TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

Archive for the ‘Quan hệ thế giới’ Category

Những Mãnh Vụn Của Một Bức Tranh

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Những Mãnh Vụn Của Một Bức Tranh  
Bách Việt Nhân.

 

 Sự kết thúc cuả cuộc chiến Việt-Trung đã mang đến cho dân tộc Việt Nam một nỗi xót xa, thống hận vì sự hèn hạ của bộ chính trị Hà Nội đã cuối đầu, gục mặt trước “ thiên triều” cùng chủ nghiã bành trướng Hán tộc cuả TC.
  
 Mới đây TC đã công bố một loạt bản đồ về chủ quyền lãnh hải cuả TC cho toàn thế giới biết trong đó bao gồm lãnh hải của Việt Nam.
http://www.sbsm.gov.cn/    -  http://www.sbsm.gov.cn/dbfile/   
 http://www.sbsm.gov.cn/dbfile/392/
 http://www.sbsm.gov.cn/dbfile/397/
 http://www.sbsm.gov.cn/dbfile/400/
 http://www.sbsm.gov.cn/dbfile/402/
 http://www.sbsm.gov.cn/dbfile/403/
  
 Thái độ và câu trả lời của CSVN là gì?
 Dưới đây là phản ứng cuả CSVN
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2006/07/060713_china_viet_map.shtml

Dân tộc Việt Nam đã biết qua những tuyên bố và thái độ trơ trẽn, đê hèn cuả bộ ngoại giao CSVN mà đại diện là Lê Dũng.
  
 Câu hỏi còn lại cho dân tộc Việt Nam là bao nhiêu đất đai đã mất? Những cột mốc đã và sẽ dựng lên như thế nào giữa biên giới Việt Nam và TC?
  
 Phóng đồ hành quân dưới đây đuợc trích từ tài liệu cuả Ba Lan, trên web site :
  
 http://www3.ttvnol.com/gdqp/476742/trang-81.ttvn
  
 đã cho chúng ta thấy một cách rõ ràng những phần đất nào đã mất khi chúng ta so sánh bản phóng đồ nầy với những bản đồ thật sự.

 

Khi so sánh bản đồ trận chiến nầy với những tài liệu mà chúng tôi có được, cho chúng tôi biết là vùng núi Sa Pa trong khu vực núi Hoàng Liên Sơn đã bị CSVN giao cho TC.

 Bằng chứng rất xác thực, hiển nhiên không thể nghi ngờ.
 Bộ chính trị CSVN không thể nào lấp liếm như những lần trước.
 Việc bán nước nầy CSVN phải trã lời trước dân tộc, trước “Hội Nghị Diên Hồng” trong tương lai.
  
 Phần dưới đây được trích từ tài liệu:
 (http://tudovis.com/  Tài liệu tình báo về việc CSVN bán nước)
  
 “…..8) Ngày 26 tháng 12 năm 2000 vào lúc 2 giờ trưa , Lý Bằng được cận vệ đưa tới gặp Trần Đức Lương ở Quảng Trường Nhân Dân.
 Lý Bằng cho Lương biết là số tiền 2 tỉ Dollar để mua 16,000 sq km vùng vịnh Beibu của Việt Nam là hợp lý . Trần Đức Lương Cám ơn DCSTQ về số tiền nầy. Số tiền 2 tỉ đồng nầy được Lương đem về để làm bớt sự phẩn nộ của Khải , Kiệt và những nhân vật khác trong quốc hội CSVN. Ông Lý Bằng nhắc lại chuyện Trung Quốc đã bán vũ khí và hổ trợ cho đảng CSVN trong thời gian chiến tranh và số nợ trên Trung Quốc dùng để trao đổi mua lại vùng đất Bắc Sapa của Việt Nam, Ải Nam Quan, Bản Dốc Cao Bằng…. Thêm lần nửa Lý Bằng chỉ gửi lời thăm Lê Khả Phiêu và Nông Đức Mạnh !. Sau đó Lương được mời lên xe Limo và đưa về Zhong-nan-hai để gặp Zhu Rongji . Zhu Rongji không nói gì khác hơn là nhắc lại số tiền 2 tỉ đồng sẽ được giao cho Việt Nam sau khi Lương trở về nước…..

 

 

Khi chúng tôi thực hiện bản đồ trên đây, trong bài “Cao Bằng Chiến Địa”, đã dựa vào những dữ kiện từ tài liệu “Binh Đoàn Pắc Bó” nhưng không xác định được những khu vực hay những phần đất nào đã mất.

 Với bản phóng đồ tài liệu từ Ba Lan cùng bản đồ do phiá TC mới tuyên bố vào tháng 06, 2006 cho chúng ta thấy rất rỏ những phần đất nào CSVN đã dâng hiến cho TC.

 

 

Trong bản đồ phòng thủ Hà Nội trên đây cho thấy bộ chính trị CSVN đã mở cửa cho giặc TC vào.

 Chúng tôi xin trưng ra bằng chứng qua hình ảnh bên trên.

 Trong trận chiến 1979 quân TC đã tiến xuống tới Yên Bái, cách Hà Nội không xa, khoảng 85 km. Thế nhưng mọi phòng thủ của Hà Nội lại chỉ hướng về Lạng Sơn, Cao Bằng cùng lúc ấy CSVN vẫn còn giam quân tại Cambodge, từ 10-15 sư đoàn, theo sự chỉ huy của tướng nội gián Lê Đức Anh, tình báo của TC, suốt 11 năm (1978-1989) .

 (Có lẽ chúng tôi phải có một bài viết riêng về âm mưu nầy cuả tình báo TC trong tương lai mà bộ chính trị CSVN là những kẻ đã thi hành.)

 

 

Trong quyển sách “10 Năm Chiến Tranh Trung-Việt” cuả tác giả Mân Lực do “Đại Học Tứ Xuyên” xuất bản tháng 3/1993 đã được Tổng Cục 2-Bộ Quốc Phòng CSVN dịch thuật và xuất bản vào tháng 02/1994, có đề cập đến 2 ngọn núi Khảo Sơn, Mã Sơn (theo tiếng tàu) là hai cánh cửa để vào tỉnh Lạng Sơn.
 Ngọn núi Cổ Bàn Sơn (tiếng Việt Nam) trong phóng đồ có lẽ là một trong hai ngọn núi đó mà tướng Hứa Thế Hửu không ngại tổn thất quyết chiếm cho bằng được để tiến vào tỉnh Lạng Sơn.
  
 Những điạ danh trong phóng đồ dưới đây mà chúng tôi đề cập đến trong bài “Chiến Trận Cao Bằng” đã cho chúng ta những hình ảnh rất rõ ràng, trung thực về cuộc chiến Cao Bằng.

 

 

Phóng đồ hành quân Lào Cai, Sa Pa cùng tài liệu chúng tôi đề cập bên trên đã chứng minh việc CSVN bán đứng Sa Pa cho TC.

 

 

 

Để giúp độc giả thấy được toàn thể vấn đề, bản đồ trên đã được vẽ lại từ tài liệu Ba Lan.
Những khu vục màu xanh đã bị TC chiếm đóng, nói khác đi là những vùng đất CSVN đã dâng cho TC.
 
Việc cấm cột mốc giửa hai nước Việt – Trung hiện đang tiến hành.
 
Trong cuộc gặp gở giửa Đặng Tiểu Bình và Tổng Thống Mỷ Carter trước cuộc chiến 1979, Hoa Kỳ muốn TC có một cuộc chiến giới hạn với Việt Nam. Thế nhưng dù đã tuyên bố kết thúc cuộc chiến 1979, TC vẫn để lại một bải mìn dọc biên giới Việt Trung và chỉ tuyên bố hoàn tất việc tháo gở vào năm 1999, nghiã là 20 năm dài TC đã chiếm đóng trên lãnh thổ Việt Nam bất hợp pháp thế nhưng CSVN vẫn im hơi lặng tiếng.
 
Và dưới đây là hậu quả về sự im lặng cuả bộ chính trị CSVN sau 20 năm dài để cho quân TC chiếm đóng trên lãnh thổ phía Bắc nước Việt Nam.
 
Nghĩa là CSVN đã hợp thức hoá việc chiếm đất đai cuả TC. 
 
Hay nói đúng hơn là dâng đất cho giặc một cách hợp pháp
 
Cuối tháng 06, 2006 TC đã tuyên bố với thế giới về đường biên giới mới trên lãnh thổ cùng lãnh hải cuả TC trong đó có cả những phần đất, biển mà CSVN đã dâng cho TC.

 

 

Cho đến nay TC vẫn tiếp tục pháo sang lãnh thổ Việt Nam.
http://www.vietnamexodus.org
 
Mục đích cho những cuộc pháo kích nầy là gì, và có lợi ích gì cho TC?  
 
Dưới đây là tài liệu về việc bắn rocket để làm mưa nhân tạo của TC ngỏ hầu giảm thiểu những cơn hạn hán cũng như làm giảm bớt những cơn bảo cát từ vùng sa mạc Mông Cổ.
 
Trong những năm gần đây Việt Nam đã bị những cơn mưa bảo, lũ cuốn, lũ quét tàn phá những vùng thượng du Việt Bắc củng như miền trung đã bị những lưu lượng nước lũ bất thường từ thượng nguồn những con sông phía tây bắc.
 
Với lợi thế về việc làm mưa nhân tạo TC đã khiến cho dân tộc Việt Nam phải khốn đốn.
Mùa màng thất bại vì trong những trận mưa hoá học như thế chắc chắn là TC trộn lẫn vào đấy những chất hoá học sẽ làm cho hoa màu, muà màng của dân ta tàn lụn, không phát triễn được.
 
Làm sao có thể phân biệt được mưa nhân tạo và mưa thiên nhiên?
 
Mưa thiên nhiên luôn luôn có kèm theo sấm, chớp và sau khi mưa khí hậu trở nên trong lành và mát mẽ.
 
Mưa nhân tạo không có sự hiện diện của sấm, chớp, sau khi mưa không khí trỡ nên oi  bức, nóng nực hơn vì phản ứng hoá học sẽ tạo nên nhiệt lượng khiến cho khí hậu nóng bức sau khi dứt mưa.
 
Ngoài việc bắn rocket TC còn có thể xử dụng phi cơ không người lái để rãi hoá chất  SILVER IODIDE cài vào trong những đám mây tạo thành mưa nhân tạo.

Với khả năng quân sự hiện nay cuả TC liệu chúng ta có thể làm gì để bảo vệ quê hương ?
 
Câu hỏi nầy được đặt ra với hy vọng là sẽ có được nhiều câu trã lời từ những thế hệ nối tiếp cho cả quốc nội lẫn hải ngoại.
 
Trong hiện tại việc cuả chúng ta phải làm là lật đổ cái chế độ CSVN hiện nay đi,
Chỉ có như thế chúng ta mới có cơ hội xây dựng lại quê hương từ đầu.
 
Mong rằng thế hệ trẽ quốc nội có thể làm một cuộc “Vươn Vai Phù Đổng” trong tương lai thật gần.
 
Bách Việt Nhân
09/08/2006.

http://www.vietnamexodus.org/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=719

—————————–
PHỤ LỤC:

BBC

trích từ cuốn chiến tranh VN-TQ, tiếng Ba Lan, thấy có 1 số sơ đồ pót lên cho các bác xem.


/Exo_banDoVn/

Posted in Chiến tranh biên giới, Hiểm họa mất nước, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Lịch sử, Quan hệ thế giới, Việt-Trung | Leave a Comment »

Chiến lược Hải quânTrung Quốc ở Biển Đông

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

thời đại mới
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU & THẢO LUẬN

Số 11 - Tháng 7/2007

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai11/200711_NgoVinhLong.htm

Chiến lược hải quân của Trung Quốc
và hàm ý của nó đối với khu vực Biển Đông

Ngô Vĩnh Long
Đại học Maine
Orono, Maine
Hoa Kỳ

Ngày 28 tháng 12 năm 2006 hầu hết các báo lớn của Trung Quốc đã trích đăng ngay trang đầu bài diễn văn của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào ngày trước đó trong một cuộc họp với các sĩ quan hải quân về việc Trung Quốc phải xây dựng một hệ thống hải quân hùng mạnh có thể bảo vệ quyền lợi, quyền thế, và an ninh của Trung Quốc bất cứ lúc nào. Hồ Cẩm Đào nói rằng: “Chúng ta phải cố gắng xây dựng một lực lượng Hải quân Nhân dân hùng mạnh có thể đáp ứng được sứ mạng lịch sử trong một thế kỷ mới và một thời kỳ mới.”[1]

Ngày 28 tháng 12 năm 2006, trả lời câu hỏi của phóng viên Thông tấn xã Việt Nam về việc Trung Quốc đã tiến hành xây dựng bia chủ quyền tại các điểm cơ sở lãnh hải, trong đó có một số điểm cơ sở trên quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Lê Dũng nói:

Việt Nam một lần nữa khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này….

Việt Nam một lần nữa khẳng định chủ trương giải quyết mọi tranh chấp trên biển giữa các nước liên quan bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập và chủ quyền của nhau, phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và tinh thần Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trên biển Đông năm 2002, vì mục đích tăng cường hợp tác hữu nghị, giữ gìn hòa bình và ổn định trên biển Đông.[2]

Không biết hai sự kiện trên có phải là sự trùng hợp ngẫu nhiên hay không. Nhưng vì Trung Quốc không bị một sự đe dọa nào trên trên đất liền cả (trừ các cuộc biểu tình của nông dân và sự chống đối của một thiểu số khoảng 50 nghìn người đạo Hồi ở vùng Tân Cương) trong khi ngân sách quốc phòng của Trung Quốc đã tăng trung bình 15,36% mỗi năm từ năm 1990 đến 2005, và tăng 17,8% năm 2007,[3] hải quân Trung Quốc đã tăng cường rất nhanh trong 16 năm qua. Do đó, ý định của bài nầy là tìm hiểu xem chiến lược của hải quân Trung Quốc sẽ có ảnh hưởng gì đối với khu vực biển Đông.

Các vấn đề tranh chấp trong khu vực biển Đông là ngoài phạm vi của bài nầy và đã được phân tích trong các bài của Từ Đặng Minh ThuVũ Quang Việt trong số Thời Đại Mới nầy. Vì thế, ở đây tôi sẽ không đề cập đến các vấn đề ấy nữa mà chỉ mong bổ sung các bài ấy với một số thông tin về hải quân Trung Quốc và chiến lược của nó.

Trước khi đi vào chi tiết về chiến lược của hải quân Trung Quốc, tôi xin phác qua vài nét về tên gọi và cơ cấu tổ chức của nó.[4]

Hải quân Trung Quốc được gọi là “Giải phóng quân Hải quân” (Jiefangjun Haijun ) vì nó là một bộ phận của Giải phóng quân, tức quân đội, của Trung Quốc. Các sách báo tiếng Anh thường gọi tắt là PLAN (People’s Liberation Army Navy).

Hải quân Trung Quốc gồm có 5 nhánh: binh đội tàu ngầm, binh đội tàu mặt nước, binh đội không quân, binh đội hải quân đánh bộ, và binh đội “ngạn phòng.” Ngoài ra, cũng có 10 học viện và đại học trực thuộc, nhiều viện nghiên cứu, các binh đoàn bộ đội chuyên môn, và các cục chính trị, cục hậu cần, cục kỹ thuật, và các đơn vị bảo đảm phục vụ và sửa chữa. Các binh đoàn, binh đội và đơn vị trên được phân chia thành 3 vùng gọi là: Bắc Hải Hạm Đội (Beihai jiandui ), Đông Hải Hạm Đội (Donghai jian dui ),và Nam Hải Hạm Đội (Nanhai jiandui ).

