TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

2. Biên Giới Việt Trung: Đi Tìm Sự Thật Sau Những Che Giấu

Posted by tieng_dan on February 8, 2008

IV. Sự thật về Ải Nam Quan

THỨ NĂM 12 THÁNG MƯỜI HAI 2002

Từ đầu năm đến nay, người ta thường thấy có những bài báo tranh luận về chủ quyền của ải và cổng Nam Quan. Nhận thấy sự tranh luận này khá dai dẳng, và nhân dân Việt Nam đã bị ảnh hưởng khá nhiều về những xuyên tạc, bóp méo sự thật, người viết xin trình bày dưới đây những gì mình sưu tầm được về Ải Nam Quan.

1- Sửa sai những luận điệu xuyên tạc.

Một cách tổng quát, những người ủng hộ những lời tuyên bố của Thứ Trưởng Ngoại Giao CSVN Lê Công Phụng cho rằng “Ải Nam Quan thuộc Trung Quốc” đã dựa vào một số sai lầm sau đây:

a. Lầm lẫn về hai chữ ải và cổng:

Trong thời gian đầu phát khởi cuộc tranh luận, có người đã tưởng lầm rằng Ải Nam Quan là “Cổng” Nam Quan. Sự thật, “ải” là một vùng chật hẹp giữa hai ngọn núi song song, nơi đó có một vị trí mà người xưa đã dùng để cất lên một “cổng” phân định ranh giới giữa hai nước. Điều này đã được một số sử gia chấn chỉnh và bây giờ không còn thấy vị ký giả ấy lập lại nữa.

b. Hiểu sai ý nghĩa của chữ Nam Quan:

Có người định nghĩa chữ Nam Quan là “cửa phương nam” theo như sự diễn giải của người Tàu, để rồi cho rằng cửa đó thuộc Tàu, vì nếu thuộc Việt thì phải gọi là “Bắc Quan” tức là cửa phương bắc. Đó là sự sai lầm khá căn bản, vì Nam Quan chỉ là một danh từ riêng đã có từ lâu đời, như các ải Du Thôn, Cẩm Thành, Ba Ôn, Khấu Sơn, Quỷ Môn, v.v…, dọc theo biên giới Việt Trung vậy. Nam Quan cũng là tên gọi vắn tắt của tên chính thức là Đại-Nam Quan, nghĩa là “Cửa quan của nước Đại-Nam”.

c. Hồ đồ về chủ quyền của ải Nam Quan:

Căn cứ vào sách Sử Ký do sử gia Tàu viết về việc Án Sát Cam Nhữ Lai “tu bổ” lại Nam Quan rồi đặt tên cho cổng là “Trấn Nam Quan”, có người đã lý luận rằng cả vùng ải Nam Quan đều thuộc về Trung Quốc nên người Tàu mới có quyền tu bổ cửa ải. Đây là sự thiếu hiểu biết cặn kẽ về sử nước ta. Sử sách VN có đề cập đến tên và chủ quyền lãnh thổ trên vùng Nam Quan từ nhiều đời trước. Điển hình là trong tập thơ “Lạc Đạo” (Con Đường Vui Thú), bài Đường thi “Vườn Phúc Hưng”, Thượng Tướng Thái Sư Trần Quang Khải đã có nhắc đến “Ải Nam” sau khi đánh bại giặc Mông Cổ lần thứ 3. Hai câu cuối được Phan Huy Chú dịch như sau:

Báo giặc Ải Nam không khói lửa
Bên giường một giấc ngủ ngon lành”
[8]

Câu đầu xác định quyền kiểm soát và trấn thủ toàn thể Ải Nam Quan của người Việt Nam, từ thời nhà Trần hoặc xưa hơn.

Chủ quyền ải Nam Quan cũng có ghi rõ trong lịch sử thời nhà Lê dấy nghiệp. Năm 1427, đạo quân nhà Minh từ Quảng Tây kéo đến ải Nam Quan định sang giải vây cho Vương Thông đang bị Bình Định Vương Lê Lợi vây khổn ở Thăng Long, nhưng đã bị các tướng giữ ải là Lê Lựu và Lê Bôi phục kích đánh tan [9].

d. Lẫn lộn ngôn ngữ Tàu và Việt:

Trên tất cả các loại bản đồ Việt Nam (kể cả bản đồ du lịch của nhà nước CSVN), quốc tế (Pháp, Mỹ), và Trung Quốc (theo chữ alphabetic), đều có ghi rõ ba chữ “Ải Nam Quan”. Chữ “nam” là ngôn ngữ của Việt Nam chứ không phải chữ Tàu. Ngược lại, cũng trên các bản đồ đó, thì người Tàu viết các địa danh của Trung Quốc là “nan” thay vì “nam”, và họ sẽ viết là “Zhen-nan guan” (Trấn Nam Quan) giống như “Hainan” (đảo Hải Nam), “Nansha” (quần đảo Nam Sa tức là Hoàng Sa của VN), và “Nanhai” (Nam Hải). Ngược lại trên các bản đồ đó, chữ “Nam” vẫn giữ nguyên. Điều này chứng tỏ chữ Nam Quan từ xưa đến nay luôn luôn là địa danh và là một danh từ riêng của người Việt Nam đặt ra.

e. Thiếu kiến thức về kỹ thuật đo đạc của ngành trắc lượng:

