đồng, để từ đó Mao Trạch Đông cho xây cất tòa nhà mới Mục Nam Quan trong nội địa Việt Nam, với thỏa thuận ngầm giữa hai bên. Phần còn lại từ Mục Nam Quan đến biên giới mới hiện nay trên lưu vực sông Kỳ Cũng có lẽ đã được nhượng bộ vào giữa thập niên 70 như là một hành động trả nợ chiến tranh. Bởi vì nếu hai bên tranh nhau từng cây số vuông như ông Phụng kể, thì không thể có chuyện TQ viện trợ hàng tỷ cơ giới súng đạn cho VN, cả thế giới đều biết, mà không hề có tài liệu nào cho thấy VN đã trả món nợ ấy. Đã thế, sau khi Hiệp Ước 1999 được ký kết, lập tức có tin Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 300 triệu Mỹ Kim để xây cất các dự án thủy điện lực trên các cao nguyên bắc phần, và sau khi Hiệp Ước 2000 về vịnh Bắc Việt được ký kết, lại có tin Trung Quốc viện trợ thêm 200 triệu nữa.

- Thứ năm, sau khi đã được nhượng bộ hàng trăm km2 từ giữa hai thập niên 50 và 70, bao gồm cả Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, TQ vẫn còn đòi thêm đất đai VN với một dụng ý thâm độc khác nữa mà nhà nước CSVN cho đến nay vẫn không biết, hay biết mà đành chịu trận. Sự đòi hỏi này đã gây ra cuộc tranh chấp kéo dài từ năm 1993 đến 1999 mới tạm giải quyết xong. Chúng ta sẽ thấy sự thật được hé lộ trong phần nhận xét thứ tám, và sẽ kiểm chứng sự thật này khi toàn bộ bản đồ mới được phổ biến.

- Thứ sáu, qua việc đối chiếu các bản đồ Việt Nam từ trước đến nay như bản đồ Nha Địa Dư VNCH, bản đồ 1964, bản đồ sau năm 1975, bản đồ 1999, và bản đồ 2002, người viết không thể chấp nhận lời tuyên bố của ông Lê Công Phụng về việc phái đoàn Phân Định Biên Giới của ông chỉ nhượng bộ cho Trung Quốc 114 km2 chứ đừng nói là 1 km2! Chỉ nói riêng về hai vùng ải Nam Quan tỉnh Lạng Sơn và thác Bản Giốc tỉnh Cao Bằng thôi thì cũng thấy các con số thỏa nhượng đó quá thấp.

Căn cứ vào các bản đồ trước và sau 1964, đường biên giới tại vùng ải Nam Quan bị lùi về phía nam khoảng 5 km. Sau đó lại đối chiếu với bản đồ sau năm 1975, trước cuộc xâm lấn của TQ năm 1979, thì thấy biên giới lùi thêm về phía nam 3 km nữa đến gần ngoại ô thị trấn Đồng Đăng, tổng cộng là 8 km. Với một đường dài dọc biên giới là 22 km, VN đã mất khoảng 176 km2 trước khi hiệp ước được ký kết. Nguyên ủy của sự mất mát này sẽ được trình bày cặn kẽ hơn trong phần nghiên cứu về Ải Nam Quan ở cuối bài.

Vị trí của thác Bản Giốc vốn nằm sâu trong địa phận Việt Nam, cách biên giới nguyên thủy khoảng 3.5 km theo bản đồ 1950 của Nha Địa Dư. Chính nhà nước Miền Bắc Việt Nam trong thời đất nước còn chia đôi, đã từng phát hành tem thư thác Bản Giốc để tán dương một thắng cảnh của đất Việt (hình 5). Sách “Nước Tôi Dân Tôi” cũng đề cập đến thác Bản Giốc là một phần của tỉnh Cao Bằng, cách quận Trùng Khánh 23 km [7]. Ngoài ra, tài liệu du lịch của VN cũng quảng cáo Thác Bản Giốc là trung tâm du lịch của Việt Nam, có thể được tìm thấy trên web site với dòng quảng cáo như sau:

http://goasia.about.com/gi/dynamic/offsite.htm?site=http://home.vnn.vn/english/map/
“Ban Gioc Fall: Travelling 20 km from the district town of Trung Khanh you arrive at Dam Thuy commune. From a distance you can hear the number of water falling and see mist shrouding part of mountain and Qui Son river near by the Vietnamese-Chinese border. This is the Ban Gioc fall some 30m high. At the foot of Ban Gioc is a large river of smooth, clear water. On the banks of the river are lust green pastures dotted by wild flowers. Ban Gioc looks best during the rainy season from June to October. Inside the fall live well known delicious fish called tram huong.”