Hải quân Trung Quốc được tổ chức thành những chi đội (zhidui ), đại đội (dadui ) và trung đội (zhongdui ). Về phương thức tổ chức thì một chi đội có quân hàm tương đương với một sư đoàn của Mỹ và vì thế thường được dịch ra là “division” hay “flotilla” (hạm đội). Hải quân Trung Quốc có 7 thứ chi đội khác nhau:

· Tàu ngầm, gọi là “tiềm đĩnh” (qianting ).

· Tàu khu trục (destroyers).

· Tàu hộ tống, gọi là “hộ vệ đĩnh” (huweiting ).

· Tàu cao tốc (speedboats).

· “Tác chiến chi viện thuyền” (zuozhan zhiyuanjian 战支 ).

· Tàu đánh đuổi tàu lặn (submarine chasers).

Nhiều chi đội là chi đội tổng hợp gồm có các thứ tàu khác nhau. Ví dụ như có một số chi đội tàu ngầm hạt nhân và tàu ngầm thông thường, chi đội tàu khu trục, chi đội tàu hộ tống và chi đội tàu cao tốc gồm có những “đạo đạn đĩnh” (daodanting ), tàu rà mìn, tàu phóng ngư lôi và tàu đánh đuổi tàu lặn. Các chi đội tàu thường có một số “tác chiến chi viện thuyền” nhất định.

Chiến lược chung của Hải quân Trung Quốc

Theo định nghĩa của quân đội Trung Quốc thì chữ “chiến lược” (zhanlue ) chỉ áp dụng cho chiến tranh (zhanzheng ). Chiến tranh có thể là chiến tranh cục bộ hay chiến tranh toàn bộ; và chiến tranh là để đạt được những mục tiêu chung của một quốc gia. Trong chiến tranh thì có chiến dịch (zhanyi ) và “chiến dịch pháp” (zhanyifa ) và được dùng để điều hành các chiến trận, mà họ gọi là “chiến đấu” (zhandou ), để đạt được những mục tiêu chung của một quốc gia trong chiến tranh. Mỗi mô hình “chiến đấu” có các “chiến thuật” (zhanshu ) khác nhau của nó.

Chiến lược chung của quân đội Trung Quốc được gọi là “Cương lĩnh Quân sự Quốc gia cho Thời đại mới” và gồm có hai phần. Phần thứ nhất là phần về đổi mới và hiện đại hóa quân đội toàn bộ từ trang bị vũ khí đến cơ cấu và tổ chức. Trong đó, hai vấn đề quan trọng nhất là “chuẩn bị đánh thắng các cuộc chiến tranh cục bộ trong hoàn cảnh công nghệ cao hiện đại” và “chuyển đổi từ một quân đội dựa trên số lượng đến một quân đội dựa trên chất lượng.”[5] Từ những năm đầu của thập kỷ 2000 đến nay Trung Quốc chú trọng vào việc xây một quân đội dựa trên cơ khí hóa và tin học hóa mà họ gọi là “tin tức hóa” (xinxihua ).[6]

Phần thứ hai là phần các chiến lược hoạt động, tức các đường lối cơ bản cho việc chỉ đạo chiến tranh. Phần nầy được gọi là chiến lược “tích cực phòng ngự” (Jiji fangyu ) và được coi là cương lĩnh chiến lược tối cao của toàn thể quân đội Trung Quốc trong chiến tranh, hay trong việc chuẩn bị cho chiến tranh trong thời bình. Chiến lược “tích cực phòng ngự” gồm những điểm sau:[7]

· “Nói chung, chiến lược quân sự của ta là phòng ngự. Chúng ta chỉ tấn công sau khi bị tấn công. Nhưng các chiến dịch của chúng ta là tấn công.

· “Không gian và thời gian sẽ không hạn chế sự phản công của chúng ta.”

· “Chúng ta sẽ không để các biên giới hạn chế các cuộc tấn công của ta.”

· “Chúng ta sẽ chờ cho thời điểm và điều kiện thuận lợi cho các lực lượng của chúng ta trước khi chúng ta bắt đầu các cuộc tấn công.”

· “Chúng ta sẽ tập trung vào các điểm yếu của đối phương.”

· “Chúng ta sẽ dùng các lực lượng của chúng ta để tiêu diệt các lực lượng của đối phương.”

· “Các chiến dịch tấn công kẻ thù và các chiến dịch phòng thủ sẽ được thi hành cùng lúc.”

Một phần của chiến lược “tích cực phòng ngự” là khái niệm chiến lược gọi là “cận hải phòng ngự” (Jinhai fangyu 近海防御) của Hải Quân Trung Quốc. Khái niệm nầy có 3 nhiệm vụ chính:[8]

· Kiềm chế kẻ thù từ ngoài khơi và không cho đổ bộ.

· Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia.

· Bảo vệ sự thống nhất đất nước và quyền lợi trên biển cả.

“Cận hải” không có nghĩa là gần bờ biển. Nhưng, theo định nghĩa trong các tài liệu của Hải Quân Trung Quốc là “đến tận những nơi xa trên biển cả mà Hải Quân Trung Quốc có khả năng đưa các lực lượng đặc nhiệm đến với sự chi viện và an ninh cần thiết” (…as far as the PLA Navy’s capabilities will allow it to operate task forces out at sea with the requisite amount of support and security.)[9] [Nhấn mạnh là trong nguyên văn] Hiện nay “cận hải” được định nghĩa tối thiểu là trong phạm vi của hai chuỗi quần đảo. Chuỗi quần đảo thứ nhất thường được mô tả là một đường chạy dài từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Philippin, và In-đô-nê-sia (từ Borneo đến Natuna Besar). Chuỗi quần đảo thứ hai là đường bắc-nam chạy dài từ quần đảo Kurile, qua Nhật, Bonins, Marianas, Carolines, và In-đô-nê-sia. Hai đường nầy bao gồm gần như toàn bộ Biển đông Trung Quốc (East China Sea) hầu hết các đường giao thương trên biển (sea lanes of communication, SLOCs) của Đông Á.

Theo một bài viết vào khoảng cuối năm 1999 khi ông còn là tùy viên hải quân Hoa Kỳ ở Trung Quốc, thuyền trưởng (Captain) Brad Kaplan cho biết rằng mục tiêu của chiến lược “tích cực cận hải phòng ngự” (“active offshore defense”) là “để khẳng định vai trò của Trung Quốc như là một cường quốc khu vực trên biển, để bảo vệ các khu vực kinh tế duyên hải và các quyền lợi trên biển, và để tối ưu hóa các chiến dịch của Hải quân (Trung Quốc) cho quốc phòng. Bổn phận của Hải quân Trung Quốc hiện nay bao gồm việc chiếm đóng và phòng thủ các hải đảo, và bảo vệ cũng như phong tỏa các đường giao thương trên biển (sea-lanes of communication). Hơn thế nữa, Hải quân Trung Quốc càng ngày càng được lãnh đạo của Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc coi như là bộ phận không thể thiếu trong việc giải quyết vấn đề Đài Loan khi cần dùng vũ lực” và để bảo vệ “Tây sa” và “Nam sa” (tức Hoàng sa và Trường sa) ở Trung Quốc Nam Hải (tức biển Đông).”[10]

Kaplan viết tiếp: “Chiến lược đang được Hải quân Trung Quốc phát triển tuần tự đã được mô tả là gồm hai giai đoạn riêng biệt rõ ràng. Giai đoạn đầu là để cho Hải quân Trung Quốc phát triển các khả năng của một “chiến lược phòng ngự tích cực nước màu xanh lục” (“green water active defense strategy”). Chiến lược “nước màu xanh lục” nầy thường được mô tả là bao gồm trong một hình cung từ Vladivostok ở phía bắc đến eo biển Malacca ở phía nam, và ra đến “chuỗi quần đảo thứ nhất” (Aleutians, Kuriles, Ryukyus, Đài Loan, Philippin, và quần đảo Greater Sunda) ở phía đông.

Các nhà phân tích đã đánh giá rằng Hải quân Trung quốc có thể đạt được khả năng “nước màu xanh lục” nầy trong những năm đầu của thế kỷ 21. Những tài liệu đã được công bố cũng cho biết là Hải quân Trung Quốc có ý định phát triển khả năng hoạt động ở “chuỗi quần đảo thứ hai” (Bonins, Guam, Marianas, và quần đảo Palau) vào giữa thế kỷ 21. Trong tương lai, Hải quân Trung Quốc có thể sẽ bành trướng hoạt động đến các căn cứ ở Myanmar. Các căn cứ nầy sẽ cung cấp cho Hải quân Trung Quốc phương tiện đi thẳng đến eo biển Malacca và Vịnh Bengal.”

Kaplan cho biết là đến cuối thập kỷ 90 Hải quân Trung Quốc có khoảng 268.000 sĩ quan và lính, trong đó có 25.000 người trong quân chủng hàng không hải quân và khoảng 7.000 lính thủy đánh bộ. Toàn bộ lính thủy đánh bộ là thuộc Hạm đội Nam Hải. Khối lính thủy đánh bộ (thuộc Hạm đội Nam Hải) này gồm 2 lữ đoàn, gọi là Lữ đoàn Thủy quân Lục chiến số một và số 164. Dưới mỗi lữ đoàn có 3 trung đoàn bộ binh, một trung đoàn pháo, một trung đoàn thiết giáp lội nước, và các đơn vị công binh, trinh sát, phòng chống hóa chất, và giao thông. Các đơn vị nầy là những đơn vị hạng tiểu đoàn và đại đội.[11]

Lính thủy đánh bộ của Trung Quốc được huấn luyện tốt và đựợc cung cấp đầy đủ các loại vũ khí cần thiết. Theo Kaplan: “Sứ mạng chính của lính thủy đánh bộ Trung Quốc là bảo vệ các đảo mà Trung Quốc đã chiếm ở Trung Quốc Nam Hải (South China Sea) trong thời bình và chiếm đóng và phòng thủ các đảo trong khu vực Trung Quốc Nam Hải trong thời chiến…. Lính thủy đánh bộ Trung Quốc được trang bị với các xe tăng lội nước (amphibious tanks) và các xe thiết giáp chở lính (armored personnel vehicles), súng đại liên (howitzers) và nhiều thứ vũ khí phóng tên lửa khác nhau. Mặc dù Hải quân Trung Quốc có khoảng 60 xe tăng… khả năng chở lính đổ bộ chỉ khoảng 5 đến 10 nghìn người cùng một lúc.” Vì thế, theo Kaplan, từ cuối thập kỷ 90 Hải quân Trung Quốc đã bắt đầu phát triển các khả năng đổ bộ như thuyền bay trên nệm hơi loại gọi là Jingsha (Jingsha-class air cushion vehicles) và các loại thuyền đẩy bằng cánh quạt gió (wing-in-ground-effect craft) bay trên mặt nước khoảng 1 mét với tốc độ khoảng hơn 120 hải lý một giờ để dùng trong việc đổ bộ lính thủy đánh bộ trong tương lai.

Trong quá khứ, các cuộc tập trận đổ bộ của lính thủy đánh bộ Trung Quốc đã được phối hợp với các cuộc dội bom bằng máy bay và nã pháo từ các chiến thuyền. Nhưng vì khả năng phối hợp này còn yếu nên gần đây Trung Quốc đã phát triển hàng nghìn các loại vũ khí hổ trợ cho việc đổ bộ của lính thủy đánh bộ. Nhưng trong bài nầy tôi không đi vào chi tiết mà chỉ xin lưu ý là mặc dầu với con số khá lớn như thế, khả năng hiện nay của Trung Quốc so với Mỹ trong khu vực nầy còn kém nhiều và vì thế chưa là mối đe dọa lớn cho các tàu lặn tối tân của Mỹ.

Hơn thế nữa, việc Trung Quốc tăng cường các loại chiến thuyển chở lính đổ bộ (amphibious warships) đã gây sự chú ý của Mỹ và phản ứng của một số nước trong khu vực Đông Á. Theo một bài nghiên cứu thì trên thực tế vấn đề chạy đua vũ trang chính trong khu vực nầy là việc phát triển các chiến thuyền có khả năng đưa lính đổ bộ đến bất cứ đâu trong khu vực.[12] Hải quân Nhật, Hàn Quốc, và Ô-xtrây-li-a mỗi nước đang mua hoặc đóng ít nhất là 2 chiến thuyền đổ bộ loại 20 ngàn tấn, lớn tương đương với loại hàng không mẫu hạm loại Invincible (bất bại) của Anh Quốc. Mỗi chiếc của 3 loại nầy trong tương lai rất gần sẽ có thể đưa vào bất cứ nơi nào trong khu vực Châu Á hai đội (squadrons) máy bay trực thăng và một số thuyền đổ bộ bay trên đệm hơi (landing craft, air cushion = LCAC). Mỗi chiếc LCAC nầy có thể chở một xe thiết giáp loại 60 tấn cùng với lính, các loại xe khác, và các loại trang thiết bị cần thiết cho các cuộc viễn chinh ở các nơi trong khu vực. Nhưng Nhật, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a đặc biệt chú trọng đến khu vực Đông Nam Á.

Hàn Quốc đã đưa vào hoạt động một chiến thuyền đổ bộ mới loại Dokdo và sẽ hạ thủy thêm 3 chiếc nữa trong tương lai gần. Mỗi chiếc sẽ nặng khoảng 19 ngàn tấn khi trang bị đầy đủ và sẽ có thể chở 700 lính, 15 chiếc trực thăng, 2 chiếc LCAC, vài chục chiếc xe các loại và nhiều tấn vật liệu tiếp tế cho một cuộc đổ bộ.

Theo nghiên cứu trích ở trên thì Ô-xtrây-li-a sẽ có quyết định cuối cùng vào tháng 6 năm 2007 trong việc chọn lựa giữa một kiểu chiến thuyền đổ bộ giống như kiểu Mistral của Pháp hay kiểu Strategic Projection Vessel của Tây Ban Nha. Kiểu Mistral là loại chiến thuyền được thiết kế đặc biệt cho việc đổ bộ và nó có khả năng tương đương với chiếc Dokdo của Hàn Quốc. Chiến thuyền kiểu Tây Ban Nha nặng khoảng 27 ngàn tấn và thiết kế để sử dụng các chiếc máy bay cất cánh nhanh và có thể hạ thẳng xuống (short takeoff and vertical landing = STOVL) như máy bay Harrier của Anh hay máy bay F-35B Lightening II của Mỹ. Vì thế, mặc dầu chiến thuyền đổ bộ kiểu Tây Ban Nha có thể chở hơn 900 lính, 20 chiếc trực thăng và STOVL, nó chỉ có thể chở một chiếc LCAC. Nhưng vì dưới khoang tàu là cái gầm có nước tràn vào cho nên chiếc LCAC có thể ra vào một cách hết sức nhanh chóng (so với những chiến thuyền kiểu khác phải thả các chiếc LCAC bằng các trục giây cáp xuống từ hai bên hông tàu) và có thể đưa nhiều lính và các trang thiết bị vào đất liền ngay từ ngoài khơi.

Mặc dầu hai chiếc khu trục chở máy bay trực thăng (helicopter destroyer) mà hải quân Nhật—gọi là Lực Lượng Phòng Vệ Biển (Japan Maritime Self-Defense Force = JMSDF)—đang đóng không có cửa vào thẳng trong gầm tàu như kiểu Tây Ban Nha, mỗi chiếc (tên là 16DDH) cũng có thể chở cùng một số lượng máy bay trực thăng như các chiến thuyền đổ bộ kiểu Tây Ban Nha. Thêm vào đó là hai chiếc nầy được thiết kế để phối hợp hoạt động với 3 chiến thuyền đổ bộ kiểu Oosumi mà Nhật đã hạ thủy. Mỗi chiếc Oosumi có thể chở 2 chiếc LCAC, 2 chiếc trực thăng trở lên và 330 lính.