Có người căn cứ vào chi tiết trong bản văn Hiệp Ước Pháp Thanh, ghi rằng hai cột mốc số 25 của đoạn 2 và cột mốc số 1 của đoạn 3, trồng ở phía nam cổng Nam Quan trên đường từ Đồng Đăng đến Nam Quan, cách cổng 100 m, để kết luận rằng “cổng Nam Quan thuộc Trung Quốc”. Đó là một lầm lẫn tai hại do sự thiếu hiểu biết về kỹ thuật đo đạc gây ra. Sự thật, đường biên giới chạy từ đỉnh núi dọc bức tường đá xuống thung lũng đến chính giữa bức tường của công sự Đại-Nam Quan (Tàu gọi là Trấn-Nam Quan). Đến đây, thay vì cắm mốc vào giữa công sự, các nhà đo đạc (surveyors) Pháp đã trồng hai cột mốc cách biên giới chính thức (là cổng) 100 m, nhằm mục đích đánh dấu cho việc đo đạc được liên tục. Sở dĩ đặt mốc về phía nam vì: một là phía này bằng phẳng hơn phía bắc núi đá lởm chởm khó tìm, hai là vùng phía nam thuộc quyền kiểm soát của Pháp, tránh cho chuyện quân Thanh dời chỗ hay phá hủy nó đi. Đây chỉ là một mốc đánh dấu, danh từ chuyên môn ngành trắc lượng gọi là “offset” mà các nhà đo đạc thường làm khi gặp trở ngại như tảng đá hay tòa nhà, không thể đặt mốc vào đó được. Bản văn (record) vẫn có diễn tả (description) cho các mốc đánh dấu này, chứ không viết rằng đó là đường biên giới. Bởi vì cổng Nam Quan mới là biên giới thật sự của hai nước. Điều đó quá hiển nhiên đến nổi các nhà đo đạc người Pháp khi đặt các cột mốc cách cổng đúng 100 m đã không cần ghi chú kỹ, vì không thể ngờ rằng sau này có kẻ dùng các mốc đó để giành giật chủ quyền cổng Nam Quan cũng như lấn chiếm thêm biên giới.

f. Trích dẫn sai lạc về sử sách:

Có người đã sửa đổi nguyên văn sử sách hay trích dẫn lộn xộn để xuyên tạc về chủ quyền của ải và cổng Nam Quan. Người này cho rằng cổng Nam Quan do người Tàu cất từ đời “Gia Tĩnh nhà Minh” thế kỷ 16, để từ đó lý luận rằng vì cổng được xây bởi người Tàu, nên cả vùng đất phải thuộc Tàu. Người này trích dẫn hai bộ sách cổ trên 100 năm. Một bộ có tựa đề “Phương Đình Dư Địa Chí”, bộ kia là “Đại Nam Nhất Thống Chí”. Tuy nhiên, nếu đối chiếu với bản scan của các bộ sách kèm theo bài viết này, thì sự thật không phải như thế; mà ngược lại, hai bộ sách đều ghi rõ Ải Nam Quan thuộc về lãnh thổ Việt Nam, cũng như cổng Nam Quan là do người Việt Nam xây lên. Các sách này ghi là cửa Nam Quan có lẽ cất vào thời Gia Tĩnh nhà Minh, chứ không ghi là do nhà Minh xây lên! Mặc dù sách “Nhất Thống Chí” có ghi nhận “Án Sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại” cổng, nhưng điều đó chỉ nói lên vào thời gian đó (thế kỷ 18), người Tàu có giúp tu bổ lại cái cổng biên giới giữa hai nước đã được người Việt xây dựng từ 200 năm trước rồi, tuyệt không thể chỉ vì có sự tu bổ đó mà cho rằng Trung Quốc là sở hữu chủ cả đất đai Việt Nam. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề sách cổ.

Dù sao, cho đến nay đảng CSVN cũng như vị “ký giả” và “nhà bình luận” ủng hộ các luận điệu của đảng CSVN vẫn chưa chứng tỏ bằng các chứng tích cụ thể, như các bản chụp (scan) hình ảnh hay bản đồ để thuyết phục tuyên truyền dân chúng. Họ đã lợi dụng phương tiện báo chí có sẵn cùng các xảo thuật trích dẫn để khuynh đảo dư luận hầu mong dẹp tan cuộc chống đối của các phong trào phản kháng.

g. Trí trá về sự hiện hữu của Cây Số Zero.

Có người viết bài tự thuật rằng đã được “tự do” lên thăm và chụp hình Nam Quan. Tấm hình chụp cây số Zero (0) được đưa lên internet với lời chú thích là cây số 0 ấy đã được “Thủ Tướng Phạm Văn Đồng cho lệnh trồng bên gốc cây si.” Chúng ta có thể tin đây là một sự phổ biến gián tiếp của nhà nước CSVN. Như vậy, rõ ràng là sau khi ký nhượng toàn thể biển Đông, rồi đến nhượng đất biên giới, ông PVĐ đã cho xây cất cây số 0 có lẽ để đánh dấu và phòng ngừa Bắc Kinh đòi thêm về sau này. Đây là sự phòng xa “khôn mà không ngoan”, vì nó thú nhận sự dâng nhượng thực sự lãnh thổ VN cho Trung Quốc. Không có lý do gì mà tự nhiên một Thủ Tướng lại ra lệnh trồng cây số 0 cho một con đường như thế!

2- Sự thật trong những bộ sử cổ xưa:

Những bằng cớ cho thấy Nam Quan là một phần lãnh thổ của Việt Nam có thể được tìm thấy trong bộ sách Phương Đình Dư Địa Chí của Nguyễn Văn Siêu, một danh nho vào thời nhà Nguyễn. Tác giả diễn tả khá chi tiết về Cổng Nam Quan từ trang 451 đến 453 (hình 6, 7, 8). Tác giả viết rằng:

“Ải Nam Quan ở địa phận 2 xã Đồng Đăng và Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp giới châu Bằng Tường tỉnh Quảng Tây Trung Quốc, 2 bên có núi đá cao ngất, ở giữa mở một cửa quan, có cánh cửa có khóa, chỉ khi có việc sứ mới mở, tên là Nam Quan (một tên là Đại Nam quan, một tên là Trấn Di Quan, lại có tên là Trấn Nam quan.” [10]

Hình 6, 7, 8 – Phương Đình Dư Địa Chí, trang 451-453

Dữ kiện của đoạn trên chứng tỏ quyền kiểm soát toàn vẹn của chính quyền nước ta vào thời đó trong việc mở và đóng khóa cửa quan. Hiển nhiên tên Đại Nam quan là danh từ riêng của Việt Nam đặt, chứ không phải do Trung Quốc đặt để ám chỉ là “cửa phía nam” như có người lầm tưởng.