Hình 5 – Tem thác Bản Giốc của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

“Near by the Vietnamese-Chinese border” nghĩa là nằm gần biên giới Việt Trung, không thể nào “ở giữa biên giới” được! Thế mà theo sự xác nhận của ông Lê Công Phụng, thì biên giới mới nằm chính giữa dòng thác mặc dù cột mốc thì nằm phía nam dòng thác. Nghĩa là ông Phụng đã có công đòi lại được một nửa thác Bản Giốc! Sự thật, căn cứ trên sự biến đổi đường dài khoảng 16km, thì phần đất đã bị mất là 56 km2. Nguyên nhân là do lính TQ đã dời cột mốc từ biên giới cũ mang xuống để ở mé bờ phía Việt Nam rồi khi triệt thoái đã rải mìn ở nam ngạn sông Quý Sơn, khiến cho người Việt không thể về lại quê quán cũ. Năm 1993, sau khi gỡ mìn thì TQ nhất định dành chiếm độc quyền cả Thác Bản Giốc, nhưng cuối cùng trước sự đòi hỏi của thổ dân về chủ quyền của VN trước chiến tranh 1979, Bắc Kinh đành tạm thời chịu nhượng bộ phần nào, chỉ lấy một nửa thác để khai thác chung cùng với phần đất phía bắc mà thôi. Hiện nay, hình ảnh của thác Bản Giốc đã bắt đầu xuất hiện trong các băng video và các bức tranh thắng cảnh của Tàu.

- Thứ bảy, bao nhiêu đất đai VN đã bị mất vào tay Trung Quốc trước và sau Hiệp Ước 1999? Tổng cộng lại, trong khoảng đường biên giới dài gần 100 km từ Nam Quan đến Bản Giốc, ít nhất có 232 km2 đã bị dâng nhượng cho TQ trước khi có hiệp ước 1999. Đó là chưa kể sự mất mát nằm trong các vùng bị TQ rải mìn thuộc vùng Lao Cay, lưu vực Sông Hồng Hà và vùng Lai Châu ba biên giới Việt-Trung-Lào, dẫn xuống vùng Điện Biên Phủ dọc biên giới Lào. Nếu tính đường biên giới gần 1500 km mà ông Phụng cho biết là “thường xuyên xảy ra tranh chấp trên toàn tuyến biên giới”, thì chắc chắn nhà nước CSVN đã nhượng cho TQ nhiều hơn 720 km2, chứ đừng nói là 114km2, hay phi lý hơn, chỉ1km2 mà thôi. Con số 720 km2 là do một đại biểu nào đó trong Quốc Hội đã lén tiết lộ cho các ông Đỗ Việt Sơn và Lê Chí Quang, để họ lên tiếng báo động với toàn dân trong và ngoài nước vào năm 2001. Cho đến bây giờ, hầu như người ta lãng quên vị đại biểu Quốc Hội đã tiết lộ các dữ kiện này. Nhân vật bí ẩn này là ai?

- Thứ tám, vì hiện nay chưa phối kiểm được mức độ khả tín và chính xác của bản đồ năm 2002 mà người Viết mới nhận được, người viết quyết định tạm thời chưa phổ biến xuất xứ của bản đồ và toàn bộ bản đồ mới. Riêng bản đồ liên hệ đến ải Nam Quan thì sẽ được trình bày ở phần sau cùng của bài này, với một dè dặt cần thiết. Tuy nhiên, cho dù chưa có bản đồ mới để đối chiếu với bản đồ cũ, người ta vẫn có thể thấy hai sự kiện sau đây:

(a) Căn cứ trên các bản đồ địa lý cũ có các đường vòng cao độ, hầu hết núi non Bắc Phần đều có đỉnh núi nằm trong nội địa Việt Nam dọc theo các tỉnh biên giới. Về phía đông bắc sông Hồng sang đến Móng Cái, các rặng núi nằm theo hình cánh quạt, trung tâm là ngọn Tam Đảo thuộc phía bắc tỉnh Vĩnh Yên. Các dòng suối giữa hai núi chạy hướng bắc xuống nam. Phía tây Nam sông Hồng đến biên giới Lào Việt là rặng Hoàng Liên Sơn cao ngất trùng điệp chạy theo hướng tây bắc – đông nam. Thế nhưng “biên bản” Hiệp Ước 1999 lại diễn tả rằng đường biên giới mới chạy theo “sống núi” hoặc theo giữa dòng. Như vậy thì chúng ta có thể ước lượng được một cách tổng quát là Việt Nam đã mất khá nhiều phần núi ở phía bắc, nhất là vùng phía Tây Bắc Việt Nam vùng Hoàng Liên Sơn và vùng châu thổ sông Hồng Hà.