Ngoài các chiến thuyền đổ bộ của Hàn Quốc, Ô-xtrây-li-a, và Nhật trong khu vực Tây Thái Bình Dương còn có những chiếc WASP của hải quân Mỹ. Mỗi chiếc có thể chở 1870 lính, 42 chiếc trực thăng và STOVL và 3 chiếc LCAC.

Những chiến thuyền đổ bộ kể trên, với những máy bay trực thăng và LCAC và khả năng đưa lính đổ bộ nhanh chóng cũng như khả năng cung cấp và duy trì các cuộc hành quân đó, sẽ là những phương tiện mới để gây ảnh hưởng tại Đông Á cho dù các cuộc hành quân đó không phải là chiếm đóng các vị trí quân sự quan trong mà là để giúp giữ gìn an ninh và trật tự hay để cứu giúp những nạn nhân sóng thần hay núi lửa.

Trong những năm trước mắt, nếu có biến cố xảy ra ở In-đô-nê-sia, Phi-líp-pin, hay nơi nào đó ở Đông Nam Á thì những chiến thuyền đổ bộ của Mỹ sẽ phải phối hợp với các chiến thuyền đổ bộ có nhiều khả năng của Nhật, Hàn Quốc, và Ô-xtrây-li-a để can thiệp. Việc phối hợp nầy một đằng có nghĩa là Mỹ sẽ mất thế độc tôn trong việc can thiệp hay trợ giúp các nước trong khu vực khi có biến cố. Đằng khác, nếu bất cứ một nước nào đó muốn dùng sức mạnh hải quân để đơn phương can thiệp hay gây biến cố trong khu vực thì nước đó cũng có thể phải e dè đến sự phản ứng đa phương của hải quân các nước như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Nhật, Ô-xtrây-li-a, và một số nước khác.

Chiến lược phủ định của Trung Quốc

Như vừa cho thấy ở trên, việc tăng cường chiến thuyền đổ bộ và các phương tiện đổ bộ khác của Trung Quốc đã gây nên một cuộc chạy đua mà nói chung là càng làm cho Trung Quốc tụt hậu so với Nhật, Hàn Quốc và Ô-xtrây-li-a. (Một trong những lý do cho việc tụt hậu của Trung Quốc so với các nước vừa kể trên trong lãnh vực phát triển các chiến thuyền đổ bộ là vì Trung Quốc cũng đang đầu tư khá nhiều vào việc phát triển hàng không mẫu hạm.)[13]

Trong khi đó thì hạm đội trên mặt nước của Trung Quốc rất yếu kém so với Mỹ. Mặc dầu Trung Quốc hiện nay có hơn 400 chiến hạm loại tấn công, chỉ có khoảng 50 chiếc là loại lớn theo tiêu chuẩn của Âu-Mỹ. Những chiếc nầy được trang bị với các hỏa tiển và đầu đạn tầm gần và tầm xa nhưng không có khả năng đương đầu với các tàu chiến lớn của Mỹ hay chống lại và tìm diệt các tàu lặn của Mỹ. Ngoài các chiến thuyền tấn công, hải quân Trung Quốc có hơn 300 chiếc chiếc “hộ vệ đỉnh” đủ loại. Theo Kaplan, gần như toàn bộ các chiếc thuyền nầy đều trang bị với các khả năng gài những loại mìn với những hệ thống sử dụng công nghệ rất hiện đại. Ông ta cho biết là: “Nếu dùng với số lượng đầy đủ thì các loại mìn nầy sẽ gây một đe dọa rất khả quan đối với các chiến thuyền trên mặt nước và tàu lặn hoạt động dọc vùng duyên hải Trung Quốc, Hoàng Hải (Yellow Sea), Biển Nhật Bản, eo biển Đài Loan và Trung Quốc Nam Hải. (If used in sufficient numbers, this inventory poses a significant threat to surface and submarine units operating along China’s littoral, the Yellow Sea, Sea of Japan, Taiwan Strait, and South China Sea.)[14]

Nhưng vì Trung Quốc chưa thể đương đầu với các hạm đội trên mặt nước của Mỹ, chiến lược của Trung Quốc là dùng tàu lặn để tấn công và phủ định sức mạnh của các hạm đội trên mặt nước của Mỹ vì các tàu trên mặt nước, đặc biệt là hàng không mẫu hạm, rất khó phòng thủ trước các cuộc tấn công của tàu lặn bắn hàng loạt các tên lửa có đầu đạn các loại gần xa cùng một lúc.

Nói đến tàu lặn thì bắt đầu từ thập kỷ nầy Trung Quốc có khoảng 70 chiếc và hiện nay số lượng đó vẫn như thế vì chiến lược của Trung Quốc là thay thế những tàu lặn kiểu cũ với những tàu lặn tối tân hơn như là loại chạy bằng năng lượng nguyên tử có thể phóng các tên lửa (nuclear-power ballistic-missile system, SSBN). Một ví dụ là loại 094 SSBN được trang bị với 16 ống phóng tên lửa. Từ năm 2002 đến giữa năm 2005 Trung Quốc đã đóng 14 chiếc tàu lặn loại mới. Nếu Trung Quốc tiếp tục đóng những chiếc tàu lặn tối tân với tốc độ vừa qua thì đến cuối thập kỷ nầy Trung Quốc sẽ có 40 chiếc tàu lặn tối tân. Một lần nữa trong bài nầy tôi xin không đi vào các chi tiết về các kiểu tàu lặn mới của Trung Quốc và khả năng của chúng. Tôi chỉ muốn lưu ý là phần lớn các loại tàu lặn tối tân là trong Hạm đội Nam Hải và những tàu lặn nầy đã từng đi theo các chiến thuyền của Mỹ đến tận đảo Guam để thử xem khả năng phát hiện tàu lặn của các chiến hạm của Mỹ tinh vi đến độ nào.[15]

Một nhà nghiên cứu Mỹ, tên Richard Fisher, Jr., trong một bài với tựa đề “Trouble Below: China’s submarines pose regional, strategic challenges” đăng trong Armes Forces Journal ngày 6 tháng 3 năm 2006 viết: “Thêm vào đó là, vì trọng tâm của lực lượng tấn công nguyên tử tầng thứ hai (của Trung Quốc) chuyển về phía nam, người ta có thể dự tính rằng Bắc Kinh sẽ càng ngày càng thách thức hơn đối với các lãnh thổ mà Trung Quốc cho là của Trung Quốc trong khu vực Trung Quốc Nam Hải.” (In addition, as the focus of its nuclear second-strike capability moves south, it can be expected that Beijing will become more belligerent regarding its territorial claims in the South China Sea.) Fisher cho biết rằng tàu lặn nguyên tử loại 093 SSN có thể trang bị với các đầu đạn cruise tấn công trên đất liền (land-attack cruise missiles, LACM) với tầm xa từ 1000 đến 2000 cây số sẽ càng ngày càng được dùng ở cuối thập kỷ nầy và đầu thập kỷ tới ở các nước xa Trung Quốc để ủng hộ các chính thể và các phe phái chính trị trung thành với Trung Quốc. Trong khi đó, nếu Nhật không tăng ngân sách quốc phòng một cách đáng kể thì trong tương lai Nhật chỉ có thể duy trì khoảng 15 đến 16 tàu lặn lọai thường (conventional submarines, SSKs).[16]

Trong bài với tựa đề “China’s Submarine Challenge” mà The Heritage Foundation ở Mỹ đăng ngày 1 tháng 3 năm 2006, John J. Tkacik, Jr., cho biết hiện nay Mỹ có 35 tàu lặn trong Hạm đội Thái Bình Dương, trong đó có 3 chiếc loại tấn công nguyên tử (nuclear attack submarines) đóng ở đảo Guam. Nhưng chỉ có khoảng một chục chiếc là được đưa vào hoạt động trong bất cứ một thời điểm nào. Và vì giá đóng mỗi chiếc tàu lặn là hơn 2 tỷ đô la và vì ngân sách đóng tàu lặn đang bị cắt, đến năm 2025 Hạm đội Thái Bình Dương của Mỹ sẽ chỉ còn có 30 chiếc. Tkacik cho biết rằng một số nghiên cứu đã ước tính là đến năm 2025 số lượng tàu lặn của Trung Quốc ở Thái Bình Dương sẽ lớn hơn gấp 5 lần số lượng tàu lặn của Mỹ và các tàu lặn nguyên tử có các đầu đạn nguyên tử của Trung Quốc sẽ đi rình mò dọc miền ven biển Tây của Mỹ để buộc ít nhất là hai chiếc tàu lặn loại tấn công (attack submarines) của Mỹ phải đi theo dõi một chiếc tàu lặn nguyên tử của Trung Quốc. Vì những lý do trên, đến năm 2025 hải quân của Trung Quốc sẽ có thể làm chủ Thái Bình Dương.[17]

Phương pháp thứ hai trong chiến lược phủ định sức mạnh của hải quân Mỹ là làm tê liệt các phương tiện trinh sát và truyền tin của quân đội Mỹ, như giết các vệ tinh, để cho quân đội của Mỹ bị mù trong khi Trung Quốc tấn công các mục tiêu quân sự và vì thế không có thể trở tay hay tiếp ứng kịp thời. Ngày 11 tháng Giêng vừa qua Trung Quốc thử vũ khí chống vệ tinh (anti-satellite test, ASAT) bằng cách dùng phương pháp ra-đa mảng (phased array radar) để hướng dẫn một phi thuyền giết vệ tinh bằng động năng (kinetic-kill vehicle) bay theo một vệ tinh của Trung Quốc đang bay vòng quanh khoảng 475 dặm Anh trên không trung với tốc độ nhanh hơn một đầu đạn xuyên lục địa đang phóng xuống từ trên không trung và đập nát vệ tinh nầy ra thành hơn 1600 mảnh. Vũ khí chống vệ tinh nầy của Trung Quốc được tình báo Mỹ gọi là SC-19 và được phóng lên từ một dàn phóng di động. Mỹ biết trước là Trung Quốc sẽ thử vũ khí chống vệ tinh nầy nhưng làm thinh vì biết là không có cách nào cản được Trung Quốc.[18]

Ashley Tellis, một nhà nghiên cứu tại Carnegie Endowment for International Peace, cho biết là các yếu tố kỹ thuật trong cuộc thử vũ khí chống vệ tinh nầy của Trung Quốc cũng giống như các yếu tố kỹ thuật trong việc bắn hạ các tên lửa. Cùng với việc thử vũ khí giết vệ tinh, Trung Quốc sẽ triển khai hệ thống tên lửa xuyên lục địa lưu động (road-mobile intercontinental ballistic missle) gọi là DF-31. Tellis viết thêm rằng Bắc Kinh đã đi đến quyết định là phải có một hệ thống tên lửa và khả năng tiêu diệt vệ tinh hùng mạnh để “chống lại toàn bộ khả năng quân sự của Hoa Kỳ” và để phá vở “mạng lưới phức tạp nhưng khó bảo vệ của chỉ huy, điều khiển, thông tin, và các hệ thống dựa vào máy vi tính để cung cấp tin tức trinh sát” (“complex, exposed network of command, control, communications, and computer-based systems that provide intelligence reconnaissance”) cho quân đội của Mỹ. Tellis viết là bởi vì các nhà hoạch định quốc phòng Trung Quốc thấy các nhược điểm chính của quân đội Mỹ là tính chất nối mạng thông tin nên Trung Quốc sẽ không bao giờ từ bỏ các nỗ lực xây dựng các quân lực tên lửa hùng mạnh dẫu cho Mỹ có đưa ra bất cứ những đề nghị gì để hòng ngăn chặn vấn đề vũ khí hóa không gian (weaponization of space).[19]

Trong khi đó thì thái độ chống đối của Trung Quốc đối với việc Mỹ muốn triển khai/dàn dựng hệ thống phòng thủ tên lửa (ballistic missile defense system, BMD) ở Âu Châu và ủng hộ Nga trong việc tranh cãi với Mỹ về vấn đề nầy cho ta thấy Trung Quốc sợ nếu Mỹ thành công ở Âu Châu thì Mỹ sẽ có thể thiết lập hệ thống nầy ở vùng Châu Á Thái Bình Dương. Phản ứng của Trung Quốc càng ngày càng mạnh. Khi cuộc họp thượng đỉnh G8 vừa qua bắt đầu, Jiang Yu (người phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc) tuyên bố là “các hệ thống phòng thủ tên lửa có ảnh hưởng tiêu cực đối với cân bằng chiến lược và ổn định và (vì thế) có phương hại đến vấn đề tin tưởng lẫn nhau giữa các cường quốc và có thể sẽ tạo ra các vấn đề phổ biến vũ khí mới (Xinhua, ngày 5 tháng 6 năm 2007).

Ngày 21 tờ Nhân Dân nhật báo (People’s Daily) đăng một bài xã luận nói rằng kế hoạch chống tên lửa của Mỹ ở Âu Châu diễn ra cùng lúc với những hoạt động hợp tác với Nhật và Ô-xtrây-li-a để phát triển một hệ thống tương tự ở Á Châu. Bài nầy nói rằng hệ thống phòng thủ tên lửa cũng có thể dùng để tấn công như là “bắn trúng các tên lửa cao tốc tấn công các máy bay đang bay hay những vệ tinh trên quỹ đạo.” Bài báo nhấn mạnh rằng những nỗ lực của Mỹ và đồng minh trong việc xây dựng một hệ thống phòng thủ tên lửa là “phản ánh đầu óc của Mỹ muốn tăng cường trạng thái tâm lý Chiến Tranh Lạnh” và vì thế “sẽ chẳng có thể duy trì an ninh khu vực hay phát triển sự tin tưởng lẫn nhau hay sự hợp tác giữa các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.” Bài xã luận đi đến kết luận đáng ngại là hệ thống phòng thủ tên lửa “sẽ không những tăng cường sự mất tin tưởng và cảm giác xa lìa giữa các quốc gia nhưng sẽ còn tạo ra những vấn đề phổ biến vũ khí.”

Vài nhà nghiên cứu cho rằng Trung Quốc thử vũ khí chống vệ tinh để đánh đổi việc Mỹ và các đồng minh muốn gầy dựng các hệ thống vũ khí chống tên lửa từ trên không gian (space-based antimissile weapons). Peter W. Rodman, một viên chức cao cấp của Bộ Quốc Phòng Mỹ vừa từ chức gần đây, không đồng ý với quan điểm nầy và cho biết rằng Trung Quốc đã từ lâu viết về các phương cách làm sao để đánh què một siêu cường dựa vào kỹ thuật cao như vệ tinh và đã rất kiên nhẫn trong việc phát triển các vũ khí có khả năng thực hiện việc đó cho nên, theo ông thấy, Trung Quốc không có lý do gì để trao đổi cả.[20] Larry Wortzel, một nhà nghiên cứu chiến lược trong Bộ Quốc Phòng Mỹ và là cựu tùy viên quân sự tại Bắc Kinh đi đến kết luận (sau khi nghiên cứu các tài liệu quân sự của Trung Quốc) rằng Trung Quốc, cũng như Nga, chuẩn bị các hệ thống tên lửa để áp đảo bất cứ một hệ thống phòng tên lửa nào của Mỹ. Wortsel trích bài viết mới đây của một số sĩ quan Trung Quốc trong đó họ cho rằng “các lực lượng tên lửa hướng dẫn là những quân chủ bài để dành lấy thắng lợi trong một chiến tranh cục bộ công nghệ cao” (“guided missile forces are the trump card (sa shou jian) in achieving victory in limited high technology war”).[21]

Lô-gích vừa trích ở trên cũng có nghĩa là khả năng bảo vệ các vệ tinh và các mấu thông tin của hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ và đồng minh là một trong những đe dọa lớn nhất đối với chiến lược quân sự của Trung Quốc. Nhưng Trung Quốc càng phát triển khả năng dùng tên lửa để làm cho hệ thống trinh sát của Mỹ bị mù thì Mỹ lại càng tăng cường hệ thống phòng tên lửa. Và như thế thì quả thật sẽ có thể gây ra một trình trạng giống như Chiến Tranh Lạnh trước đây. Tình trạng mới nầy làm cho nhiều nước ở Đông Nam Á đang phải vừa củng cố quốc phòng vừa tìm các biện pháp phòng hờ (hedging) đối với Trung Quốc và Mỹ.