Cuốn sách còn ghi lại văn bia của Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang, trong đó có câu mở đầu như sau:

“Khi nước ta có cả Đất Ngũ Lĩnh, cửa quan ở nơi nào không xét vào đâu được, sau này thay đổi thế nào không rõ, gần đây lấy châu Văn Uyên làm cửa quan, có Đài là Vọng Đức…” [11].

Đoạn này có ba điểm đáng chú ý:

a.- Khi xưa nước ta có cả đất Ngũ Lĩnh, nhưng nay vùng núi Ngũ Lĩnh đã nằm trong địa phận Bằng Tường của Trung Quốc rồi.

b.- Ải Nam Quan là đường rãnh hẹp giữa hai rặng núi phía nam của vùng Ngũ Lĩnh. Như vậy cửa quan vào đời Lý, Trần ngày xưa có thể nằm ở phía bắc hai rặng núi đó, nhờ vậy mà việc phục kích phòng thủ của dân tộc ta đã hữu hiệu từ cả ngàn năm trước.

c.- Các chữ “lấy đất Văn Uyên làm cửa quan” chứng tỏ quyền chọn lựa, chủ quyền lãnh thổ toàn ải, và công trình xây cất nguyên thủy cửa ải rõ ràng là do người Việt Nam chứ không phải người Tàu.

Cũng theo cuốn “Dư Địa Chí”, 5 năm sau khi được bổ về làm Tổng Trấn Lạng Sơn, ông Nguyễn Trọng Đang đã cho người xây dựng lại cửa ải và đài canh gác ở trên cổng, tất cả đều làm bằng gạch. Vật dụng được cung cấp bởi 22 đơn vị dưới quyền. Nhiều công nhân xây cất được tuyển mộ và giao cho 4 trưởng toán chỉ huy. Việc xây cất mất hơn nửa năm trời mới xong. Tòa công sự được dùng làm nơi canh gác và nơi tạm trú cho các quan sứ giả của triều đình.

Chứng cớ Ải Nam Quan là đất Việt Nam còn được tìm thấy qua các bản đồ cũ trong cuốn “Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời” của sử gia Đào Duy Anh [12]. Vào thời Hán, Quận Giao Chỉ bao gồm cả đất Quảng Đông và Quảng Tây bây giờ. Từ đời nhà Lý thế kỷ 11 đến cuối thời Lê Trang Tông giữa thế kỷ 16, biên giới Việt Nam vẫn được giữ nguyên vẹn. Cũng trong sách này, có ghi rõ các huyện của tỉnh Lạng Sơn, trong đó có Huyện Uyên với huyện lỵ có tên là Đồng Đăng (hình 9. “Thiên Hạ Quận Quốc chép cửa Pha Lũy – tức Nam Quan – là thuộc huyện Uyên”. Cuốn sách của Đào Duy Anh xuất bản lần thứ nhất có cả một chương về địa giới Việt Trung, nhưng khi tái bản vào năm 1995 thì toàn bộ chương này đã bị bỏ đi, với lời chú của “Viện Sử Học Việt Nam” như sau:

“Năm 1975 tác giả (Đào Duy Anh) có bổ sung và sửa chữ bản in lần thứ nhất, với ý định tái bản ở miền Nam. Sau khi xem lại tác giả đã bỏ chương nói về biên giới Việt Nam qua các đời vì thấy tài liệu chưa được đầy đủ. Trong lần tái bản này, chúng tôi đã thực hiện theo di cảo của tác giả lưu lại khi qua đời” [13].

Hình 9 – “Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời”, Đào Duy Anh

Thật là một điều phí phạm đáng tiếc: Cả một công trình tham khảo tài liệu đã được xuất bản, sau tác giả còn dày công bổ sung và sửa chữa, thế mà chỉ vì “tài liệu chưa đầy đủ” lại hủy bỏ đi! Theo tập quán của những nhà khoa học cũng như viết sử, khi tác giả thấy công trình của mình chưa hoàn hảo thì vẫn trình bày ra kèm theo ghi chú, để người sau tiếp nối cho đầy đủ, chứ không bao giờ lại có trường hợp hủy hoại công trình nghiên cứu dở dang của mình. Vì không có di cảo hay thủ bút của tác giả, làm sao để đời sau biết sự thật đúng như thế, hay nhà xuất bản đã đục bỏ đi theo kiểm duyệt của nhà nước?

Hình 10-11: Đại Nam Nhất Thống Chí, trang 366, 367

Bộ sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” được Quốc Sử Quán Triều Nguyễn soạn ra bằng chữ Nho, tương tự như chữ Hán của Tàu, gồm 25 quyển, đến năm 1971 đã được dịch ra tiếng Việt [14]. Căn cứ vào tập 3, trang 366 và 367 (hình 10, 11), có những chi tiết trái ngược với sự tuyên truyền của CSVN và của hai vị “ký giả” và “bình luận gia” từng viết bài cho rằng “Ải Nam Quan thuộc Tàu”. Sau đây là những chi tiết đó:

a.- Ải Nam Quan là đất của huyện Văn Uyên, tỉnh Lạng Sơn, từ thời nhà Trần đến thời Lê thịnh vẫn còn như thế.

b.- Cổng Nam Quan, cách Lạng Sơn 31 dặm (khoảng 19 km) về hướng Bắc của tỉnh lỵ Lạng Sơn. Theo văn bia của Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang, thì cổng, cùng với đài canh gác nằm trên cổng, đã được xây đầu tiên bởi người Việt Nam, vào thời Gia Tĩnh nhà Minh tức là cùng thời niên hiệu Nguyên Hòa của vua Lê Trang Tông (1533-1548). Tên nguyên khởi do người Việt đặt cho cổng Nam Quan là “cửa Nam-Giao” hay “Đại-Nam Quan”. “Đại Nam” là tên của nước ta từ thời xưa mà về sau triều Nguyễn Minh Mạng đã dùng lại.