(b) Theo biên giới cũ, đất Việt Nam gồm cả một số sông suối chảy về hướng đông bắc rồi qua địa phận Trung Quốc và đổ vào lưu vực sông Bằng Giang ở Long Châu, chứ không chỉ là các sông suối chẩy về hướng đông nam vào lưu vực sông Hồng Hà. Thế nhưng theo sự diễn tả các đường biên giới dựa theo sống núi và giữa dòng sông, thì hầu hết, nếu không nói là tất cả, các vùng thượng lưu và nguồn sông suối chảy về phía bắc đã thuộc về sự kiểm soát của Trung Quốc.

Hai sự kiện nêu ra là dấu hiệu của một âm mưu cực kỳ thâm độc của Trung Quốc liên hệ đến an ninh cả toàn vùng bán đảo Đông Dương. Người viết sẽ trở lại vấn nạn này trong một dịp khác khi thu thập đủ tài liệu cần thiết.

 

Posted in Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thác Bản Giốc, Ải Nam quan | Leave a Comment »

video Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông : tằm ăn dâu !

Posted by tieng_dan on February 6, 2008

Việt Nam Trung Hoa núi liền núi sông liền sông
Vừa xem được bài hát này.Yuenan Zung cua này.Chính trị đau đầu và khốn nạn quá.Âm nhạc có sức lôi cuốn hơn.Tình hữu nghị Việt Trung muôn năm.(Vừa lòng mấy chú an ninh mạng nếu chui vào đây kiểm duyện theo chính sách mới của Bộ Trưởng Hợp)

16 chữ vàng

“Láng giềng khốn nạn.

Khớp đất lâu dài…

Lần biền dần dần

Thôn tính tương lai”

Không biết đây là tiếng Trung phổ thông hay Quảng đông mà nghe cóc cần học tiếng Tàu vẫn hiểu “Yue nan Zungcua san lien san, xua lien xua…” (VN Trung bựa, núi liền núi, sông liền sông)

Rồi còn lôi Mao Chủ xị ra so sánh với Cụ em nữa chứ, đúng là đưa cóc ra so với tiên.

http://fr.blog.360.yahoo.com/blog-Qz0y2dw2cqq354oeI1DPi928zuQw?p=1135

CHÚNG TA ĐANG MẤT NƯỚC !!!

Posted in Audio Video, Chủ quyền VN, Công hàm PVĐ, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thác Bản Giốc, a1: video, phân chia Vịnh Bắc Việt, Ải Nam quan | Leave a Comment »

Lời di chúc của vua Trần Nhân Tôn để lại cho hậu thế

Posted by tieng_dan on February 5, 2008

Lời di chúc của vua Trần Nhân Tôn để lại cho hậu thế:

“Các ngươi chớ quên chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo.

Vì rằng họ tự cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo.

Cho nên cái hoạ lâu đời của ta là họa Trung Hoa.

Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải.

Các việc trên khiến ta nghĩ đến các chuyện khác lớn hơn.

Tức là họ không tôn trọng biên giới qui ước.

Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp.

Không thôn tính được ta thì gậm nhấm ta.

Họ gậm nhấm đất đai của ta,

lâu dần họ sẽ biến giang sơn của ta

từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích.

Vậy nên các người phải luôn luôn nhớ lời ta dặn:

một tấc đất của tiền nhân để lại,

cũng không được để lọt vào tay kẻ khác !!.

Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu“.


Đây là

một giáo chỉ muôn đời

luôn luôn nhắc nhở chúng ta trên con đường giữ nước.

ĐCSVN đã

nhu nhược chạy theo ngoại bang Tàu cộng đó là quyền tự do không ai bắt buộc,

nhưng ĐCSVN không có quyền nhân danh nhà nước độc tài đảng trị để

dâng hiến đất đai của Tổ quốc cho ngoại bang,

dù ngoại bang đó là quan thầy vĩ đại của đảng.

Các nhà lãnh đạo ĐCSVN phải biết rằng

hành động bán đất dâng biển cho Tàu cộng

tội lỗi tầy trời trong lịch sử, nên thành thật sám hối

quay đầu trước khi quá muộn.

Posted in Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Thác Bản Giốc, Ải Nam quan | Leave a Comment »