Chiến lược Hải quânTrung Quốc ở Biển Đông phần I I
Ví dụ phòng hờ và thái độ của Mỹ

Một ví dụ phòng hờ là trường hợp của Ma-lai-xi-a. Ma-lai-xi-a là nước có quan hệ rất tốt với Trung Quốc và cả hai nước nầy đều công nhận như thế. Trên bình diện kinh tế thì mậu dịch hai chiều đã tăng từ 14,2 tỷ USD năm 2003 đến 22,5 tỷ USD năm 2005. Theo tài liệu của Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF) thì đến năm 2005 Trung Quốc là bạn hàng lớn thứ tư của Ma-lai-xi-a, sau Mỹ, Xing-ga-po và Nhật. Tuy nhiên từ năm 2000 nhập siêu của Ma-lai-xi-a đối với Trung Quốc đã tăng dần; và đến năm 2005 nhập siêu của Ma-lai-xi-a đối với Trung Quốc là 3,9 tỷ USD. Một lý do cho việc nhập siêu nầy là vì hàng chế biến của Trung Quốc quá rẻ và làm cho các doanh nhiệp Ma-lai-xi-a rất khó cạnh tranh.[22] Tuy nhiên, chính phủ Ma-lai-xi-a cũng rất lạc quan về quan hệ kinh tế với Trung Quốc và cả hai chính phủ đều đặt mục tiêu mậu dịch hai chiều sẽ tăng lên đến 50 tỷ USD năm 2010. Xuất khẩu nhiên liệu của Ma-lai-xi-a sang Trung Quốc sẽ giúp Ma-lai-xi-a giảm tỷ lệ nhập siêu vì Ma-lai-xi-a là một trong những nước xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (liquified natural gas, LNG) nhiều nhất trên thế giới. Tháng 11 năm 2006 hãng dầu quốc doanh (Petronas) của Ma-lai-xi-a thắng thầu cung cấp cho Thượng Hải mỗi năm 3 triệu tấn LNG trong 25 năm với giá 25 tỷ USD. Và đây là hợp đồng lớn nhất giữa hai nước.[23]

Ma-lai-xi-a đối đãi rất tế nhị với Trung Quốc. Một ví dụ là từ năm 2000 Ma-lai-xi-a đã nới rộng các hạn chế về thị thực và để cho công nhân Trung Quốc vào ra Ma-lai-xi-a một cách dễ dàng. Kết quả là số du khách từ Trung Quốc đến càng ngày càng tăng. Năm 2003 có 350 ngàn du khách Trung Quốc đến thăm Ma-lai-xi-a và năm 2006 con số nầy đã tăng đến 439 ngàn. Thêm vào đó là Ma-lai-xi-a đã cho rất nhiều sinh viên Trung Quốc vào học tại các đại học và cao học Ma-lai-xi-a. Năm 2003 có 11 ngàn sinh viên Trung Quốc ghi tên học tại các đại học Ma-lai-xi-a, tức là khoảng 25% tổng số các sinh viên nước ngoài tại Ma-lai-xi-a. Số du khách và sinh viên to lớn kể trên đem đến cho Ma-lai-xi-a một số thu nhập đáng kể. Nhưng con số to lớn ấy cũng gây lên những quan tâm về an ninh vì có hàng vạn công dân Trung Quốc ấy không chịu về nước và một là trốn ở lại trái phép hay dùng Ma-lai-xi-a để rồi đi đến nước thứ ba.[24]

Đối với các vấn đề khác -như Đài Loan, eo biển Malacca, và an ninh khu vực- Ma-lai-xi-a cũng đã sử sự rất khôn khéo để làm cho Trung Quốc vui lòng.[25] Thủ tướng Abdullah Badawi đã thường tuyên bố là ông không coi Trung Quốc là một mối đe dọa và bộ trưởng quốc phòng Ma-lai-xi-a thường cho rằng Trung Quốc là một đồng minh của ASEAN. Tháng 4 năm 2007 bộ trưởng quốc phòng Ma-lai-xi-a tuyên bố trước quốc hội Ma-lai-xi-a là việc Trung Quốc tăng cường các lực lượng hải quân không có nghĩa là Trung Quốc có tham vọng bành trướng ở Á Châu. Các quan chức và các chính khách Ma-lai-xi-a thường lập đi lập lại luận điểm nầy và những ai nghĩ rằng Trung Quốc là mối đe dọa thì không phát biểu trước công chúng.[26]

Một trong những vấn đề an ninh tồn tại giữa Ma-lai-xi-a và Trung Quốc là tranh chấp về quần đảo Trường Sa. Năm 1980 Ma-lai-xi-a tuyên bố chủ quyền trên 12 đảo trong quần đảo Trường Sa và từ đó đến nay đã chiếm đóng 5 đảo. Trong thập kỷ 1980 Ma-lai-xi-a đã mua nhiều chiến hạm và máy bay hiện đại để phòng giữ các đảo khu vực trong quần đảo Trường Sa mà Ma-lai-xi-a đã tuyên bố thuộc về chủ quyền của họ. Trung Quốc đã không có phản ứng gì mạnh đối với Ma-lai-xi-a một là vì sợ tổn thương quan hệ chính trị và kinh tế với Ma-lai-xi-a. Hai là những khu vực mà Ma-lai-xi-a tuyên bố chủ quyền cách Trung Quốc quá xa trong khi quân đội Ma-lai-xi-a có đủ sức phòng vệ các khu vực ấy trong khi không quân Trung Quốc chưa có đủ khả năng để trợ lực cho các cuộc đổ bộ dành lấy các đảo nầy.

Vì những lý do vừa kể trên, Trung Quốc và Ma-lai-xi-a đã cố gắng cải thiện quan hệ quân sự với nhau. Tháng 9 năm 2005 hai nước đã ký một bản “Ghi nhớ về đồng ý trên phương diện hợp tác quân sự” (Memorandum of Understanding on Defense Cooperation) để có những trao đổi trong các hoạt động quân sự. Nhưng khi Trung Quốc đề nghị bán các hệ thống vũ khí, kể cả các chiến thuyền, cho Ma-lai-xi-a thì Ma-lai-xi-a đã lễ phép từ chối. Trong khi đó thì Ma-lai-xi-a vẫn tiếp tục mua vũ khí của Mỹ, Anh và Nga vì những vũ khí nầy tốt hơn và tối tân hơn những vũ khí chế tạo tại Trung Quốc. Hơn thế nữa, Ma-lai-xi-a đã cố gắng duy trì một cách rất im lìm sự hiện diện quân sự của Mỹ trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.[27]

Mặc dầu bề ngoài ra vẻ chống Mỹ, tiền nhiệm của Thủ tướng Abdullah đã bí mật ký một hiệp định với Mỹ để cho các chiến thuyền của hải quân Mỹ và các máy bay quân sự của Mỹ có thể được sửa chữa và tiếp vận tại Ma-lai-xi-a. Hiệp định nầy -gọi là “Cross Servicing and Acquisitions Agreement- được giữ trong bí mật cho đến năm 2005 khi chính quyền ông Abdullah ký gia hạn hiệp định nầy trong 10 năm. Theo một số nhận xét thì, nói chung, quan hệ quân sự của Ma-lai-xi-a với Mỹ quan trọng hơn bất cứ những quan hệ gì Ma-lai-xi-a có với Trung Quốc. Mỗi năm các chiến thuyền của Mỹ thường viếng thăm các cảng của Ma-lai-xi-a; hải quân Ma-lai-xi-a và hải quân Mỹ mỗi năm đều tập trận với nhau; các đội lặn của hải quân và bộ binh Mỹ thường tập luyện với các đội Ma-lai-xi-a; và lính huấn luyện chiến trận trong rừng Ma-lai-xi-a. Các khâu quan hệ quân sự của Ma-lai-xi-a với Mỹ -cũng như với Anh, Ô-xtrây-li-a, Niu-di-lân qua cái hiệp định gọi là “Five Power Defense Arrangement, FPDA” - chứng tỏ một cách rất rõ ràng là Ma-lai-xi-a muốn có một lực lượng đối trọng trước một Trung Quốc đang lên và đang bành trướng ảnh hưởng. Vì thế, tuy Ma-lai-xi-a cố gắng mềm dẽo và tế nhị với Trung Quốc để duy trì quan hệ tốt, Ma-lai-xi-a cũng có chính sách phòng hờ. Do đó, Ma-lai-xi-a vẫn tiếp tục cảnh giác đối với các khu vực tranh chấp ở quần đảo Trường Sa và cố gắng duy trì sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Á Châu.[28]

Nói chung thì các nước Đông Nam Á đều có các chính sách phòng hờ riêng của mình và phần lớn đều đang chạy đua vũ trang, đặc biệt là mua hay đóng tàu ngầm. Tờ Sunday Telegraph, ngày 4 tháng 2 năm 2007 cho biết rằng In-đô-nê-xia đã tuyên bố là sẽ cho đóng 12 chiếc tàu ngầm tối tân để hạ thủy khoảng năm 2024. Tờ báo cho biết là In-đô-nê-xia đã mua nhiều tàu ngầm hơn bất cứ nước nào cùng cỡ: 4 chiếc loại Kilo chạy bằng dầu diesel của Nga với giá là 200 triệu USD mỗi chiếc và hai chiếc của Hàn Quốc với giá 750 triệu USD. Xing-ga-po định có 6 chiếc tàu ngầm khoảng năm 2016. Ma-lai-xi-a đã đặt mua hai chiếc tàu ngầm Scorpene của Pháp. Và Việt Nam muốn có hai hay là 3 chiếc tàu ngầm hạng Kilo của Nga.[29] Như đã trình bày phía trên, tàu ngầm có hiệu lực lớn trong việc chống các tàu trên mặt nước. Nhưng sự chạy đua vũ trang này có nguy cơ gây ra những đụng độ vô tình mà hậu quả là không có thể lường trước được.

Do đó, thái độ của Mỹ là làm sao kéo tất cả các lực lượng hải quân trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương hợp tác để bảo vệ các đường thông thương trên biển, đặc biệt là qua eo biển Malacca và Biển Đông. Cựu Đô đốc Eric A. McVadon viết trong một bài đăng trong China Brief ngày 13 tháng 6 năm 2007 rằng Đô đốc Michael Mullen, tổng tư lệnh chiến dịch của hải quân Mỹ (U.S. Chief of Naval Operations), đã mời Trung Quốc hợp tác, qua phó đô đốc và tư lệnh quân đoàn hải quân Trung Quốc tên Wu Shengli, với một “Hải Quân Nghìn Thuyền” (“Thousand Ship Navy”). Hải Quân Nghìn Thuyền nầy là kiểu hợp tác tự nguyện trong một mạng lưới hải quân đa quốc gia. Theo cựu Đô đốc McVadon thì lời mời của Đô đốc Michael Mullen được giới quân sự Trung Quốc chú ý và Đô đốc Wu Shengli cho biết rằng ông thích đề nghị nầy và sẽ bàn thêm với Đô đốc Mullen khi ông nầy sang thăm Trung Quốc vào trung tuần tháng 6 năm 2007. Một viên chức cao cấp của hải quân Trung Quốc có nhiều quan hệ với giới lãnh đạo quân sự Trung Quốc cũng cho Đô đốc McVadon biết hồi tháng 4 năm 2007 là họ ủng hộ việc hợp tác tập trận giữa hải quân Mỹ và Trung Quốc trong việc bảo vệ an ninh của các đường thông thương trên biển.[30]

Theo Đô đốc McVadon thì những đề nghị hợp tác song phương lại được Đô đốc Timothy Keating, chỉ huy trưởng hải quân Mỹ trong khu vực Thái Bình Dương, lập lại trong khi ông đến thăm Bắc Kinh và gặp Đại tướng Guo Boxiong, phó chủ tịch cao nhất của Quân ủy Trung ương của Trung Quốc. Đô đốc Keating và Đại tướng Guo đều muốn có thêm trao đổi quân sự để phát triển quan hệ song phương. Một chi tiết khá quan trọng trong buổi tọa đàm với Đại tướng Guo là Đô đốc Keating nói ông ta thấy việc Trung Quốc muốn phát triển một hạm đội hàng không mẫu hạm cũng “dễ hiểu”. Ông nhấn mạnh sự khó khăn và rắc rối trong việc phát triển và điều hành một chiếc hàng không mẫu hạm và nói tiếp rằng nếu Trung Quốc muốn thì Mỹ sẽ sẵn sàng giúp đỡ trong các lãnh vực được đề cập đến. Nhưng phản ứng của một số quan chức và chuyên gia quân sự Trung Quốc là nhiều lắm thì Mỹ cũng chỉ truyền đạt suông một số kinh nghiệm điều hành thôi chứ Mỹ còn lâu mới bỏ cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc và chịu chuyển giao các công nghệ hải quân cho Trung Quốc. Theo một tờ báo Hông Kông, Trung tướng Yang Chunchang của Viện Khoa Học Quân Sự tại Bắc Kinh ông ta rất nghi ngờ về những gì Đô đốc Keating đã nói và ông ta cho rằng việc Mỹ muốn giúp đỡ là chỉ muốn nạy ra những bí mật mà thôi. Đô đốc McVadon kết luận rằng những phản ứng như trên chứng tỏ là hai bên cần phải cố gắng rất nhiều để tạo tin tưởng lẫn nhau. Nhưng ít ra Đô đốc Mullen và Đô đốc Keating cũng đã khởi đầu một quá trình và đã gây chú ý đến sự cần thiết của hợp tác. Theo Đô đốc McVadon, để có thể thành công thì bất cứ một cuộc hợp tác hải quân nào cũng cần một nền tảng quan hệ song phương được cải thiện và sự hợp tác rộng rãi hơn giữa Trung Quốc và Mỹ với các nước khác trong khu vực.

Nói tóm lại, yêu cầu chiến lược của Mỹ là duy trì an ninh trên biển Thái Bình Dương, nhất là trên các đường giao thương qua khu vực Đông Nam Á và Biển Đông. Mỹ có thể can thiệp đơn phương hay hợp tác và phối hợp với các lực lượng quân sự khác để bảo vệ an ninh chung trên biển trong khu vực trên. Nhưng điều nầy không có nghĩa là Mỹ hay các lực lượng hải quân khác sẽ can thiệp khi có đụng độ giữa các nước tranh chấp các đảo trong khu vực Biển Đông. Giải pháp quân sự không phải là giải pháp an ninh và an toàn.

Chú thích

[1] Trích trong David Lague, “China airs ambitions to beef up naval power,” International Herald Tribune, ngày 28 tháng 12 năm 2006. Bài nầy có thể tải về từ: http://www.iht.com/bin/print?id=4038159.

[2] Trích trong bài “Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa,” đăng trên báo Công An Nhân Dân (cand.com) ngày 29/12/2006. Bài nầy có thể tải về từ: http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisuxahoi/tintucsukien/2006/12/94420.cand.

[3] “Beijing Cashes in Prosperity in Massive Boost to Military Spending,” Agence France Press, ngày 4 tháng 3 năm 2007. Bài nầy cho biết là người phát ngôn viên của Quốc Hội Trung Quốc, ông Jiang Enzhu, cho biết rằng ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2007 sẽ bằng 7,5% của tổng ngân sách nhà nước so với 7,4% năm 2006. Ông Jiang nói tiếp rằng số tiền chi cho quân đội Trung Quốc năm 2007 là 350,9 tỷ đồng nguyên (tương đương với 45 tỷ USD), tức là tăng gần 53 tỷ nguyên so với chi tiêu thật sự năm 2006. Các nguồn tin của chính phủ Mỹ đã ước tính là ngân sách quốc phòng của Trung Quốc hàng năm là vào khoảng 80 đến 115 tỷ USD, tức là lớn nhất trên thế giới sau Mỹ và cao hơn con số chính thức được được đưa ra rất nhiều.