c.- Trong thời gian cổng Nam Quan được xây, Việt Nam có tới hai triều đại: Bắc Triều do Mạc Đăng Dung soán ngôi Lê Cung Hoàng lập ra nhà Mạc từ năm 1527. Nam Triều của vua Lê Trang Tông được Nguyễn Kim phò tá lập ra chống lại nhà Mạc. Hai bên đánh nhau đến năm 1592 thì nhà Mạc bị đánh bại, vua Mạc Mậu Hợp bị Trịnh Tùng bắt về chém bêu đầu. Tuy nhiên, nhờ có nhà Minh can thiệp nên con cháu Mạc Đăng Dung vẫn được giữ đất Cao Bằng và Lạng Sơn thêm ba đời, cho đến năm 1625 mới dứt hẳn. Như vậy, nếu lời của Nguyễn Trọng Đang chính xác, thì cổng Nam Quan có thể do Mạc Đăng Dung dựng lên tại địa thế hiểm yếu của thiên nhiên, để kiểm soát sự xâm nhập biên giới của thổ phỉ Tàu từ phía bắc.

d.- Đến đời Nguyên Hoà thứ 8, năm 1541, trước sự uy hiếp của nhà Minh, Mạc Đăng Dung phải tự trói mình cùng bầy tôi đi “qua Trấn Nam Quan đến Mạc phủ của nhà Minh dâng biểu xin hàng. Đến đây mới thấy Sử (Ký) chép tên Trấn Nam Quan.” Chi tiết này chứng minh rằng cho dù trong thời bại trận, cả Ải Nam Quan lẫn cổng Nam Quan vẫn còn là lãnh thổ và tài sản của Việt Nam. Như vậy hiển nhiên họ Mạc đã dâng cho Tàu một phần của vùng khe núi Ải Nam Quan phía bắc của cổng, gồm năm động và đất Khâm Châu, còn cái cổng thì vẫn là tài sản của Việt Nam, chỉ bị Tàu đổi tên ở bảng hiệu phía Bắc mà thôi. Nói cách khác, trước khi họ Mạc đầu hàng, nguyên cả hai rặng núi song song dài khoảng 7 km cấu thành Ải Nam Quan và Suối Phi Khanh đều thuộc về Việt Nam. Ngay cả lúc hai bên chiến tranh, quân Tàu cũng không dám khinh xuất xâm phạm ải và cổng Nam Quan của Việt Nam. Sách Sử Ký của Tàu thay vì chép tên cổng là “Đại-Nam Quan”, thì đổi thành “Trấn Nam Quan”.

e.- Đối chiếu với bộ sách Nhất Thống Chí, sách Việt Nam Sử Lược của sử gia Trần Trọng Kim cũng nói đến chủ quyền cửa Nam Quan thuộc Việt Nam như sau:

“Năm Đinh Dậu (1537) vua nhà Minh sai Cừu Loan làm Đô Đốc đem quân đến đóng gần cửa Nam Quan rồi sai đưa người thư sang bảo Mạc Đăng Dung phải đưa sổ ruộng đất sang nộp và chịu tội thì được tha cho khỏi chết” [15].

Một đoạn khác, khi Quang Trung Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh cũng có ghi:

“Ngày hôm ấy (mùng năm tết Kỷ Dậu 1789) vua Quang Trung dốc quân đánh giặc, áo ngự bào bị thuốc súng bắn vào đen như mực. Đến trưa thì vào thành Thăng Long, sai tướng đem binh đuổi đánh quân Thanh đến cửa Nam Quan. Những dân Tàu ở gần Lạng Sơn sợ khiếp, đàn ông, đàn bà dắt díu nhau mà chạy, từ cửa ải về mé Bắc hơn mấy trăm dặm, tịnh không nghe thấy một người nào!” [16]

f.- Năm 1792, với sự yêu cầu chính đáng của Quang Trung Hoàng Đế, vua Càn Long nhà Thanh đã chấp thuận trả lại các phần đất thuộc Quảng Tây và Quảng Đông cho Việt Nam trong đó có nguyên vẹn vùng núi Ngũ Lĩnh ở Bằng Tường. [17] Tiếc thay, các vùng đất đó chưa được bàn giao lại cho Việt Nam thì Quang Trung băng hà, và từ đó Việt Nam chưa sản xuất được một vị anh hùng nào đủ hùng tài đại lược để đòi lại phần đất này.

g.- Vào khoảng tiền bán thế kỷ 17, đời vua Lê Thần Tông (1619-1643) và chúa Trịnh Tráng, thì nhà Minh bị nhà Thanh tiêu diệt. Đến năm Ung Chính thứ 3 thời nhà Thanh, (tức là đời Lê Dụ Tông thứ 20, niên hiệu Bảo Thái thứ 5, năm 1725, gần 200 năm sau khi người Việt xây cổng Nam Quan và đài canh vào thời nhà Minh), thì “án sát tỉnh Quảng Tây là Cam Nhữ Lai tu bổ lại” cổng Nam Quan. Rồi 3 năm sau đó (Ung Chính thứ 6, năm 1728) thì làm bảng để trên mặt bắc của cổng là “Trấn Nam Quan” bằng chữ Tàu. Như vậy, có thể trong thời gian này, nhà Thanh đã đề nghị tình nguyện “tu bổ” lại cổng Nam Quan để rồi sau này người Tàu lấy cớ mà giành giật chủ quyền cổng Nam Quan của người Việt.

h.- Đến đời Lê Hiển Tông niên hiệu Cảnh Hưng thứ 33 (năm Giáp Thìn – 1773), thì Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang cho khởi công trùng tu lại đài canh gác. Sau trên nửa năm xây cất, sang năm Ất Tỵ, đài mới hoàn tất và được đặt tên là Vọng Đức Đài, với tấm biển đề “Đại-Nam Quan” quay về hướng nam, đối chiếu tương đương với biển đề Trấn-Nam Quan ở mặt bắc (“việc làm phải theo thời thế, không dám làm hơn người trước”). Bấy giờ là “năm Ất Tỵ, mùa Xuân, trước ngày Vọng (vua ta) ba ngày” [18]. Lời chú trên bia của ông hàm ý ngưỡng vọng đức độ của vua Lê Hiển Tông, bấy giờ sắp kỷ niệm sinh nhật 57 tuổi, làm vua đã được 34 năm, chứ không phải “ngưỡng vọng vua Tàu” như vài người đã lầm tưởng một cách tai hại.

i.- Tuy nhiên, đến đời Càn Long nhà Thanh, năm Tân Sửu, (tức là năm 1781, khoảng 7 năm sau khi Vọng Đức Đài của Việt Nam được xây cất), nhằm vào thời Lê mạt, thì lần đầu tiên đài canh của Tàu mới được xây cất và đặt tên là “Chiêu Đức Đài” ở mặt bắc nằm trên cổng, phía bắc đài có “nhà giữ ngựa” gọi là “đình tham đường”. Như vậy, trên cổng có hai đài kiểm soát, phía bắc là Chiêu Đức của Tàu và phía Nam là Vọng Đức của Việt.

j.- Căn cứ vào các tài liệu trên, thì cho đến hậu bán thế kỷ 18, vẫn còn kiến trúc đồ sộ của cổng Đại-Nam Quan và Ngưỡng (hay Vọng) Đức Đài của Việt Nam nằm trên cổng, với bên tả bên hữu đài có hai dãy hành lang dùng làm nơi nghỉ ngơi mà Đốc Trấn Nguyễn Trọng Đang đã xây lên bằng cả một công trình gạch đá mất trên nửa năm trời. Như vậy, cho đến thời gian đó, cổng Nam Quan vẫn là sở hữu của Việt Nam, và là biên giới của hai nước. Tàu chỉ góp công tu bổ cổng cũng như xây đài ở mặt bắc và sử dụng chung mà thôi, giống như hiện nay Trung Quốc đang được Việt Nam cho sử dụng chung ga xe lửa tại Đồng Đăng để kiểm soát người nhập cảnh vậy. Góp công tu bổ để được cho sử dụng chung, rồi lại lật lọng đòi luôn sở hữu chủ tài sản của lân bang, thái độ của người Tàu ngang ngược như thế đã đành, mà thái độ của đảng CSVN và một vài người Việt ra sức bênh vực cho “chủ quyền” của người Tàu thì thật là cổ kim chưa từng có.

Trên đây là những bằng chứng rõ ràng từ bộ Nhất Thống Chí và một số sách sử khác về chủ quyền VN đối với toàn ải và cổng Nam Quan. Những “viên chức ngoại giao”, những “ký giả”, và những “nhà bình luận” đã diễn giải trái ngược với những tài liệu lịch sử ấy, có thể vì họ đã quá vội vàng trong việc tra cứu lịch sử và các niên đại, hoặc vì họ đang có một “sứ mạng bí mật” nào đó mà phải diễn giải sai lạc như thế. Đời xưa, mỗi lần có tranh chấp biên giới với Tàu thì các vua quan nước ta cương quyết tranh cãi, nhất định không nhượng bộ một tấc đất cho ngoại bang. Đời nay thì không những viên chức ngoại giao và lãnh đạo CSVN bí mật dâng nhượng đất đai cho Tàu, không khác gì cha con Mạc Đăng Dung vì muốn bảo vệ ngôi báu mà chịu hàng phục nhà Minh, mà một số người ở hải ngoại cũng đã vô tình hay cố ý toa rập với đảng CSVN và hết lòng bênh vực cho bọn cướp nước ta. Thật chưa bao giờ đất nước và dân tộc Việt Nam mang phải đại nạn như lúc này!

3- Sự thật trên các tấm hình

Hiện nay, có ba hình ảnh liên hệ đến cổng Nam Quan được đưa lên internet, một tấm hình đen trắng và hai hình màu:

Hình 12- Đại Nam Quan, 1891

a.- Tấm hình đen trắng (hình 12) được tìm thấy trong một thư viện của Pháp trên hình có ghi chú bằng chữ “La rivière de Nam Quan à la frontière”. Tấm hình này cho thấy công sự cổng hình cầu vòng bằng đá nằm giữa thung lũng hẹp. Trên cổng là một tầng lầu có tường vôi trắng với 3 cửa chính diện và một cửa hông nằm chính giữa vách. Trên tầng lầu vôi trắng này là một tầng lầu nữa, có mái ngói nhưng không có vách, có vẻ là một chòi canh gác. Từ hai bên hông cổng có tường đá xây hướng thẳng góc với vách tường lên đến đỉnh đồi hai bên. Trên đồi bên phải là một số nhà, có vẻ là đồn trại canh phòng. Đằng sau là núi non trùng điệp với thung lũng hẹp kéo dài. Tấm hình đen trắng là hình chụp của cổng Nam Quan hơn 100 năm về trước, với hình thể giống như sự diễn tả trong hai bộ sách Phương Đình Dư Địa Chí và Đại Nam Nhất Thống Chí. Có thể đó là toà công sự được Tổng Đốc Nguyễn Trọng Đang xây cất lại vào năm 1774, và Pháp trùng tu lại 117 năm sau đó theo HĐ 1887.