[4] Về những từ ngữ và cơ cấu tổ chức của Hải quân Trung Quốc bằng tiếng Trung Quốc xin xem:

Shi Yunsheng (chủ biên), Trung Quốc Hải quân Bách khoa Toàn thư (Zhongguo Haijun Baike Quanshu; 中国海军百科全书). Bắc Kinh: Nhà Xuất Bản Haichao, tháng 12 năm 1998.

Zhang Xusan (chủ biên), Hải quân Đại tự điển (Haijun Da Cidian; 军大词典). Thượng Hải: Nhà Xuất Bản Tự Điển Thượng Hải, tháng 10 năm 1993.

Zhang Yongyi (chủ biên), Hải quân Quân sự Huấn luyện Học (Haijun Junshi Xunlian Xue; 军军事训练学). Bắc Kinh: Viện Khoa học Quân sự, tháng 4 năm 2006.

Zhou Keyu, (chủ biên), Đương đại Trung Quốc Hải quân (Dangdai Zhongguo Haijun; 当代中国海). Bắc Kinh: Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, 1987.

Hải quân Trung Quốc thường dùng từ hạm đĩnh (jianting ) và hạm thuyền (jianchuan ) để nói chung về các tàu chiến của họ. Chữ thuyền (chuan) có thể dùng để đề cập đến bất cứ chiến thuyền lớn nhỏ nào.

Chữ hạm chỉ dành riêng cho các tàu chiến lớn hơn 400 tấn và có quân hàm đại đội (dadui). Quân hàm đại đội của các tàu chiến hải quân Trung Quốc tương đương với quân hàm trung đoàn (regiment) hay tiểu đoàn (battalion) của Mỹ và vì thế thường được các tài liệu của Mỹ dịch ra là “squadron” (liên đội tàu). Các đại đội hải quân đánh bộ, gọi là “hải quân lục chiến binh” (haijun luzhanbing ), “hải quân hàng không binh” (haijun hangkhongbing ), “hải quân ngạn phòng binh” ( haijun anfangbing ), hậu cần và kỹ thuật, đều có quân hàm tương đương với quân hàm tiểu đoàn của Mỹ.

Chữ đĩnh thường được dùng cho những tàu chiến nhỏ hơn 400 tấn. Nhưng hiện nay nhiều chiếc đĩnh đã lớn hơn 400 tấn vì đã được thiết bị với những hệ thống vũ khí tối tân hơn và nặng hơn, nhưng cách gọi vẫn giữ nguyên như thông lệ. Đĩnh có quân hàm cao nhất là đại đội, nhưng có những chiếc chỉ có quân hàm trung đội (zhongdui), tức tương đương với quân hàm đại đội của Mỹ. Ví dụ như những chiếc “hộ vệ đĩnh” cở 125 tấn chỉ có quân hàm trung đội và những chiếc “đạo đạn đĩnh” chỉ có quân hàm phó trung đội hay tiểu đội. Trong khi đó thì những chiếc tàu đổ bộ, gọi là “đăng lục đĩnh” (dengluting ), do các hạ sĩ quan ( ) chỉ huy thì không có quân hàm gì cả.

Mặc dầu tàu ngầm được gọi là “tiềm đĩnh”, tàu ngầm hạt nhân được quân hàm phó chi đội và tàu ngầm thông thường, tùy lớn hay nhỏ, được quân hàm phó đại đội đến đại đội.

Hải quân Trung Quốc có hết tất cả 15 cấp hàm và 5 tầng lớp. Các cấp hàm từ trên xuống dưới là:

“Quân Ủy Chủ Tịch” (Junwei zhuxi ),tức là chủ tịch của Quân Ủy Trung Ương, và “Quân Ủy Phó Chủ Tịch” (Junwei fuzhuxi ). Chức phó chủ tịch quân ủy tương đương với chức đô đốc (admiral) của Mỹ. Đô đốc của Mỹ là sĩ quan cấp 10, tức là cấp cao nhất.

“Quân Ủy Ủy Viên” (Junwei weiyuan ). Chức nầy cũng tương đương với chức đô đốc của Mỹ.

Tư lệnh vùng, gọi là “đại khu chính chức” (Daqu zhengzhi ),cũng tương đương với chức đô đốc của Mỹ.

Phó tư lệnh vùng, gọi là “đại khu phó chức” (Daqu fuzhi ), tương đương với phó đô đốc (vice admiral) hay chuẩn đô đốc (rear admiral) của Mỹ. Vice admiral của Mỹ là sĩ quan cấp 9 và rear admiral là sĩ quan cấp 8.

Tư lệnh quân đoàn, gọi là “chính quân” (Zhengjun ), tương đương với phó đô đốc hay chuẩn đô đốc của Mỹ.

Phó tư lệnh quân đoàn, gọi là “phó quân” (Fujun ), tương đương với chuẩn đô đốc hay thuyền trưởng cấp cao ( senoir captain, sĩ quan cấp 7) của Mỹ.

Sư đoàn trưởng, gọi là “chính soái” (Zhengshi ), tương đương với thuyền trưởng cấp cao hay chuẩn đô đốc của Mỹ.

Sư đoàn phó hay lữ đoàn trưởng, gọi là “phó soái” (Fushi ), tương đương với thuyền trưởng (captain, cấp 6) hay thuyền trưởng cấp cao của Mỹ.

Trung đoàn trưởng, gọi là “chính đoàn” (Zhengtuan ), tương đương với trung tá (commander, cấp 5) hay thuyền trưởng của Mỹ.

Trung đoàn phó, gọi là “phó đoàn” (Futuan ), tương đương vớ trung tá hay thuyền trưởng của Mỹ.

Tiểu đoàn trưởng , gọi là “chính doanh” (Zhengying ), tương đương với thiếu tá (lieutenant commander, cấp 4) hay trung tá của Mỹ.

Tiểu đoàn phó, gọi là “phó doanh” (Fuying ), tương đương với đại úy (lieutenant, cấp 3) hay thiếu tá (lieutenant commander) của Mỹ.

Đại đội trưởng, gọi là “chính liên” (Zhenglian ), tương đương với trung úy (lieutenant junior grade, cấp 2) hay đại úy của Mỹ.

Đại đội phó, gọi là “phó liên” (Fulian ), tương đương với cấp trung úy hay thiếu úy (ensign, cấp 1) của Mỹ.

Trung đội trưởng, gọi là “chính bài” (Zhengpai 正排), tương đương với cấp thiếu úy hay trung úy của Mỹ.

Trên phương diện cơ cấu tổ chức thì có 5 tầng lớp như sau:

Bộ Tư lệnh Hải quân. Trong cơ cấu tổ chức thì Bộ Tư lệnh có cấp hàm hạng 3, tức “đại khu chính chức.” Mãi đến năm 2004 tư lệnh trưởng và chính ủy đều là sĩ quan có hàm cấp 3. Nhưng đến khoảng giữa năm 2004 tư lệnh trưởng được tăng chức thành một ủy viên Quân Ủy và vì thế có hàm cấp 2. Nhưng chính ủy, theo tổ chức là ngang hàng với tham mưu trưởng, vẫn giữ hàm cấp 3.

Bộ tư lệnh của 3 vùng chiến lược: Bắc hải, Đông hải, và Nam Hải. Mỗi bộ tư lệnh có quân hàm cấp 4. Vì thế, từ những năm cuối thập kỹ 80, tư lệnh của các hạm đội trên đều có hàm “đại khu phó chức.”

Mỗi hạm đội đều có các căn cứ trực thuộc và những căn cứ nầy có hàm cấp 6, tức phó tư lệnh quân đoàn. Có 3 loại căn cứ: căn cứ phục vụ, căn cứ trắc nghiệm, và căn cứ đào tạo. Căn cứ “hải quân hàng không binh” cũng có hàm cấp 6. Trong tất cả các căn cứ, 8 căn cứ phục vụ sau đây là quan trong nhất: Qingdao và Lushun (khu vực Bắc hải Hạm đội); Zhoushan, Fujian, Shanghai (khu vực Đông hải Hạm đội): Guangzhou, Yulin, Zhanjiang (Nam Hải Hạm đội).

Một căn cứ phục vụ có các đơn vị trực thuộc gọi là “thủy cảnh khu” (Shuijingqu ), tức là những căn cứ có phận sự cảnh bị và phòng vệ các khu vực duyên hải. Có tất cả 8 căn cứ gọi là “thủy cảnh khu”: Dalian và Weihai (Bắc hải Hạm đội); Xiamen (Đông hải Hạm đội); Shantou, Beihai, Xisha/Hoàng Sa (Nam Hải Hạm đội).

Các chi đội tàu chiến thông thường trực thuộc một căn cứ phục vụ và các đại đội tàu chiến có thể trực thuộc một căn cứ phục vụ hay một chi đội.

[5] Trích trong China’s Navy 2007, Office of Naval Intelligence, trang 24.

[6] Như trên.

[7] Trích trong China’s Navy 2007, như trên, trang 24-25.

[8] China’s Navy 2007, trang 25.

[9] China’s Navy 2007, trang 26.

[10] Xem: Brad Kaplan, “China’s Navy Today: Storm Cloud on the Horizon …or Paper Tiger?”, http://navy.league.org/seapower/chinas_navy_today.htm.

[11] China’s Navy 2007, trang 55.

[12] “Amphibious Warships: The Real East Asian Arms Race,” Stratfor.com, ngày 5 tháng 4 năm 2007. Bài nầy có thể tải về từ: http//www.stratfor.com/products/premium/print.php?storyId=286856. Những chi tiết về những chiến thuyền đổ bộ sau đây là từ nghiên cứu nầy.

[13] Trung Quốc hiện nay đang tu trang chiếc hàng không mẫu hạm loại Kuznetsov tên là Varyag mà Trung Quốc đã mua của Nga với giá nữa tỷ USD. Chiếc Varyag được đóng khi sự hiểu biết của Liên Xô cũ về các hoạt động của các máy bay trên một chiếc hàng không mẫu hạm chưa được tinh vi lắm. Một ví dụ là sân bay trên hàng không mẫu hạm nầy nhỏ so với những hàng không mẫu hạm khác. Nhưng Trung Quốc đã nhất định đưa chiếc nầy vào hoạt động, có thể như là một hàng không mẫu hạm dùng vào việc đào tạo, vào năm 2010. Trong khi đó thì vào tháng 3 năm nay (2007) một ông đô đốc Trung Quốc đã tiết lộ trong một tờ báo Hồng Kông rằng Trung Quốc đã tiến triển rất nhanh trong việc nghiên cứu và phát triển hàng không mẫu hạm (aircraft-carrier R&D) và sẽ có thể hạ thủy một chiếc hàng không mẫu hạm vào năm 2010. (Peter Brookes, “Pacific Power Play: China’s Naval Expansionism,” The Heritage Foundation, ngày 19 tháng 3 năm 2007: http://www.heritage.org/Press/Commentary/ed032007a.cfm?RenderforPrint=1.) Vấn đề là tại sao Trung Quốc lại hạ quyết tâm phát triển hàng không mẫu hạm trong khi phát triển các chiến thuyền đổ bộ, tàu ngầm, và các hỏa tiển siêu âm lướt trên mặt nước và tự điều khiển đến mục tiêu để chống thuyền trên mặt nước (supersonic, sea-skimming anti-ship cruise missiles) là có hiệu quả hơn. Peter Brookes đưa ra một số giả thuyết (lý do). Một là, Trung Quốc cho là đã đến lúc giương ngọn cờ quốc gia và công báo cho thế giới biết Trung Quốc không chỉ còn là một đại cường khu vực nữa nhưng là một siêu cường. Nếu Trung Quốc có những hạm đội hàng không mẫu hạm mà Trung Quốc có thể gởi đi vòng quanh thế giới như Mỹ đã và đang làm thì Trung Quốc cũng có thể thị oai và chứng minh “sức mạnh mềm” của mình như Mỹ đã và đang làm. Hai là, Trung Quốc càng ngày càng phải vận chuyển nhiên liệu từ các nước Trung Đông và Châu Phi qua biển Ấn Độ, eo biển Mallaca, và Biển Đông. Những tàu chuyên chở nhiên liệu nầy hiện nay được an toàn căn bản là vì Mỹ đãm bảo việc tự do di chuyển trên biển trong các khu vực nầy. Đều nầy làm cho Trung Quốc khó chịu vì vấn đề an ninh nhiên liệu đang phải dựa vào lòng hảo tâm của Mỹ. Không có nhiên liệu nhập thì Trung Quốc không có thể tiếp tục phát kinh tế của mình với cao độ hiện nay, không có thể bành trướng ảnh hưởng, và không có thể tham chiến khi cần. Vì thế, Trung Quốc thấy việc phát triển hạm đội hàng không mẫu hạm là cần thiết để bảo vệ các đường nhập dầu và các nguồn dầu nhập. Một ví dụ là Trung Quốc đã tài trợ việc xây cất một cảng tại Gwadar ở Pakistan, gần vịnh Persian Gulf mà Trung Quốc có thể điều động một hạm đội hàng không mẫu hạm đến đó khi cần trong tương lai.

Nhưng theo một vài phân tích thì tham vọng thiết lập một hạm đội hàng không mẫu hạm hút rất nhiều tiền và sẽ làm cho hải quân Trung Quốc càng tụt hậu so với các nước trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật và Ô-xtrây-li-a trong những lãnh vực mà Trung Quốc còn suy kém. Hàng không mẫu hạm rất đắt tiền. Ngoài việc chiếc Varyag cần ít nhất là 500 triệu USD để tu trang, hiện nay hải quân Trung Quốc đang thương lượng mua 50 chiếc máy bay Su-33 của Nga với giá là 2 tỷ rưỡi USD, và đang phải chi rất nhiều tiền để mua hay đóng các chiến thuyền hộ tống và các thuyền hổ trợ (như “tác chiến chi viện thuyền” và tàu đánh đuổi tàu lặn) cần thiết khác. Hiện nay, mặc dầu không phải chi tiền để đóng các chiếc hàng không mẫu hạm và các chiếc tàu hộ tống cần thiết, hải quân Mỹ cũng phải chi trung bình mỗi năm là 1 tỷ USD để có thể giữ cho một hàng không mẫu hạm với các thuyền hộ tống của nó (gọi là “carrier strike group”) có thể hoạt động. Nhưng một hạm đội hàng không mẫu hạm (gọi là “carrier fleet”) phải có 3 chiếc hàng không mẫu hạm và những thuyền hộ tống của nó để có thể hoạt động có hiệu lực. Ngoài ra, một hạm đội hàng không mẫu hạm cần một hai thập niên huấn luyện mới có thể hoạt động có hiệu lực được vì vấn đề phối hợp rất phức tạp. (“China: The Deceptive Logic for a Carrier Fleet,” Stratfor.com, ngày 7 tháng 8 năm 2007.)

[14] Brad Kaplan, như trên.

[15] Theo nhiều nghiên cứu thì Hạm Đội Nam Hải là hạm đội hùng hậu nhất của Trung Quốc. Hạm Đội Nam Hải có ít nhất là 32 hạm đội (flotilla) tàu lặn, trong đó có những chiếc tàu lặn tối tân nhất; hai hạm đội chiến thuyền đổ bộ (amphibious flottita);các hạm đội khu trục (destroyer flottila); các hạm đội tàu đặt mìn (mine warfare flottila); hơn một chục hạm đội tàu cao tốc lướt trên mặt nước (speed boat flottila); và toàn bộ các lữ đoàn thủy quân lục chiến.

[16] Bài nầy có thể tải về từ: http://www.strategy.net/printVersion/print_pub.asp?pubID=99.

[17] Xem: http://www.heritage.org/Research/AsiaandthePacific/wm1001.cfm?renderforprint=1

[18] Michael R. Gordon and David S. Cloud, “U.S. Knew of China Missle Test, but Kept Silent,” The New York Times, ngày 23 tháng 4 năm 2007 : http://www.nytimes.com/2007/04/23/washington/23satellite.html. Theo bài nầy thì chính quyền Bush mong rằng sự phản đối của Mỹ và các nước khác trên thế giới sau khi Trung Quốc đã thử vũ khí SC-19 sẽ làm cho Trung Quốc e ngại mà không tiếp tục thử thêm các vũ khí chống vệ tinh khác trong tương lai. Nhưng, theo bài báo nầy, trong cuộc viếng thăm Trung Quốc vào tháng 3 vừa qua Đại tướng Peter Pace, chủ tịch của Tổng Tham Mưu Quân Lực (chairman of the Joint Chiefs of Staff), không có thể đem chuyện vũ khí chống vệ tinh ra bàn với Trung Quốc. Chính ông ta cho biết là Trung Quốc nhất định không muốn đề cập đến chuyện đó.

[19] Ashley Tellis, “Punching the U.S. Military’s ‘Soft Ribs’: China’s Antisatellite Weapon Test in Strategic Perspective,” Carnegie Endowment for International Peace Policy Brief 51 (June 2007), trang 2.3.

[20] Michael R. Gordon and David S. Cloud, “U.S. Knew of China Missle Test, but Kept Silent,” The New York Times, ngày 23 tháng 4 năm 2007. Nguyên văn: “It is a bit of arms-control mythology that there is always a deal to be made… For years, the Chinese military has been writing about how to cripple a superpower that relies on high-tech capabilities like satellites. They have been patiently developing this capablility. I don’t see why they would trade it away.”

[21] Larry Wortzel, “China’s Nuclear Forces: Operations, Training Doctrine, Command, Control, and Campaign Planning,” Strategic Studies Institute (May 2007), trang 13.

[22] Direction of Trade Statistics Yearbook (Washington D.C.: International Monetary Fund, 2006).

[23] The Straits Times, ngày 1 tháng 11 năm 2006.

[24] Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” China Brief, số 14, ngày 11 tháng 7 năm 2007, trang 10. Bài nầy có thể tải về từ: http://jamestown.org/china_brief.

[25] Để biết thêm các chi tiết, xem Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” trang 10-11.

[26] Như trên, trang 11. Xem thêm: Bernama, ngày 27 tháng giêng năm 2007 và ngày 24 tháng 4 năm 2007.

[27] Ian Storey, “Ma-lai-xi-a’s Hedging Strategy with China,” trang 11.

[28] Như trên, trang 11; ABC Radio Australia News, ngày 9 tháng 5 năm 2005; The Straits Times, ngày 3 tháng 5 năm 2002.

[29] Tim Shipman and Chad Bouchard, “China is accused of fueling Pacific arms race,” SundayTelegraph, ngày 4 tháng 2 năm 2007: http://telegraph.co.uk.

[30] Eric A. McVadon, “U.S.-PRC Maritime Cooperation: An Idea Whose Time Has Come?” China Brief Volume VII, Issue 12, ngày 13 tháng 6 năm 2007: http://jamestown.org/china_brief.

© Thời Đại Mới

Posted in Biển Đông VN, Chủ quyền VN, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Quan hệ thế giới, Quan điểm | Leave a Comment »

Đài phát thanh SàiGòn-Dallas 890 phỏng vấn luật sư Trần Lâm, Hải Phòng

Posted by tieng_dan on February 6, 2008

”… tôi mà nhớ cái đó làm gì. 16 chữ vàng mà lại đánh nhau tùm lum mà vàng bạc cái gì.”

Bấm vào đây nghe phần âm thanh:

Phạm Đình Minh: Có người đã được nghe luật sư Trần Lâm, có người chưa được biết luật sư Trần Lâm . Thưa luật sư có thể nói một đôi dòng về luật sư?

Ls Trần Lâm: Tôi xin nói một đôi điều về cá nhân. Tôi năm nay đã quá nhiều tuổi rồi, hơn 80. Tôi sinh tại Ninh Bình. Khi các bạn vào miền Nam vào năm 1954 thì tôi đã 20 tuổi. Tôi cũng có được học chút ít, bây giờ văn hóa là thấp đấy. Nhưng thời kỳ 70-80 năm trước thì cũng là người có học. Tôi cũng như mọi thanh niên Việt Nam, cũng tham gia vào kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, rồi cũng vào đảng. Công việc của tôi làm thì trước đây tôi cũng có làm báo, dạy học. Về nghề luật sư của tôi thì có một thời gian đi làm công tác ở tòa án, bây giờ tôi nghỉ. Tôi đã về hưu lâu quá rồi, 24-25 năm rồi. Có tham gia vào công việc của nhà nước Việt Nam cách đây 24-25 năm, còn từ đó đến giờ thì làm tự do. Vừa mở trường trung học tư thục vừa làm luật sư và một vài việc khác nữa.

Bản thân thì có mấy nét như vậy thôi. Kiểm điểm lại thì trong khi mình làm việc cho nhà nước thì cũng có làm cho dân được việc nọ việc kia. Nhưng trong tình hình chung thì cũng có những sai sót mà mình cũng không chủ động để làm điều đó, nhưng trong tình hình chung thì cũng có những sai sót. Cũng may là đã về hưu quá lâu rồi cho nên thời kỳ 25 năm nay chuyển biến, nó có nhiều cái tiêu cực, nhiều cái đáng chê trách. Cũng may là 25 năm nay mình không làm việc nhà nước nữa. Nhờ Trời nên tôi nhiều tuổi nhưng vẫn còn khỏe cho nên vẫn làm việc được. Nhất là vẫn còn minh mẫn, đấy là cái may… Cũng là cái phúc, đức được cái đó  …

Hôm nay được trao đổi với các bạn là một điều tôi rất mừng. Sắp sửa cũng sang năm mới, chúc các bạn vạn sự an lành.

Phạm Đình Minh: Thưa luật sư Trần Lâm, thay mặt cho toàn thể anh chị em trong chương trình “Từ Cánh Đồng Mây” và đài Sài Gòn – Dallas 890, trước hết chúng tôi xin kính chúc Cụ một năm mới dương lịch… chúng ta đã được 19 ngày rồi. Chút nữa chúng tôi nói qua về con số 19 và hôm nay tại sao Cụ cho chúng tôi một cái rất đặc biệt là trong ngày 19 tháng 1 năm 2008 và cũng trong những tâm tình cuả những người Việt sửa soạn chúng ta đón năm con chuột. Anh em trong chương trình “Từ Cánh Đồng Mây” cũng như cá nhân tôi Phạm Đình Minh cũng như toàn thể anh em trong đài Sàigòn Dallas 890 được gởi lời đến Cụ một lời chúc an khang và trường thọ. Được thưa chuyện với Cụ, tôi là một người rất trọng kính tuổi, theo như tôi biết năm nay Cụ đã 84 tuổi rồi và tiếng nói cuả Cụ còn rất là mạnh khoẻ đối với anh em.

Thưa cụ, đi ngược dòng thời gian vào trước năm 1954 khi gia đình tôi đưa tôi vào trong Nam để sinh sống ở trong Nam và Cụ ở lại miền Bắc. Từ khoảng năm 1954 đến năm 1975 có những điều gì đặc biệt mà luật sư Trần Lâm còn nhớ lại, thưa luật sư?

Ls Trần Lâm: Điều nhớ lại thì nó ở trọng điểm nào, chớ điều nhớ lại thì nó rất nhiều điểm. Điểm mình nhớ lại là khi đó mình còn trẻ, lúc đó tâm tư, tình cảm thì rất vui tươi và bao nhiêu khó khăn gian khổ điều chịu đựng một cách vui vẻ. Thế nhưng trong quá trình đó rồi đến năm 1975 thì vẫn còn giữ được cái đó. Thế nhưng dần dần thì cũng cảm thấy… cuộc đời người ta nói rằng càng về già thì nó không còn cái vui tươi như xưa nữa. Trong những năm sau thì tình hình trong nước cũng có nhiều điều không ưng ý, vì thế cho nên cũng cảm thấy buồn buồn.

Thế nhưng bây giờ chúng tôi có suy nghĩ như thế này, tương lai mình vẫn tin tưởng hoàn toàn, mình có khác với các bạn ở ngoài không biết có thấy không chớ chúng tôi thấy sự thay đổi, tương lai nó vẫn đang chờ chúng ta. Tôi thấy rằng tương lai tốt đẹp rồi sẽ tới. Cho nên tôi muốn gởi đến các bạn là chúng ta hãy tin tưởng, nhất định là cái tốt đẹp nó sẽ chiến thắng cái gì mà không tốt đẹp.

Phạm Đình Minh: Thưa luật sư Trần Lâm, cách đây ít lâu chúng tôi được liên lạc với một người rất thân với Cụ và cũng rất gần nhà cụ, đó là nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa. Ông có tâm tình với tôi là tất cả những điều ông ấy đã nói hay Cụ đang nói với anh em chúng tôi, những người Việt Nam thân mến của Cụ từ nửa vòng trái đất. Nếu những điều Cụ nói mà trước đây 15-25 năm thì Cụ và nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa đã bị lên án tử hình rồi. Nhưng có lẽ ngày hôm nay, như Cụ nói những điều tươi đẹp nó sẽ đến với quê hương Việt Nam. Trước khi chúng ta nhìn đến điều tươi đẹp thì chúng ta phải nhìn về quá khứ để hoạch định cho một kế hoạch tươi đẹp cho đất nước. Năm 1954 khi chúng tôi đi vào Nam người ta nói một điều sai lầm nhất của đảng cộng sản lúc bấy giờ đó là cải cách ruộng đất và đánh tá điền. Năm 1975 khi những người ở ngoài miền Bắc chiến thắng trong miền Nam và VNCH không còn có trong lịch sử của xã hội chủ nghĩa thì một điều sai lầm nữa của đảng cộng sản đã bắt tất cả những người tài giòi, bắt tất cả những tinh hoa của nước Việt Nam trong miền Nam đi tù. Cụ có nghĩ rằng hai điều đó có phải là những điều sai lầm nhất mà đảng cộng sản đã lập đi lập lại để ngày hôm nay chúng ta phải ở trong một cái thế rất khó khăn của nước Việt Nam hay không?

Ls Trần Lâm: Điều thứ nhất là cải cách ruộng đất thì điều đó người ta đã tổng kết rồi. Và cái đó người ta đã thừa nhận là một sai lầm rất ghê gớm. Cái sai lầm ấy nó đánh vào dân tộc, nó đánh vào lãnh đạo của đảng. Cái đó người ta đã nhận rồi. Bây giờ thì mọi người đã nhận, người dân cũng đã nhận ra, những người cộng sản cũng đã nhận ra rồi. Thế thì cái đó ta cho qua.

Cái thứ hai là sau năm 1975 thì người ta thấy cái sai lầm lớn nhất là, người ta đang tranh luận về cuộc chiến tranh, phải hay không phải, đúng hay không đúng mà tiến hành như thế là có lợi hay không có lợi và như vậy thì thế nọ thế kia. Và cái đó bắt đầu người ta đã suy nghĩ chỗ đó. Và cái thứ hai nữa là người ta thấy rằng chuyện cải tạo, bắt những người đi tù (gọi là cải tạo, gọi là học tập nhưng thực ra là đi tù) thì người ta cảm thấy cái đó là không đúng. Thì bây giờ người ta cũng nhận rồi. Hiện nay ở trong nước cũng đã có một trào lưu, người ta phân tích lại những quá khứ và người ta phân tích lại chiến tranh Việt Nam. Nhiều người đã nhận thấy là cuộc chiến tranh miền Nam, cái tốt cũng có mà mặt trái cũng có.

Bây giờ người ta tỉnh táo hơn, người ta nhìn lại cái đó thì người ta đánh giá một cách khách quan hơn. Nhưng thực ra đây là những dư luận chứ còn chính ra đảng cộng sản chưa có một thái độ rõ ràng về chiến tranh miền Nam.

Cái đó thì chưa rõ ràng như cải cách ruộng đất thì đã có rõ ràng rồi. Cải cách ruộng đất thì đảng cộng sản đã thừa nhận rồi, và cũng như mọi người đánh giá. Còn chiến tranh miền Nam thì mới có dư luận của quần chúng, thí dụ như ông thủ tướng cũ hay một số nhà trí thức thì bây giờ đang xem xét cái đó. Nhưng cái chính thức của nhà nước thì chưa có ý kiến về cái này. Nhưng dù sao tôi thấy cũng đã có sự chuyển biến. Thí dụ như ông Triết đi Mỹ nói những điều gì đó, thì hiện nay người ta đã suy nghĩ về cái đó rồi. Cho nên là sự suy nghĩ ấy nó đã cân bằng, nó đã hòa nhập với suy nghĩ ở bên ngoài chưa, của các bạn chưa thì cái đó tôi chưa có tài liệu. Nhưng tôi thấy là đã có một sự suy nghĩ. Tức là người ta nói là đã có một sự nhìn lại, còn thừa nhận sự nhìn lại ấy như thế nào thì chính thống chưa có nhưng trong nhân dân thì bây giờ đã có dư luận về việc phải nhìn lại đó. Nhìn lại cả mình nữa, nhìn lại miền Bắc, nhìn lại miền Nam. Nhìn lại tất cả, cũng như chuyện thuyền nhân thì cũng phải nhìn lại. Tức là bây giờ cái nhìn lại thì người ta đã có rồi, mà cũng không phải ít người đâu. Đã có một tình hình như thế trong dư luận nhân dân và dư luận trong đảng, dư luận trong nhà nước. Dư luận của nhiều người chứ không phải như trước cứ kết luận một chiều đâu. Bây giờ không có cái đó nữa.

Phạm Đình Minh: Người ta nói nếu nhìn quá khứ của một người thì ta giám định việc làm của người đó ngày hôm nay và trong tương lai. Đối với anh em nghệ sĩ chúng tôi ở bên ngoài chúng tôi rất cảm mến luật sư Trần Lâm là vì theo những tin chúng tôi biết được hầu như không có một vị luật sư nào dám đứng ra để biện hộ cho tất cả những người đang tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam ngoài luật sư Trần Lâm.

Chúng tôi xin đi ngược lại thời điểm quá khứ năm 1975 một chút. Tôi nghĩ lúc đó Cụ vẫn còn trẻ, khoảng hơn 50 tuổi. Tâm tình của luật sư Trần Lâm nghĩ, cái chiến thắng mà những người ngoài miền Bắc nói là chiến thắng miền Nam. Tâm tình của Cụ thế nào? Cụ có thấy đó là tâm tình của một nước Việt Nam hai bên đã đi gần lại với nhau, đã anh em một nhà hay không, thưa cụ?

Ls Trần Lâm: Bây giờ phải trở lại lúc bấy giờ. Tất cả mọi người đều nghĩ rằng là cuộc chiến tranh chống Mỹ và chiến thắng. Người ta nghĩ rằng một số người miền Nam đi theo Mỹ, như thế là chống lại tổ quốc. Quan điểm lúc bấy giờ thì như vậy, mọi người đểu nghĩ như vậy cả. Chúng tôi cũng chỉ hiểu đến mức ấy thôi, làm sao mà chúng tôi sáng suốt đến chừng mực rằng chúng tôi có được những suy nghĩ độc đáo như ngày hôm nay. Tức là phải có thời gian rồi chúng tôi mới nhìn lại chớ lúc bấy giờ thì mình cũng như mọi người, tức là Mỹ là kẻ thù, là người xâm lược. Thế còn những người ở miền Nam là những người đi theo Mỹ, như thế là những người ấy chống lại dân tộc. Lúc bấy giờ thì người nào cũng nghĩ như thế cả, cả những người sáng suốt. Như chúng tôi thì chúng tôi cũng thừa nhận là chúng tôi nghĩ như thế.