b.- Tấm hình thứ hai là hình màu (hình 13), được đăng trên National Geographic Magazine, không rõ năm nào, có ghi chú phía dưới: “The Porte de Chine stands at the Indo-China’s Northern Frontier”; và tiếp theo với dòng chữ nhỏ hơn: “Where the old Mandarin Road enters China, it passes through the archway of the China Gate. Stone walls extend from the gate on each side to meet the hills which gird the narrow valley”. Tấm hình này cho thấy công sự cũng có cổng hình cầu vòng và tường đá. Nhưng phía trên cổng chỉ có một tầng lầu thay vì hai tầng như tấm hình đen trắng. Tầng lầu này có mái ngói, tường sơn màu vàng, có một cửa hông nằm lệch qua một bên. Bức tường đá chạy lên đỉnh đồi theo sống núi, vùng đất trên đỉnh đồi chật hẹp, không có nhà cửa như tấm hình đen trắng. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, dọc các tỉnh biên giới Việt Trung có nhiều cửa ải. Riêng vùng biên giới dọc tỉnh Lạng Sơn có tới 12 cửa ải, các cửa quan trọng gồm có Binh Nhì, Cảm Môn, Nguyệt Hoa, Du Thôn, Quỷ Môn, v.v…, có vài cửa ải ghi rõ là thuộc “địa phận nước Thanh”, đa số cửa khác trong đó có cửa Ải Nam Quan ghi rõ là ở địa phận nước ta. Vì không giống với tấm hình đen trắng, nên tấm hình màu đăng trên National Geographic Magazine có thể là cửa ải Du Thôn hay cửa Tân Thanh hoặc cửa ải nào khác, chứ không phải là cổng Nam Quan. Theo cả hai sách Dư Địa Chí và Nhất Thống Chí thì ải Du Thôn:

“Cách tỉnh thành (Lạng Sơn) 30 dặm về phía bắc, ở địa phận Du Thôn xã Bảo Lâm châu Văn Uyên, phía bắc giáp thôn Điếu -sách, châu Thượng Thạch nước Thanh, từ ải này đến Trấn Nam Quan đi theo đường núi, ước hết hai trống canh rưỡi, phàm việc giao tống công văn và khách buôn đi lại, đều do cửa ải này.” [19]

Hình 13 – Cổng Nam Quan, National Geographic

c.- Tấm hình thứ ba cũng là một hình màu (hình 14), có vẻ mới nhất và rõ nhất, được phổ biến trên internet, có lẽ là Mục Nam Quan mà ông Lê Công Phụng đã nhiều lần nhắc đến trong các bài phỏng vấn ông ấy. Nhiều người lầm tưởng đó là cổng Nam Quan hiện nay. Sự thật không phải thế. Nếu quan sát kỹ, người ta sẽ nhận ra sự khác biệt nhau về kiến trúc và vị trí xây cất của công sự này đối với các công sự ở hai tấm hình kia. Toà công sự này có ba tầng lầu xây trên một quảng trường bằng phẳng, có cổng hình cầu vòng bằng ô xi-măng (cement blocks). Ba tầng lầu trên cổng được kiến trúc theo kiểu của người Tàu, với hành lang bên ngoài và hàng rào có chạm trổ mỹ thuật. Khác với hai tấm hình trước, cổng cầu vòng không có cánh cửa, người ta có thể nhìn thấy xuyên qua cổng cầu vòng, đàng sau là một toà nhà mái ngói đỏ tọa lạc trên một khoảng trống bằng phẳng, chứ không có núi non trùng điệp như vùng thung lũng chật hẹp của Ải Nam Quan. Trước mặt cổng cầu vòng là ba chữ “Mục Nam Quan” và trên mái là cột ang-ten, chứng tỏ một công sự thời hiện đại. Đây là công sự mới do Trung Quốc xây lên vào giữa thập niên 1960. So với vị trí đích thực nguyên thủy của cổng Nam Quan và căn cứ vào địa thế bằng phẳng không núi non, thì Mục Nam Quan nằm cách xa phía nam cửa ải, trong bình nguyên sông Kỳ Cùng. Đường biên giới mới bị lùi lại gần Đồng Đăng, chỉ còn cách Đồng Đăng vài cây số mà thôi. Đó là hậu quả của sự đồng thuận của CSVN bằng lòng nhượng toàn vùng các ải hiểm trở trong tỉnh Lạng Sơn, để đổi lấy tiếp liệu và quân trang vũ khí cho cuộc xâm chiếm miền Nam Việt Nam vào đầu thập niên 1960.

Hình 14 – Mục Nam Quan

Đối chiếu địa thế trong các tấm hình, chúng ta tự hỏi: Làm sao chỉ trong vòng 100 năm mà vùng Ải Nam Quan lại có thể bị san thành bình địa để từ đó cổng Đại Nam Quan bị biến mất đi, và cổng Mục Nam Quan được xây dựng lên từ lưu vực sông Kỳ Cùng, sát Đồng Đăng? Vùng cổng Đại Nam Quan với hai dãy núi đá hiểm trở không phải là một địa thế dễ san bằng. Theo hiệp ước Pháp Thanh, nó có công sự gồm cổng Nam Quan rất kiên cố, với đài kiểm soát của cả hai quốc gia nằm ở trên, nhà khách trọ phía VN làm bằng gạch ngói do Đốc Trấn Lạng Sơn Nguyễn Trọng Đang xây lên năm 1774, và hai cột mốc bằng đá do các nhà trắc lượng Pháp xây để đánh dấu khoảng cách 100 m đến biên giới chính thức là cổng Nam Quan. Ngoài ra, lại có trại lính trên đỉnh núi nữa, có lẽ do Pháp xây lên. Cho dù Trung Quốc có phá hủy các công sự của họ đi mà xây lại công sự mới, thì nhất định họ không thể có quyền phá hủy luôn Vọng Đức Đài do Việt Nam xây lên, nếu không có sự thỏa thuận của nhà cầm quyền Việt Nam. Vậy ai đã thỏa thuận cho vụ phá hủy một cách mờ ám các công trình phòng thủ của tiền nhân Việt Nam?

4- Sự thật qua các bản đồ hiện đại

Đối chiếu các bản đồ vùng Đồng Đăng – Ải Nam Quan của Nha Địa Dư có từ trước 1950, với các bản đồ vào những năm 1964, 1976, 1998, và 2002, chúng ta sẽ thấy kinh ngạc trước sự di chuyển không ngừng của đường biên giới dần về phía Nam.