Thế nhưng do chỗ đó nên nhiều người nói lại là không đúng đâu. Hay bây giờ người ta nói cuộc chiến tranh đó là cuộc chiến tranh ‘ủy nhiệm’, chắc các vị cũng thừa hiểu rồi. Người ta nói là cuộc chiến tranh ‘ủy nhiệm’, Việt Nam đánh có phải cho Việt Nam đâu. Việt Nam đánh nhau như thế không phải là vấn đề giải phóng dân tộc mà Việt Nam đánh là vì theo Liên Xô, theo TQ gì gì đó để làm cuộc chiến tranh. Không phải là cuộc chiến tranh giải phóng như Việt Nam nói, như nhiều người nói mà đây là một cuộc chiến tranh ‘ủy nhiệm’. Bây giờ nó đang có những chuyện đó.

Hiện nay những người trí thức, những người hiểu biết một cách bình thường thôi thì người ta cũng đã có một sự nghĩ lại rồi. Cái khôn ngoan, thông minh, hiểu biết nó cũng phải có thời gian mới có điều kiện. Anh bị bưng bít tất cả mà anh chỉ có những thông tin một chiều thôi thì dĩ nhiên anh phải nghĩ điều đó chớ làm sao mà anh có thông tin được.

Hay chẳng hạn như bây giờ người ta mới đưa ra những câu chuyện rằng người Việt Nam đánh người Việt Nam là tự mình bị người ta xúi dại. Bây giờ tư tưởng đó đã bắt đầu  có rồi. Tình hình nó vậy, cho nên nói để cho các bạn biết rằng năm 1975 thì người nào ở miền Bắc cũng hồ hỡi thế là nước nhà thống nhất, thế là nước nhà được tự do hoàn toàn, lúc bấy giờ ai cũng vui sướng cả. Nhưng về sau thì thấy cuộc chiến tranh đó nó tàn khốc quá, nó thiệt thòi quá. Mà như vậy thì dân tộc bị thiệt thòi thôi, anh em đánh nhau do bên ngoài nó xúi dại, nó đã có những tư tưởng như thế rồi. Sự đối xử với những người ở miền Nam vì tham gia cuộc chiến tranh thì coi như kẻ thù là không đúng. Bây giờ có những tư tưởng nói theo Mỹ, như chiến tranh Nam-Bắc của Mỹ thì bây giờ người ta cũng nói rằng khi chấm dứt thì hai bên đều bắt tay nhau v.v… Bây giờ đã có một sự hồi tưởng, phân tích lại, sự quay ngược trở lại… hiện nay đã có cái đó. Như thế là đã có một sự phản biện, một sự tỉnh táo, đã có một sự suy nghĩ lại và cũng đã có một nhận định khác đi. Nhưng hiện nay cái đó chỉ là lẻ tẻ trong từng người và nói ra một cách còn dè dặt, trên báo chí cũng có đề cập nhưng nói ra nó còn ẩn dụ, nó còn quanh co, còn phần nhỏ. Những điều các bạn bâng khâng thì hiện nay người ta đã đặt ra để người ta suy nghĩ.

Các bạn hãy chờ, cái gì là chân lý với lịch sử, với thời gian…. Cái gì là chân lý nó sẽ là chân lý. Nếu bây giờ bắt phải kết luận ngay thì chính tôi cũng chưa dám làm việc đó bởi vì tôi cũng chưa đủ thời gian, chưa đủ điều kiện để làm việc đó.

Phạm Đình Minh: Thưa luật sư Trần Lâm, nếu xét về tuổi đời thì những người lãnh đạo trong nước thì tôi nghĩ là họ cũng vào khoảng tuổi của tôi bây giờ đây. 4 vị lãnh đạo trong nước bây giờ, ông Nông Đức Mạnh, ông Triết, ông Dũng và ông Phú Trọng, tôi nghĩ đã hơn một lần luật sư được gặp họ, luật sư đánh giá sự lãnh đạo của những người này như thế nào, thưa luật sư?

Ls Trần Lâm: Tôi đánh giá như thế này.Tôi cũng có được tiếp xúc với các vị ấy, nhưng bây giờ nghĩ lại thì tôi thấy rằng hiện nay điều kiện của thế giới, điều kiện của trong nước, những thuận lợi, khó khăn, những mũi nhọn, tất cả những vấn đề thì tôi càng thấy hiện nay hình như là nó vượt qua tầm của các vị ấy. Thấy như là một người chèo lái một con thuyền mà hình như là cái tầm của các vị chưa kịp với đòi hỏi của thời đại. Ngược lại, có những vị tôi nghĩ rằng tiếp thu cái mới, với tới cái mới, cũng có vị còn chưa đáp ứng được.

Vì thế cho nên điều lãnh đạo hiện nay là một điều mà người dân đang lo lắng vô cùng. Người ta lo lắng như đang ngồi trên một cái ô tô mà phải đi một tốc độ rất ghê gớm thì mới kịp với giờ tới đích, mà đường xá thì không phải dễ dàng, thì người cầm lái người ta càng thấy rằng hình như chiếc xe đi để đạt được sự an toàn, người ta có sự lo lắng. Hiện nay tôi nghĩ tất cả người dân ở trong nước người ta lo lắng về các vị cầm đầu. Đấy là lo lắng về bản thân các vị.

Nhưng còn một cái lo lắng nữa là quan điểm về đường lối chính trị, tức là Việt Nam tiến lên theo con đường nào, làm những việc gì thì càng thấy hình như còn bị vướng cái chủ nghĩa, vướng cái ý thức hệ, vướng cái ở trong quan điểm tổng quát như cái kim chỉ nam. Mà hiện nay cái kim chỉ nan ấy vẫn còn có sự bâng khoăn là cứ theo đường lối xã hội chủ nghĩa thì liệu thắng hay không thắng, có giải quyết được tình hình của Việt Nam không, có tiến lên được không, có mở mày mở mặt hay không. Ở trong nước hiện nay người ta lo, thứ nhất là bản thân các vị chưa đủ cái tầm đối với một nước Việt Nam đang vươn lên với muôn vàn khó khăn. Đấy là tính về cá nhân, tính về con người.

Còn  điều thứ hai người ta lo lắng là cái chủ nghĩa có còn phù hợp, phù hợp đến mức nào. Có người dám nói có người không dám nói. Nhưng cái người ta băng khoăn là nếu mình giữ thế này, tức là tính bảo thủ cứ giữ nguyên quan điểm như thế thì liệu cái quan điểm đó nó có phù hợp với thời đại không, hay cái đó nó đã lạc hậu rồi mà không chuyển theo một cái mới. Như thế tức là vừa nghĩ về cái đạo, vừa nghĩ về cái tầm, về con đường và đồng thời cũng nghĩ về từng con người. Một con người có hai yếu tố, yếu tố của cái đầu của họ, bản lỉnh của họ, lòng yêu nước của họ v.v… và thứ hai nữa là họ đi theo con đường nào. Hiện nay nó vẫn có hai cái đó là mối lo hiện nay của nhiều người. Có người dám nói ra như tôi nhưng cũng có người dám nói ra một nửa, cũng có người dám nói ra mạnh hơn cũng có người lo lắng ở trong lòng. Nhưng nếu ai suy nghĩ thì đều nằm ở hai điều ấy cả.

Mà người ta cho bây giờ không phải là thời cơ chúng ta không có. Thời cơ ở Việt Nam hiện nay là một thời cơ vàng. Nhưng có nắm được thời cơ đó hay không. Cũng như là anh có một phương tiện nhưng anh có sử dụng được nó không, hay anh lại để nó mất đi. Bây giờ người ta đang lo lắng về thời cơ và thách thức.thời cơ và tầm vóc của mình. Vì thế cho nên bây giờ có người nói rằng chúng ta cứ cất cánh nhưng có người nói rằng liệu chúng ta có cất cánh được không?

Phạm Đình Minh: Thưa Cụ Trần Lâm, tôi biết Cụ là một đảng viên cộng sản nhưng tôi xin được phép thưa với Cụ như thế này, nếu tôi có một bàn tay hay tôi có một phép mầu nhiệm nào mà tôi được phép chỉ định Cụ làm thủ tướng hay làm chủ tịch nhà nước thì chắc chắn là tôi sẽ chỉ định ngày mai. Tâm tình của Cụ tôi đọc được như thế này, ở nước Việt Nam chúng ta có nghĩa là có Cụ và có tôi, có hơn 80 triệu người ở trong nước và có hơn 3,5 triệu người ở hải ngoại này. Chúng ta không thiếu nhân tài, chúng ta không thiếu người yêu nước nếu Cụ theo dõi tình hình anh em chúng tôi bên ngoài này. Dầu rằng chúng tôi chỉ ở nước Hoa Kỳ và thế giới này mới có 32 năm thôi nhưng người Việt Nam chúng tôi làm vinh danh cho nước Việt Nam rất nhiều. Cái chính của một chế độ độc tài, của một chế độ cộng sản đó là cái chính mà để họ được ngồi trên đó là nghèo, dốt và sợ. Người ta phải làm cho người dân nghèo đi, dốt đi và sợ đi thì người ta mới ngồi mãi được. Cụ nghĩ thế nào về điều 4 hiến pháp của nhà nước Việt Nam bây giờ thưa cụ?

Ls Trần Lâm: Điều 4 hiến pháp người ta sinh là cũng là từ điều 6 của hiến pháp Liên Xô, tức cũng là một sự học mót thôi, cũng là một cái rập khuôn của người khác thôi. Điều 4 là một điều để khẳng định rằng đảng cộng sản là đảng lãnh đạo đất nước lâu dài, mãi mãi. Đấy để xác định vai trò lãnh đạo, như thế tức là người nào chống lại lãnh đạo thì có điều 4, như vậy đã là chống hiến pháp… nó là điều 6 của hiến pháp Liên Xô, không có gì mới cả. Đầu tiên Liên Xô có cái đó thì bây giờ Việt Nam cũng phải có cái đó để duy trì cái của mình. Nhưng bây giờ nó có một điều khác là Liên Xô không còn, còn TQ hiện nay thì nói lập lờ như thế thôi, và người ta đang chờ xem sự toàn trị của TQ vì TQ đang nói là đa đảng thì người ta đang chờ xem thật hay giả….

Còn lẽ dĩ nhiên Việt Nam bây giờ thì xin báo là các bạn nên bình tỉnh cho tôi một chút, hiện nay người ta cũng đã đặt vấn đề ra để xem xét lại vấn đề đó. Nhưng chưa đặt ra một cách ráo riết, một cách trực tiếp, một cách rõ ràng… nhưng cũng muốn rằng con đường đi lên như thế nào và đối với sự lãnh đạo của đảng thì ta nên sửa sang như thế nào. Tức là người ta đã thấy cần phải sửa đổi, nhưng sửa đổi như thế nào người ta còn đang lúng túng. Nói như bây giờ, một lúc mà người ta nói rằng tôi thôi, tôi giao cho nhân dân tôi không giữ điều 4 nữa, thì điều đó là người ta chưa dám làm. Nhưng rục rịch thay đổi, chuyển biến làm sao cho nó phù hợp thì hiện nay đang làm. Nếu người nào ở trong nước tỉnh táo thì thấy rằng những người cầm quyền, đảng cầm quyền đang làm cái việc điều chỉnh đó. Xin các bạn chờ một chút, còn hiện nay các bạn cứ nghĩ rằng cần phải có một cuộc cách mạng, tức là đảo lộn thì ở Việt Nam không có đâu… là vì không có đảng tranh, không có đảng đối lập. Người dân như rắn không đầu, không có đầu thì ai đứng lên để làm cuộc gọi là cách mạng màu xanh, màu đỏ, màu vàng như ở Đông Âu. Vì thế chuyện đảo lộn trong một lúc là không có. Không thể được bởi vì ai cầm đầu bây giờ. Còn đảng cộng sản đúng là toàn trị bây giờ. Nhưng đảng cộng sản bây giờ thì thấy rằng cái toàn trị của mình cũng đã thấy rất gay go. Đúng là làm cho dân sợ, làm cho mọi người ngu dốt v.v… cũng có cái đó thật đấy nhưng bây giờ khổ lắm, nó đã hòa nhập quốc tế thì người ta có điều kiện để không ngu nữa. Mọi việc thì bây giờ người ta hiểu hết rồi. Người ta nói rằng người dân yếu quá nên mới sợ chớ mỗi ngày người ta khôn lên thì cái sợ nó ít đi.

Bây giờ các bạn về nước thì thấy là nó có nhiều cái thay đổi lắm. Thí dụ như ông phòng thuế bây giờ nói là tôi phải ủng hộ các doanh nghiệp để các doanh nghiệp đóng thuế, để lấy tiền thuế để nuôi bộ máy nhà nước, ông phòng thuế đã nói công khai như thế, chớ không phải ổng nói một cách mị dân. Như thế, những điều người ta nói rằng dân chủ nhân quyền, người ta nói rằng đảng phải thế nọ thế kia, người ta đã bắt đầu rồi. Vì thế tôi nói rằng tôi vui là vì sự chuyển biến nó không được như sự mong muốn của các vị bên ngoài nhưng nó đang thay đổi. Nó đang thay đổi từ từ. Tuy nó thay đổi từ từ mà nó thay đổi một cách chắc chắn.

Nếu như trước đây 5, 7 năm thì cuộc nói chuyện tối hôm nay ngày mai tôi đã sống không yên ổn rồi. Mà hiện nay chúng ta nói chuyện thì có nhiều người nghe, không phải chỉ có các bạn và tôi.

Phạm Đình Minh: Tôi rất đồng ý với Cụ như vậy. Thưa Cụ là một người trong ngành tư pháp, đối với xã hội Hoa Kỳ và nếu Cụ nhìn rõ thì tất cả các xã hội, các chính quyền nào cũng có một tổ chức hành pháp, lập pháp và tư pháp. Nhưng ở trong nước thì các vị đó như theo danh xưng của Cụ nói, đó là ‘đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ’. Ba cái đó nó có hợp với hành pháp, lập pháp và tư pháp hay không?

Ls Trần Lâm: Việc đầu tiên là xin cải chính, tôi chỉ là thẩm phán của tòa án nhân dân tối cao, chứ chưa bao giờ được chức phó chánh án.

Còn chuyện các bạn nói thì nó chỉ là những khẩu hiệu, lúng ca lúng cúng ‘nhà nước của dân, do dân vì dân’. Người ta hỏi là “do dân” ở chỗ nào, “vì dân” ở chỗ nào. Thế rồi “nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” thì người ta lại bảo là lẩm cẩm, sao lại là làm chủ, đã làm chủ thì ta bảo tất cả mọi người phải nghe, chớ nhân dân làm chủ mà còn bị quản lý thì chủ lại bị lãnh đạo. Nhân dân làm chủ thì nhân dân phải lãnh đạo nhân dân chứ, họ bầu nhau ra rồi họ lãnh đạo chứ. Nhân dân làm chủ mà lại bị quản lý, thì tôi hỏi rằng đã làm chủ mà còn bị quản lý, thế thì đã bị quản lý, lãnh đạo thì sao làm chủ được. Đấy là những câu lẩn quẩn, ngồi mãi rồi nghĩ ra những cái slogan của người ta nhẽ ra như vậy rồi. “Của dân, do dân, vì dân” lấy của Jefferson ra để học hành cứ nói… người ta đang chê cái chính thể hiện nay là thích những khẩu hiệu. Người ta nói làm gì chỉ có một số chuyên viên đi theo chỉ làm báo cáo và viết diễn văn thôi… cứ dùng văn chương rồi nói câu nọ câu kia. Chẳng hạn như TQ là 16 chữ vàng, rồi 4 chữ bạc… cái đó là cái khó chịu nhất.

Phạm Đình Minh: 16 chữ vàng đó là chữ gì ạ?

Ls Trần Lâm: 16 chữ vàng là 2 ông TQ và Việt Nam nhất trí với nhau là sự quan hệ giữa hai nước là chúng ta thực hiện theo 16 chữ vàng là của ông Hồ Cẩm Đào nêu ra là tình hữu nghị anh em, đối tác thân thiện… tôi mà nhớ cái đó làm gì. 16 chữ vàng mà lại đánh nhau tùm lum mà vàng bạc cái gì.

Phạm Đình Minh: Thưa cụ, đi ngược lại thời gian, tôi được ba mẹ tôi đưa vào miền Nam năm 1954, chúng ta lấy vĩ tuyến 17 một thủa bên kia là của các Cụ, bên phía này là của miền Nam. Cụ đã nhìn thấy thâu suốt tình hình năm 1954 ở ngoài miền Bắc cũng như miền Nam. Ở ngoài miền Bắc lúc đó thì chính những người trong đảng cộng sản xúi dân đi biểu tình, xúi dân xuống đường đòi quyền này quyền kia và ở trong miền Nam thì cũng có những người tu hành theo cộng sản và đã khênh bàn thờ Phật xuống đường để làm chuyện này chuyện kia. Nhưng bây giờ Cụ có nhắc đến vấn đề những người TQ thân mến 16 chữ vàng. Tôi xin được hỏi về tình hình của các con em, các cháu của Cụ ở trong nước và đặc biệt ngày hôm nay 19/1 tại Hoa Kỳ, tất cả nơi các tiểu bang lớn nơi có tòa lãnh sự Trung Cộng thì tất cả các em sinh viên cũng đang xuống biểu tình trước các tòa lãnh sự của TQ. Tại sao các em làm việc cho nhà nước lại bị nhà nước cấm, thưa Cụ?

Ls Trần Lâm: Chuyện ấy là một chuyện nhức nhói quá ông ạ. Tức là bây giờ các em nó biểu tình, đáng nhẽ mình phải khuyến khích nó biểu tình nữa. Nếu mà mình không có súng đạn, không có tàu chiến để ra mà thu hồi lại mảnh đất của tổ quốc của mình thì mình phải đấu tranh chính trị. Như tôi đã viết, là bây giờ mình phải làm mọi việc để cho thế giới biết việc này và mình phải tuyên bố rằng hiện nay tôi chưa có điều kiện nhưng khi nào tôi có điều kiện tôi sẽ thu hồi. Tức là anh dùng quân sự để anh giữ nó, bây giờ tôi chịu anh nhưng khi nào tôi có điều kiện thì tôi sẽ thu hồi. Lẽ nhiên chữ thu hồi ấy có thể thu hồi bằng chính trị mà cũng có thể thu hồi bằng quân sự. Và việc đó để cho nó dứt khoát trên sàn thế giới biết rằng bây giờ Việt Nam chưa đánh TQ nhưng không phải chịu vĩnh viễn. Cứ tuyên bố đấy là đất nước của Việt Nam.

Việc các em và cả toàn dân người ta biểu tình thì đáng nhẽ ra nhà nước phải ủng hộ. Mà nhà nước cũng phải có một thái độ kiên quyết. Nhưng ở ta hiện nay thì cái đó nó nhức nhói quá. Nhà nước thì lại không muốn cho dân biểu tình. Cái không muốn cho dân biểu tình thì tôi đã phân tích và tôi đã viết trên văn bản, và cái này cũng đã gởi đi các nơi.

Nó có hai yếu tố:

Yếu tố thứ nhất là không hiểu quan hệ giữa Việt Nam và TQ?  Công khai thì như chúng ta đã biết, trong nước ngoài nước đã biết, và lẽ dĩ nhiên là ngoài nước lại biết có khi rõ hơn là ở trong nước. Đấy là quan hệ đôi bên, là hình như Việt Nam sợ rằng nó rạn nứt quan hệ với TQ. Ngại TQ, sợ TQ cho nên là không dám làm bậy.

Còn một phía thứ hai, quan điểm của tôi thì tôi cũng đã nói rồi. Nhưng tôi thấy rằng chưa được ai hưởng ứng suy nghĩ ấy cả. Hôm nay với các bạn tôi cũng nói cái suy nghĩ đó. Rằng ở ta hiện nay thì đảng và nhà nước không muốn có những biểu tình chính trị, bởi vì biểu tình chính trị thì người ta nói đấy là dạy người dân làm chính trị. Dân làm chính trị thì phải dạy cho người ta bầu cử, dạy cho người ta viết báo, dạy cho người ta xuống đường. Vậy thì nếu bây giờ mà để cho người dân xuống đường, người dân người ta quen chuyện xuống đường đi thì nguy quá. Để cho người ta viết báo thì cũng nguy quá. Để người ta đòi bầu cử tự do thì cũng nguy quá. Bởi vì nếu người dân làm được 3 chuyện đó thì việc toàn trị của đảng là không thực hiện được.

Vì thế cho nên quan điểm của tôi thì có hai nội dung: Nội dung thứ nhất là không hiểu quan hệ giữa Việt Nam và TQ như thế nào mà các vị lãnh đạo lại rụt rè trong việc làm cho nó ra chuyện việc biển đông này. Thì không hiểu nội tình nó có chuyện gì. Điều thứ hai nữa là biểu tình rầm rộ thì đảng không muốn là vì sợ rằng biểu tình nó quen đi, người dân làm chính trị nó quen đi, biểu dương lực lượng nó quen đi rồi đến  một lúc nào cái đó nó sẽ thành ra một cái nếp thì có đường nguy hiểm cho việc toàn trị của đảng.

Tôi cũng đã viết cái này lên giấy tờ hẳn hoi, chớ không phải chỉ có lời nói với các bạn tối hôm nay.

Phạm Đình Minh: Thưa Cụ Trần Lâm, câu trả lời của Cụ thì tôi suy nghĩ theo cá nhân của tôi là nói đi nói lại cái vòng luẩn quẩn của mấy vị lãnh đạo bây giờ đều muốn  người dân nghèo dốt và sợ, nói đi nói lại thì những người lãnh đạo bây giờ chỉ muốn giữ điều 4 hiến pháp. Là một luật sư chắc Cụ cũng đồng ý với tôi là điều 23 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tất cả những điều gì ngày 9/11/1946 dính líu tới quốc gia đều phải được thỏa thuận và phê chuẩn của quốc hội . Ông Phạm văn Đồng ngày 14/9/1958 cho một công hàm thừa nhận chủ quyền Trường Sa và Hoàng Sa là của người Tàu, điều này đã đi ngược lại điều này đối với dân tộc, điều thứ hai nếu nói về tầm vóc quốc tế thì 2 quần đảo này phải được sự thông báo của toàn thể các quốc gia chung quanh là quần đảo đó thuộc về ai và làm gì, điều thứ ba là tôi đi ngược lại hiệp định Geneve năm 1954 là quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nằm về phía miền Nam, ngày 19/1/1974 hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã oai hùng chống lại với hải quân Trung Cộng và đã có tới 59 chiến sĩ hải quân bị tử sinh tại đây, và tôi nghĩ rằng ngày 19/1 năm nay tại Hà Nội hay ngày hôm qua tại Hà Nội khi các em sinh viên xuống đường để chống lại việc thừa nhận đảo HS và TS này,

Thưa Cụ có nghĩ rằng trong tâm các em cũng nghĩ là người Việt Nam, dầu có mặt áo dưới mầu cờ của hải quân VNCH hay có mặc áo dưới màu cờ của VNDCCH cũng là những người đang bảo vệ đất tổ và cần được ghi danh, ghi rõ những điều đó hay không thưa LS Trần Lâm ?

Ls Trần Lâm: Việc ngăn cản người Việt Nam biểu tình chống lại việc thôn tính ở biển  Đông của TQ bi đàn áp thì chưa đàn áp mà lại bị giải tán một cách ôn hòa là điều hiện nay toàn dân nếu ai biết đều thấy làm khó chịu ghê gớm chỗ đó, trong nước cũng có suy nghĩ như là ông và các bạn vừa nói. Việc HS và TS trước kia nhiều người dân không biết đến nhưng bây giờ người ta biết đến rồi, việc nhức nhối trong việc này và các câu hỏi đặt ra thì trong đó cũng đặt ra như vậy không có gì khác, nhưng hiện nay các bạn không biết là có chuyện động trời nữa là có những người TQ đi du lịch kéo đến trước cửa ĐSQ/TQ hô to là một giọt dầu của TS là máu của TQ!, đấy là chuyện kỳ cục ở Hà Nội mà hình như các bạn chưa biết

Việc ấy thì trong nước và ngoài nước đều có sự suy nghĩ giống nhau rồi, còn chuyện làm cho dân sợ, dân ngu là mình hư cấu lên nói cho nó rộng nhưng mà phải nói là ĐCS muốn giữ cái toàn trị của mình mà muốn giữ cái toàn trị của mình thì có bao nhiêu cách chứ không phải chỉ có làm cho dân sợ, dân ngu như các bạn nói đâu nhưng làm việc gì cũng phải nghĩ đến cái vai của mình, làm sao giữ vững ngôi vị của mình thì cái đó mới quán xuyến tất cả mọi việc chớ không phải 4 việc bạn nói đấy là hư cấu lên, hình tượng hóa lên nó chuyển sang dạng văn học

Nói tóm lại nếu đã toàn trị thì mọi hành vi lớn nhỏ đều nhằm mục đích toàn trị, cái gì có thể làm được thì làm được mà có thể làm được lúc này mà lúc khác lại không làm được, hôm nay không cho làm nhưng ngày mai sự tiến triển thì phải cho làm như là 2 bên kéo co, dẫm từng bước một, đó là cuộc đấu tranh hiện nay là như vậy

Những việc các bạn nói trong nước nhiều người cũng biết như thế chứ không phải không nhưng người ta đang lúng túng là đảng thì toàn trị mà người dân thì đòi dân chủ nhưng người toàn trị thì thực hiện những cái nào và người dân chủ đòi quyền như thế nào ?, đấy là sự đang kéo co

PĐM: Chúng tôi thay mặt toàn thể anh em cám ơn Cụ, thời gian bên Cụ bây giờ khuya lắm rồi nhất là đối tuổi của Cụ, còn vài phút cuối của chương trình chúng tôi xin dành cho Cụ để tâm tình với những đồng bào, với những người đồng hương, với những người cùng nói một tiếng Việt Nam đang lắng nghe chương trình ngày hôm nay thưa Cụ

Trần Lâm: Chúng tôi rất mừng là quan hệ gần đây đãng, nhà nước thiết lập đối với kiều bào ở bên ngoài làm cho xích lại gần, chẳng hạn như việc đi về tự do hơn, rồi lắng nghe nhau hơn, rồi mời bà con về nước để giúp nước, v.v…, tức là sự cởi mở đã rõ

Chúng tôi thấy như thế cũng chưa hoàn toàn đáp ứng được cái mong mõi của các bạn bên ngoài, nhưng mà bây giờ tiến bộ rất nhiều, tôi nghĩ cái sự kỳ thị, sự e  ngại không phải là không còn, nhưng các bạn nên nghĩ lại là nước Việt Nam không chỉ có …. đừng nói chữ ĐCS,  tôi thì tôi không thích « ĐCS cầm quyền », tôi không thích từ đó mà tôi đã nói chuyện cũng như tôi đã viết thì tôi viết là « đảng cầm quyền », những người cầm quyền bởi vì cũng xin nói với các bạn trong nước hiện nay có 3 triệu 300 ngàn người  đảng viên, nhưng người ta tính ra thì có 60 ngàn người là có quyền vị, cầm lấy vận mệnh nước Việt Nam gọi là toàn trị thôi chớ còn nhiều người  đảng viên cs nheo nhóc lắm, y như người dân thường, cũng khổ cực, cũng bị tất cả những điều người dân ta thán đều có cả

Vậy ta nên dùng  đảng cầm quyền, những người cầm quyền chớ còn ĐCS có 3 triệu 300 nghìn người cs thì đã có mấy người đọc trước tác của Max, của Lenin, người ta có biết gì là cs đâu ?, người ta đầu tiên là người yêu nước rồi đi theo rồi ra như thế này thì khép cho người cs

Ở ngoài thì nói người cs A,B,C,D như thế này làm cho những người trong nước phản cảm đấy!, người ta bảo rằng tôi có quyền hành gì đâu, có được gì đâu, tôi cũng nghèo, cũng bị sách nhiểu, cũng bị làm khó thế mà ở ngoài cứ bảo tôi làm khó cho mọi người mà chính tôi đang bị làm khó mà anh lại bảo tôi làm khó cho mọi người, thế oan cho tôi quá

Đấy là tâm tình nói với các bạn như vậy mà có lẽ các bạn thử … xem có phải là hiện nay có những người cs tử tế không hay tất cả đều là CS cho nên cứ nói là người cầm quyền thôi. Chứ còn cái nghi kỵ. Bây giờ trở lại cái điều các bạn nghikỵ thì tôi thấy rằng

Làm sao các bạn có thể không nghi kỵ được bởi lâu nay bao nhiêu việc xảy ra làm cho người ta có ý niệm rằng không thay đổi thì khó chơi lắm, ngại lắm, lo lắm, có thật hay không thật, thật hay giả thì dĩ nhiên phải có như thế

Theo tôi thì các bạn nên nghĩ cho kỹ, tôi xin góp với các bạn lời thật chớ không phải giả, vì sao thật, cái trào lưu nó bắt người ta phải thật còn lòng con người chưa biết thế nào nhưng việc đặt ra rồi thì là việc công khai và ai cũng sợ công khai thì đó là thật, theo tôi cho là thật, thật đây không phải là tự đáy lòng tôi nhưng phải nói là tôi phải thật vì khách quan buộc tôi phải thật, buộc tôi phải làm việc đó, còn nếu không làm việc đó thì tôi lại thấy nguy hại cho tôi thì chúng ta phải nhất trí là thời thế nó thay đổi thì việc ấy  là thật vì thời thế

Phạm Đình Minh: Thưa LS Trần Lâm, chúng tôi xin được mượn phép dùng lời cố Tổng  Thống Ronal Reagan nói trước khi Ông về hưu mà tôi nghĩ rằng khi Ổng về hưu thì cũng bằng tuổi của Cụ, Ông đã nói rằng: “Cuộc đời tôi đang tiến tới hoàng hôn nhưng đất nước này đang tiến tới một tương lai sáng lạng”. Tôi nghĩ rằng cuộc đời của Cụ cũng đang tiến tới hoàng hôn như là lời Cụ nói và như tâm tình của anh em chúng tôi cũng tin tưởng bên ngoài là đất nước VN cũng đang sẽ tiến tới một bình minh tươi sáng . Tôi thay mặt cho toàn thể anh chị em trong chương trình «  Từ Cánh Đồng Mây » cũng như đài Sài Gòn Dallas 890am xin kính chúc Cụ một đêm ngủ thật an lành, thật hạnh phúc và chắc chắn rằng chúng tôi sẽ liên lạc với Cụ trong những ngày sắp tới, xin kính chào Cụ và chào tạm biệt

Ls Trần Lâm: Kính chào các bạn và chúc các bạn mọi sự đều như ý

Posted in Chủ quyền VN, Hiểm họa mất nước, Hoàng Sa Trường Sa, Lãnh thổ, hải phận, biên giới, Quan hệ thế giới, Quan điểm, Tự do dân chủ, Việt-Trung | Leave a Comment »