Hình 15 – Bản đồ thời Pháp thuộc, trước năm 1954

Bản đồ Nha Địa Dư VNCH (hình 15) là bản đồ thời Pháp thuộc đến lúc đất nước bị chia đôi. Bản đồ này có hình màu được tìm thấy trong cuốn sách Nước Tôi Dân Tôi [20]. Trên bản đồ này ghĩ rõ các chữ “Ải Nam Quan” nằm trên đường biên giới được đánh dấu bằng chữ thập, hiển nhiên là một địa danh của Việt Nam, khác với các địa danh bằng tiếng Tàu trong lãnh thổ Trung Quốc, như địa danh “Long Tcheou” (Long Châu) chẳng hạn. Khoảng cách từ Đồng Đăng lên Nam Quan khoảng 8-9 km.

So sánh bản đồ Nha Địa Dư với bản đồ hội United States Geographic Society (hình 16) được tìm thấy trên internet năm 1967, thì có sự rút ngắn khoảng 4-5 km từ Đồng Đăng lên biên giới. Điều này cho thấy sự thay đổi đã xảy ra trong thời khoảng từ 1954 đến 1967. Một cách chính xác hơn, sự thay đổi bắt đầu từ khi Trung Quốc ào ạt viện trợ quân sự cho miền Bắc xâm chiếm miền Nam vào đầu thập niên 1960.

Hình 16 – Bản đồ United States Geographic Society, 1967

So sánh bản đồ USGS 1967 với bản đồ du lịch của nhà nước nhà nước CSVN (hình 17), thì có sự khác biệt là 2 km. Bản đồ du lịch của nhà nước đến nay vẫn chưa được điều chỉnh theo Hiệp Ước 1999, vẫn còn có thể được tìm thấy trên một web site có địa chỉ như sau:

http://goasia.about.com/gi/dynamic/offsite.htm?site=http://home.vnn.vn/english/map/

Hình 17 – Bản đồ du lịch nhà nước CSVN

Khoảng tháng 3 năm 2002, có một bản đồ vùng Ải Nam Quan được một người tên là Dieu Van đưa lên các diễn đàn nghị luận ảo (email groups) và quả quyết là bản đồ của Hiệp Ước 1999 (hình 18), mặc dù Hà Nội đang tuyệt đối giữ bí mật. Bản đồ này cho thấy toàn đường biên giới trong vùng đã đổi dời thêm về phía nam so với bản đồ trên internet của nhà nước CSVN. Căn cứ trên tỷ lệ khoảng cách 20 km từ Lạng Sơn đến Đồng Đăng [21], chúng ta có thể thấy ít nhất là 2 km đã bị nhượng cho Trung Quốc qua Hiệp Ước 1999 và đường biên giới đã đến sát Đồng Đăng, gần ngã ba Quốc lộ 1 và Quốc lộ 4. Như vậy đoạn đường của Quốc lộ 1 từ Quốc Lộ 4 lên ải Nam Quan dài gần 10 km đã mất khoảng 8-9 km, chỉ còn đoạn đường xuyên qua huyện Đồng Đăng mà thôi!

Hình 18 – Bản đồ (được cho là) hiệp ước Việt-Trung 1999

Có người cho rằng bản đồ mới được phổ biến trên các diễn đàn nghị luận vào tháng 3 năm 2002 là “ngụy tạo”, nhưng họ lại không đưa ra bằng cớ ngụy tạo chỗ nào. Đã thế, người phổ biến bản đồ ấy còn bị “chụp mũ” là “cộng sản”. Đó là một điều vừa khôi hài vừa ấu trĩ, vì CSVN không bao giờ tiết lộ những gì có thể phương hại cho họ. Mặt khác, bản đồ đó trông rất tinh vi, không thể nào ngụy tạo được. Người viết phỏng đoán rằng bản đồ “Hiệp Ước 1999” có lẽ được lấy từ các websites của Trung Quốc hoặc Đài Loan.

Điểm đáng chú ý là đường biên giới khá sát với Quốc lộ 4 và quận lỵ Đồng Đăng. Đối chiếu với bản đồ năm 2002 (hình 19), mà người viết có từ một nguồn khác, thì bản đồ năm 2002 tương đối thô sơ hơn nhưng hình như chưa được biểu thị đúng thực tế về các giới điểm và đường biên giới mới. Vì vậy mà người viết phổ biến bản đồ này với sự dè dặt.

Hình 19 – Bản đồ biên giới năm 2002

Theo hình chụp của Giáo Sư Trần Đại Sỹ thì cổng Hữu Nghị (hình 20) hiện nay là trạm kiểm soát thông thương của Việt Nam. Cổng Hữu Nghị nằm sát ngoại ô Đồng Đăng, tại một vị trí hoàn toàn không có dấu vết của cổng Nam Quan, Vọng Đức Đài xây năm 1774, cũng như các rặng núi đá ở hai bên thung lũng. Theo một chính khách từng về VN và lên tham quan biên giới, thì tại vị trí cổng Hữu Nghị, người ta không thể nhìn thấy Mục Nam Quan vì cách Mục Nam Quan ít nhất 500 m.

Hình 20 – Cổng Hữu Nghị (chụp từ phía TQ), hình GS Trần Đại Sỹ

Hiển nhiên, vị trí mới của biên giới hiện nay đã được di chuyển với sự thỏa thuận hay đổi chác ngầm giữa hai đảng cộng sản VN và TQ. Rất có thể trong thời gian từ 1958 đến 1960, song song với việc ký lá thư nhượng Biển Đông cho Trung Quốc, ông Phạm Văn Đồng cũng đã ký một văn thư tương tự, nhượng toàn vùng ải Nam Quan và thác Bản Giốc cho Trung Quốc. Chúng ta đã biết rằng “lá thư nhượng biển” mới bị TQ đưa ra, cùng với bản tuyên bố về lãnh hải Trung Quốc, để làm bằng chứng, đối phó với việc CSVN đổi giọng (nhưng rất yếu ớt) đòi dành lại chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Có lẽ vì lo sợ Bắc Kinh lại trưng thêm bằng cớ về việc Hà Nội đã nhượng bộ ải Nam Quan và thác Bản Giốc cho họ, mà Hà Nội đã không dám dành chủ quyền hai địa danh này. Do đó, vụ sang nhượng phần đất này không hề được Hà Nội xem là thuộc “những vùng tranh chấp” của 227 km2.

V. Kết luận 

Hiện nay, rất khó khăn để các chuyên gia từ hải ngoại về tìm hiểu vị trí đích thực của ải Nam Quan đã và đang bị CSVN ra sức ngăn chặn. Ngay cả người trong nước, từng liên hệ mật thiết với chế độ, vẫn gặp trở ngại và không ngớt bị hù họa, tù đày chỉ vì họ đã nói lên sự thật về sự mất mát lãnh thổ. Nếu một ngày nào đó, hai quốc gia thỏa thuận cho một toán chuyên gia quốc tế thông thạo về ngành công chánh và trắc lượng (Professional Civil Engineers and Land Surveyors) đến khảo sát bằng các dụng cụ tối tân hiện nay, chắc chắn họ sẽ tìm ra các dấu vết của cổng Đại-Nam Quan hiện hữu từ 100 năm trước, cho dù Trung Quốc đã phá hủy nó đi để phi tang. Thật là một mâu thuẫn cực kỳ phi lý khi ông Lê Công Phụng cho rằng trọn vẹn hai rặng núi đá, thung lũng, tòa công sự cổng Đại Nam xây bằng đá, và các đài canh xây bằng gạch, tất cả đã bị san thành bình địa sau 110 năm mà lịch sử không hề ghi lại biến cố thiên nhiên nào, rồi cùng lúc lại tuyên bố là cột mốc tý hon đã được tìm thấy để căn cứ vào đó mà xác định biên giới theo HĐ Pháp Thanh 1887.

Không sớm thì muộn, các bản đồ mới sẽ “xuất hiện” để được kiểm chứng và đối chiếu với các bản đồ cũ có trước khi Bắc Kinh và Hà Nội nắm chính quyền trên hai quốc gia. Những bản đồ cũ này chắc chắn còn được lưu trữ trong thư viện các quốc gia liên hệ đến Việt Nam trong quá khứ hay hiện tại, nhất là Trung Quốc, Pháp, và Hoa Kỳ. Hy vọng rằng khi các bản đồ đã được “công khai hóa”, lúc bấy giờ sẽ không còn các tranh luận dai dẳng về việc CSVN sang nhượng bao nhiêu lãnh thổ VN cho TQ, mà sẽ có một cuộc thảo luận ý nghĩa và hữu ích hơn:

Nhân dân Việt Nam sẽ làm gì để giành lại đất đai đã mất?

Đó là một “ngõ bí” mà nhà nước đã và đang phải tìm mọi cách tránh né. Đó cũng là một vấn nạn mà nhân dân Việt Nam không dễ dàng có đối sách giải đáp. Bởi vì nhân dân Việt Nam đang phải đối phó với hai trở ngại lớn: một lân bang vô cùng nham hiểm luôn luôn tìm cách thôn tính Việt Nam, và một chế độ vô cùng tàn ác đối với nhân dân, mạt sát những người yêu nước là “phản động” chỉ vì họ muốn bảo vệ lãnh thổ của tổ tiên.


Tài liệu dẫn chứng:

(1) U.S. International Institute for Strategic Studies (IISS – FAS, January 30, 2000)

(2) “The issue of South Chia Sea”, Ministry of Foreign Affairs Peoplés Republic of China, June 2000.

(3) BBC News Online: “China Ends Huge Mine Clearing Programme,” Asia-Pacific, August 12, 1999.

BBC “China Clears Thousands of Landmines on Vietnamese Border”, January 6, 1998; (“Qiu Daxiong, deputy commander of the Guangxi Military Area Command, said the mine clearing operation, is expected to clear 120 zones on nearly 20 million sq.m. of ground”).

(4) Datacom Ad Network, “China, Vietnam Pledge To Resolve Border Dispute”, Apr 5, 2000

(5) Bản dịch biên bản Pháp-Thanh năm 1891 về HĐ 1887 (đã được phổ biến trên các diễn đàn).

(6) Bài phỏng vấn LCP tháng 10-02, lời LCP

(7) Nước Tôi Dân Tôi, Đông Tiến, 1989, Vũ Nguyệt Minh, trang 52.

(8) Các Triều Đại Việt Nam, Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh Niên, 1995, trang 109.

(9) Việt Sử Tân Biên – Quyển 2, Phạm Văn Sơn, NXB Văn Hữu Á Châu, 1958, trang 442

(10) Phương Đình Dư Địa Chí – Nguyễn Văn Siêu, NXB Tự Do Sài Gòn, 1959, trang 451

(11) Phương Đình Dư Địa Chí, trang 452

(12) Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, Đào Duy Anh, NXB Thuận Hóa – Huế, 1995, trang 71&72

(13) Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, trang 15

(14) Đại Nam Nhất Thống Chí, Phạm Trọng Điềm dịch, Đào Duy Anh hiệu đính, NXB Khoa Học Xã Hội, 1971, Tập 3, trang 366-367

(15) Việt Nam Sử Lược, Quyển 2, Trần Trọng Kim, Bộ Giáo Dục VNCH, trang 16

(16) Việt Nam Sử Lược, quyển 2, trang 134

(17) Các Triều Đại Việt Nam, Quỳnh Cư & Đỗ Đức Hùng, NXB Thanh Niên, 1995, trang 231. Tuy nhiên, theo Việt Nam Sử Lược, quyển 2, trang 143, “sau khi nghe tin Quang Trung mất thì các quan sứ dìm vụ cầu hôn và đòi đất lưỡng Quảng đi, không cho Thanh Triều biết”, tức là không có chuyện vua Càn Long đồng ý gả con và trả đất cho Quang Trung.

(18) Phương Đình Dư Địa Chí, trang 453.

(19) Đại Nam Nhất Thống Chí, trang 367

(20) Nước Tôi Dân Tôi, trang 12.

(21) Viet Nam, Robert Storey, trang 506

 

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: