TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

1. Biên Giới Việt Trung: Đi Tìm Sự Thật Sau Những Che Giấu

Posted by tieng_dan on February 8, 2008

BÀI VỞ HCGVN
[logo]


BÀI VỞ NGHIÊN CỨU
Biên Giới Việt Trung: Đi Tìm Sự Thật Sau Những Che Giấu

Nguyễn Đình Sài
THỨ HAI 16 THÁNG MƯỜI HAI 2002

Biên Giới Việt Trung: Đi Tìm Sự Thật Sau Những Che Giấu

Nguyễn Đình Sài
Kỹ sư công chánh

Kỹ sư Nguyễn Đình Sài tốt nghiệp ngành Kỹ Thuật Công Chánh (Civil Engineering) và Cao Học Quản Trị về ngành Công Kỹ Nghệ (MBA in Engineering Technology) tại Mỹ; văn bằng hành nghề (Professional Engineer) từ năm 1985; Từng làm Giám Thị Công Trường xây hệ thống dẫn thủy nhập điền quận Lạc Lâm, tỉnh Tuyên Đức (1964-65); hiện làm Project Manager cho các dự án cầu đường, cống rãnh và thủy lợi thuộc Bộ Công Chánh Hạt Snohomish County, Tiểu bang Washington, Hoa Kỳ; hội viên American Society of Civil Engineers; hội viên HCGVN; Ủy viên Hội Đồng Quản Trị HCGVN nhiệm kỳ 1998-2004; Phân Hội Trưởng Phân Hội Washington State từ 1996; hiện được Hội giao trách nhiệm thực hiện Tập San Bách Hợp.

Bài viết này ghi lại những biến chuyển trong một năm qua, khi tin tức về những hiệp ước liên hệ đến biên giới và lãnh hải Việt Nam được phơi bày trước dư luận. Những thỏa thuận do chính phủ Việt Nam ký kết với Trung Quốc vào các năm 1999 và 2000 đã bị tiết lộ vào mùa thu năm 2001, và đã gặp sự chống đối mãnh liệt của tập thể người Việt trong cũng như ngoài nước. Để đối phó với sự công phẫn của đồng bào, đảng CSVN đã dùng nhiều biện pháp, từ việc cho các viên chức chính phủ viết bài giải thích dưới hình thức “bài phỏng vấn”, đến các vụ bắt bớ hăm dọa những nhà tranh đấu ở trong nước. Mặt khác, tại hải ngoại, bộ máy trí vận của đảng cũng đang nỗ lực viết bài phản luận, tạo hoài nghi về lịch sử địa lý nước nhà, rằng những vùng đã mất vốn không phải là tài sản của ông cha để lại. Tuy nhiên, mặc cho chủ trương triệt để giấu giếm của đảng và nhà nước, sự thật đang được phơi bày qua những chứng cớ, tài liệu và kỹ thuật nghiên cứu sưu tầm hiện đại.


- I. Phong trào phản kháng lan rộng sau các chứng cớ cụ thể
- II. Phản ứng của đảng Cộng Sản Việt Nam
- III. Phân tích về biên bản Hiệp Ước 1999
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 1)
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 2)
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 3)
- IV. Sự thật về Ải Nam Quan (phần 4)
- V. Kết luận

I. Phong trào phản kháng lan rộng sau các chứng cớ cụ thể

THỨ NHẤT 15 THÁNG MƯỜI HAI 2002

Trong nửa năm đầu của 2002, người ta thấy sự xuất hiện của nhiều bản tin, nghiên cứu và tham luận về các vụ nhượng bộ của Hà Nội đối với Bắc Kinh. Đối chiếu các tài liệu sưu tầm được từ các nguồn trong và ngoài nước, người ta nhận thấy các nhượng bộ của VN đối với TQ có thể được chia làm hai giai đoạn: Trước và sau cuộc xâm lấn biên thùy Việt Nam của CS Trung Quốc vào năm 1979.

Trước cuộc chiến tranh tháng 2 năm 1979, đã có những nhượng bộ lãnh thổ và lãnh hải từ phía Hà Nội cho Bắc Kinh rồi. Chứng cớ về các nhượng bộ đó đã được phơi bày với hai sự thật không thể chối cãi, đó là:

Về phương diện lãnh hải:

Chứng cớ rõ nhất về vụ nhượng biển trước năm 1979 là bức thư của Thủ Tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Bắc Việt Nam) Phạm Văn Đồng gởi cho Thủ Tướng Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa Chu Ân Lai. Bức thư này (hình 1) được ký ngày 14-9-1958, cam kết rằng chính phủ nước VNDCCH công nhận toàn bộ bản tuyên bố của Trung Quốc 10 ngày trước đó, trong đó Trung Quốc xác nhận chủ quyền của Trung Quốc trên các quần đảo quanh vùng kể cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Hình 1 – Lá thư Phạm Văn Đồng

Trung Quốc kèm theo bản tuyên bố này (hình 2) một bản đồ 9 gạch [1], gọi là “baseline map”, dọc theo hải phận của Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương, và tuyên bố bên ngoài đường căn bản này là “nội hải” (internal sea) hay là “Lưỡi Rồng Trung Quốc”. Ngoài ra, Bắc Kinh cũng đã nêu một số tài liệu khác do chính VNDCCH phổ biến để làm bằng cớ về sự thỏa thuận nhượng biển của Hà Nội. Trong một bài viết, dưới tiêu đề “The Issue of South China Sea” do bộ Ngoại Giao Trung Quốc phổ biến vào tháng 6 năm 2000(2), có một số đoạn liên hệ đến Việt Nam như sau:

- Prior to 1975, Vietnam had, in explicit terms, recognized China’s territorial integrity and sovereignty over the Nansha Islands.
- Vietnam acknowledged the Nansha Islands as being China’s territory in its world maps published in 1960 and 1972 as well as its textbooks published in 1974.
- Vice Foreign Minister Dung Van Khiem of the Democratic Republic of Viet Nam received Mr. Li Zhimin, charge d’affaires ad interim of the Chinese Embassy in Viet Nam and told him that “according to Vietnamese data, the Xisha and Nansha Islands are historically part of Chinese territory.” Mr. Le Doc, Acting Director of the Asian Department of the Vietnamese Foreign Ministry, who was present then, added that “judging from history, these islands were already part of China at the time of the Song Dynasty.”
- Nhan Dan of Viet Nam reported in great detail on September 6, 1958 the Chinese Government’s Declaration of September 4, 1958 that the breadth of the territorial sea of the People’s Republic of China should be 12 nautical miles and that this provision should apply to all territories of the People’s Republic of China, including all islands on the South China Sea. On September 14 the same year, Premier Pham Van Dong of the Vietnamese Government solemnly stated in his note to Premier Zhou Enlai that Viet Nam “recognizes and supports the Declaration of the Government of the People’s Republic of China on China’s territorial sea.”.
- It is stated in the lesson The People’s Republic of China of a standard Vietnamese school textbook on geography published in 1974 that the islands from the Nansha and Xisha Islands to Hainan Island and Taiwan constitute a great wall for the defense of the mainland of China.


Hình 2 – Tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải
DECLARATION OF THE GOVERNMENT OF THE PEOPLE’S REPUBLIC OF CHINA ON THE TERRITORIAL SEA
(Approved by the 100th Session of the Standing Committee of the National People’s Congress on 4th September, 1958)

The People’s Republic of China hereby announces:

(1) This width of the territorial sea of the People’s Republic of China is twelve national miles. This provision applies to all Territories of the People’s Republic of China, including the mainland China and offshore islands, Taiwan (separated from the mainland and offshore islands by high seas) and its surrounding islands, the Penghu Archipelago, the Dongsha Islands, the Xisha islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

(2) The straight lines linking each basic point at the mainland’s coasts and offshore outlying islands are regarded as base lines of the territorial sea of the mainland China and offshore islands. The waters extending twelve nautical miles away from the base lines are China’s territorial sea. The waters inside the base lines, including Bohai Bay and Giongzhou Strait, are China’s inland sea. The islands inside the base lines, including Dongyin Island, Gaodeng Island, Mazu Inland, Baiquan Island, Niaoqin Island, Big and Small Jinmen Islands, Dadam Island, Erdan Island and Dongding Island, are China’s inland sea islands.

(3) Without the permit of the government of the People’s Republic of China, all foreign aircrafts and military vessels shall not be allowed to enter China’s territorial sea and the sky above the territorial sea.

Any foreign vessel sailing in China’s territorial sea must comply with the relevant orders of the government of the People’s Republic of China.

(4) The above provisions (2) and (3) also apply to Taiwan and its surrounding islands, the Penghu Islands, the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands and other islands belonging to China.

Taiwan and Penghu are still occupied with force by the USA. This is an illegality violating the People’s Republic of China’s territorial integrity and sovereignty. Taiwan and Penghu are waiting for recapture. The People’s Republic of China has rights to take all appropriate measures to recapture these places in due course. It is China’s internal affairs which should not be interfered by any foreign country.


Về phương diện lãnh thổ:

Chứng cớ rõ nhất về việc Hà Nội đã nhượng đất cho Bắc Kinh trước năm 1979 là bức ảnh “Mục Nam Quan” mà nhiều người lầm tưởng là cổng Nam Quan. Đối chiếu các nguồn tin trao đổi trên các diễn đàn ảo trong nửa năm qua, người viết phỏng đoán tòa công sự “Mục Nam Quan” đã được xây lên vào khoảng thời gian từ 1960 đến 1966, có nguồn tin viết là do Tân Gia Ba xây cho Trung Quốc. Trước khi qua đời, Chủ Tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc Mao Trạch Đông đã đến cắt băng khánh thành công sự mới và đặt tên cho nó là “Mục Nam Quan” (ý họ Mao ám chỉ là cổng hòa thuận ở phia nam – the southern peace gate), còn Chủ Tịch VNDCCH Hồ Chí Minh thì đặt tên là “Hữu Nghị Quan” (cổng tình bạn – the friendship gate). Căn cứ vào hình ảnh, các bài viết của những người từng đến thăm công sự này, đồng thời quan sát địa hình của toàn vùng cùng với đường biên giới trên các bản đồ, người viết có thể kết luận rằng công sự mới nằm về phía nam của ải Nam Quan. Vị trí mới này nằm trên đồng bằng sông Kỳ Cùng, cách biên giới và cổng Đại-Nam Quan cũ của Việt Nam khoảng 5 km.

Chứng cớ về vụ sang nhượng lãnh thổ vùng này sẽ được trình bày cặn kẽ sau.

Nhân đây cũng xin ghi chú là danh từ “Hữu Nghị Quan” nay không còn được các viên chức nhà nước VN (như ông Lê Công Phụng chẳng hạn) sử dụng cho công sự ấy nữa, vì họ đã nhất trí gọi theo tên “Mục Nam Quan” mà họ Mao đã đặt. Thay vì vậy, họ đã dùng danh từ “cổng Hữu Nghị” để gọi cái trạm kiểm soát nhỏ do phía VN cất lên, cách Mục Nam Quan khoảng 500 m về phía nam.

Chứng cớ về vụ Trung Quốc tiếp tục lấn chiếm thêm bờ cõi Việt Nam sau năm 1979 có thể được phát giác vào những năm đầu thập niên 1990, khi Trung Quốc bắt đầu cuộc tháo gỡ hàng triệu quả mìn trên cả hàng ngàn cây số vuông dọc biên giới mà họ đã rải ra khi triệt thoái vào năm 1979 [3].

Cuộc gỡ mìn được Trung Quốc tiến hành từ phía bắc xuống, theo chiến thuật vừa gỡ vừa chiếm đóng. Khi một vùng vừa được gỡ xong, các viên chức TQ lại phân chia cho những người Trung Hoa tiên phong làm đơn xin sở hữu vùng đất mới. Trong khoảng thời gian 5 năm từ 1992 đến 1997, hàng ngàn người Hoa đã định cư tại các vùng đất mới cấp này.

Thế nhưng các vùng đất mới đó đã từng là đất đai của thổ dân Việt Nam. Năm 1979, lúc quân Trung Quốc tràn qua, nhiều người đã phải chạy về phương nam. Sau khi quân TQ rút lui, họ vẫn không thể trở về vì đất cũ của họ bị rải mìn (hình 3). Sau khi mìn đã được gỡ xong thì họ trở về muốn lấy lại đất đai mà họ đã canh tác trước khi chiến tranh. Song vì các vùng đó đã bị những người lạ đến chiếm mất rồi, nên nhiều người đã phẫn nộ, cương quyết đòi lại. Chính vì vậy, trong thời gian đó các cơ quan thông tấn quốc tế thường loan tin về những trận chiến nhỏ dọc biên giới mà nhà nước Việt Nam gọi là “tranh chấp” [4].

Hình 3 – Một vùng đất ở Đồng Đăng bị TQ gài mìn trước khi rút lui năm 1979

Trước các chứng cớ rõ ràng về sự nhân nhượng lãnh thổ và lãnh hải cho Trung Quốc, đảng CSVN đã bị nhiều người am hiểu vấn đề lên tiếng phản đối, tạo nên một phong trào rầm rộ chưa từng có. Từ đầu năm 2002 đến nay, các cuộc chống đối các hiệp ước phi pháp Việt Trung đã được tổ chức bằng nhiều hình thức khác nhau. Với phương tiện thông tin rộng lớn ở hải ngoại, việc tổ chức, vận động cuộc phản đối càng ngày càng dễ dàng hơn trước. Chưa bao giờ trong lịch sử hiện đại, người Việt thống nhất ý chí như thế. Họ đã nhận thấy đất đai tổ tiên đã và đang bị sang nhượng cho ngoại bang hết lần này đến lần khác một cách có hệ thống. Họ cũng nhận rõ rằng thành phần lãnh đạo đảng CSVN đã đặt quyền lợi của đảng và cá nhân cao hơn nhiệm vụ bảo vệ các di sản quý báu của Việt Nam.

II. Phản ứng của đảng Cộng Sản Việt Nam

THỨ BẢY 14 THÁNG MƯỜI HAI 2002

Từ một năm qua, áp lực của sự chống đối mạnh mẽ của dân chúng càng ngày càng tăng đã tạo nên hậu quả là Hà Nội phải đưa ra một số biện pháp như sau:

1- Những vụ bắt giữ và hù họa.

Vào ngày 21 tháng 2, 2002, cơ quan thông tấn VNN đã đăng bản tin từ Việt Nam gởi sang, loan báo về việc nhà nước đã bắt giữ hoặc giam tại gia những người đã lên tiếng báo động về các hiệp ước Việt Trung, như các ông Lê Chí Quang, Trần Khuê, Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Bùi Minh Quốc, Vũ Cao Quận, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, và Nguyễn Đan Quế. Đa số những vụ bắt giữ hay quản thúc tại gia đều không có bản án, ngoại trừ trường hợp Luật gia Lê Chí Quang đã bị bắt giữ, buộc tội “tuyên truyền chống chế độ”, vi phạm điều 88 Bộ Luật Hình Sự, đã bị đưa ra tòa, chỉ vì ông đã viết bài dưới tựa đề “Hãy Cảnh Giác Bắc Triều” để báo động với đồng bào về những nhân nhượng của chế độ đối với sự xâm lấn liên tục của Trung Quốc.

Ngoài những bắt bớ được tiết lộ ra hải ngoại, người ta cũng chú ý đến sự im lặng của hàng chục người khác đã từng lên tiếng hoặc ký thư chung gởi cho quốc hội và nhà nước để phản đối các bản hiệp ước. Bây giờ họ đang ở đâu? Họ đang bị chế độ trù dập thế nào? Có ai nghe thấu được lời kêu than của họ không?

2- Vụ phản luận đầu tiên của ông Lê Công Phụng.

Song song với các bắt bớ và hăm dọa, nhà nước Việt Nam cũng phát động các cuộc phản luận hầu tranh thủ dư luận.

Phần lớn các vụ phản luận xuất phát từ các viên chức nhà nước, như ông Lê Công Phụng, Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Nam, trưởng phái đoàn thương thuyết với Trung Quốc, bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao, và các bản tin đăng trên trang web của Quốc Hội.

Trong bài phỏng vấn lần đầu ngày 27-1-2002 do Thu Uyên của cơ quan VACS Orient đưa lên internet, ông Lê Công Phụng cho biết rằng mục đích của Hiệp Ước 1999 là xác định lại đường biên giới theo Hiệp Ước Pháp Thanh ký vào năm 1887. Ông Phụng đã nói một câu đáng chú ý nhất là:

“Một nhu cầu rất bức bách là phải phân định lại biên giới cho rõ ràng. Như tôi đã nói, do biến thiên về thiên nhiên, khi phân định cách đây 100 năm thì đường biên giới đi qua một quả đồi; nhưng hơn 100 năm qua, quả đồi này biến mất và lại xuất hiện quả đồi khác. Mà đường biên giới tự nhiên nó phải đi theo địa hình.”

Lời tuyên bố này cho thấy tính chất phi lý trong lập luận của một viên chức cao cấp của nhà nước:

- Không thế nào chỉ một trăm năm mà một quả đồi có thể … “biến mất” một cách dễ dàng. Một quả đồi có thể bị thay đổi hình dáng do sự khai khẩn, trồng trọt lâu ngày, độ cao thấp xuống một chút, hoặc do việc khai khẩn các mỏ quý mà ngọn đồi bị đào mất đi, hoặc do sự san bằng để xây đường xá. Điều này rất khó xảy ra tại vùng biên giới trong 100 năm qua, vì trong thời gian này làm gì có các máy móc cơ giới tân tiến san núi non hiểm trở thành bình địa như thế.

- Nhưng hiện tượng quả đồi khác “xuất hiện”, thì tuyệt đối không thể xảy ra được, ngoại trừ trường hợp động đất. Nếu không động đất thì phải mất cả ngàn năm mới có được sự biến đổi như thế.

- Đã thế, biên bản mới lại căn cứ vào các ngọn đồi mới mà cắm mốc, như vậy nhà nước không sợ sau 100 năm thì các ngọn đồi ấy lại “biến mất” và lại phải sử dụng các ngọn đồi khác nằm sâu trong nội địa Việt Nam để cắm mốc nữa hay sao?

- Không thể có luật lệ quốc tế nào áp dụng kiểu “đường biên giới tự nhiên nó phải đi theo địa hình”. Lý luận này chứng tỏ không những ông Trưởng Đoàn Phân Định Biên Giới thiếu kiến thức về khoa địa hình, mà còn không đọc kỹ biên bản Hiệp Ước 1999. Điều V (5) của Hiệp Ước 1999 ghi rõ:

“Bất kỳ sự thay đổi nào có thể xảy ra đối với sông suối biên giới đều không làm thay đổi hướng đi của đường biên giới, không ảnh hưởng đến vị trí của đường biên giới Việt – Trung đã được xác định trên thực địa cũng như sự quy thuộc của các cồn, bãi, trừ khi hai bên ký kết có thỏa thuận khác.”

Những người có chút kiến thức về khoa địa hình học (Geography) đều biết rằng bản đồ địa hình (geographic maps) được vẽ bằng hệ thống tọa độ (coordinate system) gồm kinh độ (longitude) và vĩ độ (latitude). Ngày nay, các bản đồ loại này còn được kiến tạo qua hệ thống GPS (Global Positioning System) chụp từ satelites, vẽ ra các đường cao độ (elevation contours) khá chính xác với khoảng cách (interval) 10 mét cho loại bản đồ có tỷ lệ 1:50000.

Biên bản Hiệp Định Pháp-Thanh ký vào năm 1891, sau khi hoàn tất việc cắm mốc biên giới căn cứ theo bản văn HĐ 1887, chỉ diễn tả khái quát về vị trí đối chiếu với đỉnh núi hay địa danh, để giúp người ta dễ dàng tìm ra cột mốc đã đóng, chứ không có mục đích căn cứ vào biên bản mà vẽ bản đồ. Tuy nhiên, biên bản 1891 đã ghi rằng có ba bản đồ đã được các Ủy Viên ký tên và niêm phong:

“Mỗi bản đồ có bốn bản sao, 2 bản sao do các nhà địa hình học Trung Hoa thực hiện, 2 bản sao do các nhà địa hình học Pháp thực hiện. Một bản sao của Trung Hoa đã được Chủ tịch Trung Hoa giao lại cho Chủ tịch Pháp và một bản sao của Pháp đã được Chủ tịch Pháp giao lại cho chủ tịch Trung Hoa. Biên bản được làm bằng tiếng Pháp và tiếng Hoa, mỗi ủy ban sẽ giữ các bản sao bản đồ và biên bản để làm tin” [5].

Các bản đồ đó mới chính là các tài liệu để ấn định đường ranh giới. Khi một cột mốc bị dời đi hay phá hủy, thì bản đồ sẽ được dùng để dựng lại cột mốc mới theo tọa độ ghi trên bản đồ. Như vậy, muốn vẽ đường biên giới trên bản đồ mới thì chỉ cần đi tìm các bản đồ cũ của HĐ Pháp – Thanh lưu trữ trong các thư khố của các nước Trung Quốc và Pháp (và có lẽ tại Hà Nội). Nói một cách khác, các bản đồ địa dư của Việt Nam thực hiện trước năm 1954, chẳng hạn như bản đồ của Nha Địa Dư thời Pháp thuộc để lại cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (kế thừa chế độ Quân Chủ của triều Nguyễn) chắc chắn đã được sao lại hay dựa theo bản đồ biên giới mà Pháp đã ký kết. Nếu theo phương pháp đó, thì việc vẽ lại đường biên giới theo HĐ Pháp Thanh trên các bản đồ hiện đại không còn khó khăn nữa. Và để thực hiện các cột mốc mới, vì các mốc cũ đã bị lính Trung Quốc dời chỗ năm 1979 mất rồi, thì chỉ cần theo tọa độ của các dấu thập trên bản đồ mà mướn các chuyên gia trắc lượng (surveyors) quốc tế đi đánh dấu trên đất liền là xong. Đất đai của quốc gia là vấn đề tối hệ trọng, dù có tốn tiền mướn chuyên gia giỏi để làm việc cho đúng và giá trị lâu dài, thì cũng đáng lắm.

Trong bài phỏng vấn 27-1-2002, ông Lê Công Phụng đã xác nhận đường biên giới căn cứ vào Hiệp Định 1887, nghĩa là ban Phân Định Biên Giới của ông đã có các bản đồ Pháp-Thanh vẽ ra vào năm 1891. Vậy chỉ cần scan và đưa các bản đồ ấy lên internet là đủ rồi, không cần giải thích. Các chuyên gia về địa hình sẽ căn cứ vào các dấu thập trên bản đồ cũ để vẽ lại đường ranh giới trên các bản đồ mới với các dữ kiện về địa hình chi tiết hơn. Đường biên giới sẽ bao gồm các yếu tố sau: (1) tọa độ của các cột mốc, (2) hướng đi (với những con số chính xác độ, phút, giây), và (3) khoảng cách giữa hai cột mốc. Như vậy đường biên giới theo hệ thống lưới tọa độ toàn cầu sẽ hoàn toàn độc lập với địa hình như núi non, sông suối. Dù sau này sông núi có biến đổi thì đường biên giới vẫn còn nguyên, vì nó dựa trên hệ thống lưới tọa độ. Có được các chi tiết này, các toán trắc lượng sẽ dễ dàng đánh dấu trên mặt đất hoặc hai bên bờ nước nếu đường biên giới cắt ngang dòng. Việc đơn giản và khoa học như thế mà tại sao cho đến nay đảng CSVN vẫn triệt để dấu kín các bản đồ mà họ nói là đã có?

3- Lời tuyên bố của bà Phan Thúy Thanh.

Bà Phan Thúy Thanh, phát ngôn nhân bộ Ngoại Giao, trong cuộc tiếp xúc với báo chí vào ngày 6 tháng 2, 2002, đã tuyên bố rằng “việc phân chia biên giới được thực hiện trên nguyên tắc công bằng”. Tuy nhiên, bà Thanh đã không đưa ra một dẫn chứng cụ thể hay tài liệu nào để cho thấy nguyên tắc phân chia biên giới ra sao, có lẽ vì đó không thuộc phần hành của bà. Vì vậy, những lời tuyên bố của bà Thanh không hữu ích gì cả cho công việc đi tìm dữ kiện về biên giới, và không cần sự phân tích.

4- Bản tin trên trang web Quốc Hội CSVN ngày 3-4-02.

Theo bản tin do Quốc Hội chính thức phổ biến, ngày 2 tháng 4 là ngày chót của kỳ họp thứ 11, Quốc Hội khóa 10, có đầy đủ các viên chức lãnh đạo tối cao của đảng và nhà nước CSVN tụ họp để nghe Ngoại Trưởng Nguyễn Dy Niên tường trình về hai Hiệp Ước 1999 và 2000. Căn cứ theo bản tin thì hoàn toàn không có thảo luận gì đối với một vấn đề tối quan trọng của quốc gia và dân tộc, cũng như chẳng có ai được phép chất vấn gì về nội dung của Hiệp Ước 1999. Như vậy, theo tin tức tài liệu ngoại quốc, ngoài Ủy Ban Thường Vụ của Quốc Hội đã phê chuẩn vào ngày 9-6-00, còn toàn thể đại biểu đoàn thì vẫn chưa được biết nội dung. Ngược lại, Nghị Quyết 36/2000/QH10 ngày 9-6-2000 thì ghi là Quốc Hội đã phê chuẩn Hiệp Ước. Một bản văn quan trọng như thế mà dân không được biết, đại biểu Quốc Hội không được phóng bản để nghiên cứu trước khi “biểu quyết”, thì sao gọi là có tính dân chủ được?

5- Hệ thống tuyên truyền trí vận của CSVN tại hải ngoại.

Hiện nay, Hà Nội đang chỉ thị cho hệ thống trí vận hải ngoại của đảng ra sức tuyên truyền về những lợi ích của Hiệp Ước 1999. Điển hình là câu nói hầu như thuộc lòng của những nhà ngoại giao VN, như sau:

“Việc ký hiệp ước biên giới trên đất liền với Trung Quốc đã góp phần tạo môi trường thuận lợi chung quanh Việt Nam, tăng cường sự tin cậy và quan hệ hợp tác toàn diện với Trung Quốc theo khuôn khổ đã được xác định là “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai.”

Mặt khác, họ cũng ra sức tuyên truyền về nguồn gốc của người Việt vốn xuất phát từ Trung Hoa. Điển hình là tờ truyền đơn (hình 4) dán trên vài khu thương mại người Việt tại Toronto, nhân dịp người viết đến thuyết trình về “Nghĩa Vụ Bảo Vệ Bờ Cõi Việt Nam” vào tháng 4, 2002.

Hình 4 – Trích dẫn từ tờ truyền đơn tại Toronto, tháng 4, 2002

Song song với các phản luận chính thức của nhà nước CSVN, người ta thấy một vài nhân vật tại hải ngoại sử dụng “bút hiệu” để viết một số bài với luận cứ hỗ trợ cho luận điệu của nhà nước CSVN. Nhiều người cho rằng các nhân vật đó đã thi hành theo một kế hoạch trí vận của CS tại hải ngoại. Người viết không có đủ phương tiện tìm hiểu xem sự cáo buộc đó chính xác ra sao, hay là các tác giả đó chỉ hành động vô ý thức và vô tình nằm trong quỹ đạo của CSVN. Vì vậy, người viết không thể nêu đích danh hoặc bút hiệu của những tác giả, cũng như tựa đề của các bài viết hỗ trợ cho luận điệu của Hà Nội, mà chỉ xin tóm lược một vài dữ kiện để dư luận phán xét.

Trước hết là một “nhà bình luận thời cuộc”, dùng tên họ người Tàu làm bút hiệu, viết một bài tham khảo với những ngôn từ khá nghiêm túc, đăng trên một website, được lồng trong hình thức “thu thập dữ kiện” mà tác giả cho là “khả tín” với nhiều tài liệu do nhà nước CSVN phổ biến, để dẫn chứng cho luận cứ của mình. Bài báo có những đặc diểm sau đây:

- Nêu nghi vấn về dữ kiện để từ đó lập luận cho rằng các bài viết lên án chế độ CSVN là “thiếu trung thực” và không đáng tin.

- Biện luận để tạo sự tin tưởng đối với các lời tuyên bố của ông Lê Công Phụng nhưng lại tránh né sự phân tích tính cách giấu giếm trong lời nói của ông Phụng mà nhiều người vạch ra.

- Nêu nghi vấn về các con số “trên 700 km2” và cho các dữ kiện của ông Lê Công Phụng có độ chính xác cao hơn.

- Trích dẫn những “đối thoại” giữa những cán bộ CS từng bị nhà nước khai trừ, về sự chính xác của diện tích tranh chấp là 224 km2 giữa Bắc Kinh và Hà Nội.

Nhân vật thứ hai sử dụng nhiều bút hiệu, trong số đó cũng có bút hiệu của người Tàu, và viết nhiều bài báo hơn. Hầu hết các bài viết có đặc tính sau:

- Tác giả cho ông Lê Công Phụng được hưởng đặc quyền khả tín (benefit of the doubt) của một viên chức nhà nước. Theo tác giả này, trong khi chưa có ai đưa ra được bằng cớ chứng minh ông Phụng sai chỗ nào, thì những lời nói của ông Phụng mặc nhiên phải có mức độ chính xác cao.

- Mặt khác, tác giả lại đả phá các bài viết báo động về việc làm của Hà Nội, chỉ vì các bài này chưa có được các tài liệu mà Hà Nội đang cố giấu như hiệp ước, bản đồ, v.v…

- Tác giả trích dẫn phiến diện sử sách xưa để lập luận rằng cả vùng Ải Nam Quan và Cổng Nam Quan luôn luôn là của Trung Quốc chứ chưa hề là của Việt Nam.

- Tác giả dùng mọi biện luận để chứng minh Ải Nam Quan “thuộc Tàu”; điển hình nhất là định nghĩa chữ “Nam Quan” là “cửa nam” và từ đó cho rằng nếu cửa đó là của Việt Nam thì phải gọi nó là “Bắc Quan”!

Điểm khác biệt với tác giả thứ nhất là vị thứ hai còn kèm vào các bài viết của mình những ngôn từ mỉa mai, miệt thị, khinh bạc, đả phá các phong trào ái quốc hải ngoại, đồng thời dẫn dụ dư luận vào các cuộc tranh biện về sự mất còn của Ải và Cổng Nam Quan. Tuy tuyên bố mình “tôn trọng pháp lý và sự thật” nhưng vị này lại nỗ lực lập luận kiểu “cưỡng từ đoạt lý”, và trích dẫn sai lạc tài liệu cũ về Ải Nam Quan mà không đính kèm các bản sao, cho dù đã bị người khác thách thức trên internet.

Trong một thời khoảng nào đó, hai tác giả nói trên đã tạo nên những hoài nghi đối với công cuộc đấu tranh chung của dân tộc. Họ, cũng như bộ phận trí vận của CSVN tại hải ngoại, sẽ ảnh hưởng về lâu về dài như thế nào? Họ có thể dẹp tắt được cuộc tranh đấu không? Viễn ảnh này tùy thuộc vào sự sáng suốt của những nhà tranh đấu trong việc tranh thủ dư luận quốc tế cũng như việc hướng dẫn, thông tin trung thực cho đồng bào trong và ngoài nước.

Rất nhiều người đã lên tiếng phản kháng lại các luận điệu sai lầm của hai kẻ đã viết bài bênh vực cho đảng CSVN. Người viết đặc biệt chú trọng đến hai vị với các tài liệu có mức độ xác tín cao và trùng hợp với những tài liệu mà người viết có được.

Tác giả thứ nhất là GS Nguyễn Phúc Liên, với một bài đăng trên các diễn đàn nghị luận của người Việt, trong đó ông cho biết đã về VN năm 1995, thăm viếng và chụp hình tận nơi. Ông cũng đăng lên một bức hình của Nha Địa Dư VNCH, ấn hành năm 1956, theo bản đồ Việt Nam của thời Quân Chủ để lại. Đáng tiếc là có lẽ vì không rõ, bản đồ này đã bị sửa chữa một chút, khiến các chữ thập nhỏ biểu thị đường biên giới ở Đồng Đăng bị lõm quá sâu vào nội địa Việt Nam. Sự thật, đường biên giới trên bản đồ của Nha Địa Dư cắt ngang Quốc Lộ 1 tại đầu chữ “Ải Nam Quan”. Lúc bấy giờ Hiệp Ước 1999 chưa được ký kết, tuy nhiên, những nơi mà GS Liên đã đến có lẽ không phải là vị trí nguyên thủy của Ải Nam Quan 100 năm về trước. Đó chỉ là biên giới mới, cách biên giới cũ khoảng 6-8 km về phía nam, phản ảnh hậu quả của hai cuộc xâm lấn của Trung Quốc: Lần đầu do Hà Nội đã thỏa thuận với Bắc Kinh trong khoảng thời gian 1956 đến 1960, để đánh đổi vũ khi xâm chiếm miền Nam; lần sau là sự lấn chiếm của Trung Quốc sau khi gỡ mìn từ 1993 – 1995, vì vậy mà cả vùng mang sắc thái mới được khai hoang như các tấm hình của ông cho thấy. Rất tiếc trong số những tấm hình ông chụp được lại không mang hình ảnh nào của lịch sử, như cổng Nam Quan, Mục Nam Quan, hay các bờ đá trên đỉnh núi. Điều này cũng dễ hiểu vì các vị trí lịch sử lúc đó đã thuộc cả về địa phận của Trung Quốc rồi.

Vị thứ hai lấy bút hiệu là T-54, đã viết một bài phân tích dưới hình thức email trên các diễn đàn. Tuy nhiên, sự hiểu biết lịch sử Việt Nam của vị này khá chính xác, chứng tỏ một khả năng sưu tầm tỷ mỷ và một hệ thốnglậpluận khá thuận lý (logical). Những chi tiết mà người viết đồng ý là chính xác nhất là:

- Các vị trí của cửa ải Nam Quan trước và trong thời Pháp thuộc nằm giữa hai rặng núi dài 7 km, phía nam vùng Pingxiang (Bằng Tường). Vùng này chưa xuất hiện trên bản đồ Nha Địa Dư (làm khoảng 1950, in lại năm 1956), nhưng có tên trong bản đồ USGS 1967.

- Vị trí của cổng Hữu Nghị nằm sâu về phía nam, bên ngoài hai rặng núi, gần Đồng Đăng. Làng “Hữu Nghị” trước cuộc chiến 1979 còn thuộc về VN nhưng hiện nay đã thuộc về Trung Quốc.

6- Vụ phản luận thứ hai của ông Lê Công Phụng

Dưới áp lực ngày càng gia tăng của quần chúng, ngày 29-8-02, nhà nước đã đưa lên trang web của Nhật Báo Nhân Dân một bản văn và công bố như là “nguyên văn” bản “Hiệp Ước Về Biên Giới Trên Đất Liền Việt Nam – Trung Quốc”. Rồi tiếp theo, cũng trên trang web đó, lại xuất hiện một bài phỏng vấn ông Lê Công Phụng lần thứ hai, đăng từ ngày 13 đến 15 tháng 9.

Đọc bản văn và bài phỏng vấn, hầu như tất cả các học giả đều không thể đồng ý với những điều ông Phụng đã nói. Nhiều người đã cho rằng nhà nước CSVN vẫn còn tiếp tục che dấu những gì mà đồng bào đều muốn biết: Sự thật ở đâu?

Trước khi phân tích bản văn và bài phỏng vấn, chúng ta hãy ghi nhận tổng quát như sau:

- Bản văn Hiệp Ước 1999 được công bố sau 2 năm 8 tháng kể từ ngày hai bên ký kết. Sự “tiết lộ” chậm trễ này cùng với sự thiếu vắng bản đồ chứng tỏ chế độ đang ra sức che dấu sự thật càng lâu càng tốt.

- Bài phỏng vấn không những chứa toàn là những biện bác, mà còn có những lời lẽ công kích, miệt thị, và lên án những ai đã lên tiếng phản kháng hành động sai trái của chế độ. Cả người phỏng vấn lẫn ông Phụng đều gọi những người phản kháng là “bọn phản động”.

- Ngược với thái độ thù hận đối với những người cùng nòi giống, ông Lê Công Phụng lại không tiếc lời ca ngợi người bạn tốt Trung Quốc, xưng tụng “tình hữu nghị muôn đời bền vững”. Thái độ này chứng tỏ: một là kiến thức của ông Phụng quá kém cỏi nên không biết rằng lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài chống đỡ các cuộc xâm lăng liên miên của “kẻ thù phương bắc”, hai là ông Phụng dư biết sự thật đó nhưng không đủ sức đề kháng mà phải nói theo lệnh của cấp lãnh đạo đảng.

III. Phân tích về biên bản Hiệp Ước 1999 

1- Nhận xét về nội dung của bản văn Hiệp ước 1999

Bản văn ấn định 62 giới điểm trên 1437 cây số đường biên giới giữa hai nước. Mỗi điểm sẽ được đánh dấu vị trí bằng một cột mốc vĩnh viễn (permanent pillar). Cột mốc đầu tiên mang ký hiệu 1369, cao 2.2 m, rộng 50 cm, làm bằng đá hoa cương, được cắm tại đầu cầu Bắc Luân thị xã Móng Cái, đã được khánh thành vào ngày 27-12-01. Theo trưởng ban Biên giới bộ Ngoại Giao CSVN Trần Trung Trực, khoảng 1400 cột mốc sẽ được cắm dọc biên giới.

Trên phương diện kỹ thuật của ngành trắc lượng (surveying) và địa đồ (geographic map), thì việc ấn định đường biên giới trên bản đồ mới dựa trên bản đồ cũ phải theo một tiến trình gồm các giai đoạn sau:

(1) Thực hiện bản đồ mới có đường cao độ (elevation contours), các cao điểm (elevation points of mountain peaks), và hệ thống lưới tọa độ (coordination system) gồm kinh tuyến (longitude) và vĩ tuyến (latitude). Bản đồ mới phải có cùng tỷ lệ với bản đồ cũ. Độ chính xác có thể chấp nhận được là từ 1:50000 hoặc lớn hơn (nghĩa là mẫu số nhỏ hơn, thí dụ 1:10000 chẳng hạn).

(2) Trên một cái bàn kiếng có đèn sáng ở phía dưới, đặt bản đồ mới chồng lên bản đồ cũ, lấy đường ven biển Việt Nam, đảo Hainan, và đường chính các sông lớn để làm chuẩn. Kế tiếp, vẽ đường biên giới cũ lên trên bản đồ mới. Đường biên giới được nối với nhau bằng các đường thẳng nhỏ có các điểm góc (angle points). Các điểm góc này được gọi là “giới điểm”, hay là “điểm biên giới”. Dùng phép toán nội-suy (interpolation) từ các đường cao độ để tính ra cao độ (elevation) của các giới điểm. Từ một giới điểm, dùng thước đo 3 khoảng cách chính xác đến 3 đỉnh núi có cao độ ở gần giới điểm. Như vậy, một cách đảo ngược, giới điểm sẽ được ấn định bởi giao điểm của ba vòng tròn có bán kính là 3 khoảng cách đã đo. Kết quả của giai đoạn này là đường biên giới được vẽ trên bản đồ địa hình mới với đầy đủ lưới tọa độ, các cao điểm và các đường cao độ.

(3) Viết bản văn diễn tả mỗi giới điểm căn cứ trên 3 khoảng cách đã đo và con đường nối các giới điểm với nhau. Vì trên mặt đất, con đường giữa hai giới điểm khá xa nên dĩ nhiên không là đường thẳng và phải qua nhiều điểm góc phụ. Nhằm mục đích dễ nhận diện, bản văn ghi lại các dữ kiện về các điểm góc phụ giữa các giới điểm như dòng sông, sống núi, mũi đá, v.v… hoặc những cao điểm được tính từ phương pháp nội suy kể trên. Đây là biên bản được kèm theo hiệp ước, cùng với bản đồ mới, như là một phần bất khả phân của hiệp ước.

(4) Toán trắc lượng đo đạc (survey team) sẽ chấm tọa độ (coordination) của các giới điểm, rồi vẽ đường thẳng từ giới điểm đến một công sự (monument) có sẵn tọa độ ở gần đó. Đường thẳng này sẽ được tính ra bằng hướng độ và khoảng cách (bearing and distance). Toán trắc lượng sẽ đến tận nơi các công sự đã có sẵn tọa độ, căn cứ vào các đường có hướng độ và khoảng cách để ấn định và xây cột mốc các giới điểm trên đất liền. Rồi từ các giới điểm này đo đạc tiếp để tiến tới giới điểm kế tiếp, và so sánh với tọa độ đã được chấm trên bản đồ để điều chỉnh sự chính xác.

(5) Sau khi hoàn tất các cột mốc thì toán trắc lượng đã có một biên bản chi tiết (detailed record) gồm hệ thống tọa độ với hướng đi, khoảng cách, và cao độ (Coordination system with bearings, distances and elevations). Biên bản này phản ảnh địa hình thực tế của các giới điểm và đường nối các giới điểm trên bản đồ. Biên bản này cùng với bản văn ở giai đoạn 3 và bản đồ ở giai đoạn 2 là những tài liệu bất khả phân của Hiệp Ước.

Hiện nay, việc thực hiện đường biên giới Việt Trung đang ở giai đoạn số 4, nhưng còn lâu mới hoàn tất được giai đoạn này. Bản văn của Hiệp Ước 1999 mà nhà nước CSVN vừa công bố chỉ là kết quả của giai đoạn số 3. Họ lại không kèm theo bản đồ mới và cũ của giai đoạn 2, nên các chuyên gia khó mà biết thực hư giữa hai bản đồ cũ và mới khác nhau thế nào. Cho dù có bản đồ giai đoạn 2, thì hai bên vẫn có thể thông đồng với nhau để đặt cột mốc khác với bản đồ, vì vậy mà biên bản ở giai đoạn 5 cũng cần được xem là một biên bản công cộng (public record) để bất cứ ai cũng có quyền kiểm kê về sau này.

Trở lại Hiệp Ước 1999, khảo sát kỹ bản văn hiệp ước, người ta có thể nhận thấy sự diễn tả mỗi đường biên giới giữa các cột mốc rất mù mờ và mâu thuẩn. Hãy trích dẫn một đoạn:

“Từ giới điểm số 3, đường biên giới rời sông bắt vào sống núi (1), hướng Tây Bắc đến điểm có độ cao 1933, sau đó theo đường phân thủy (2) giữa các nhánh thượng lưu là các suối Là Pơ, Là Si, Á Hu, Nậm sau, …, Nậm Pảng đổ vào lãnh thổ Việt Nam và các nhánh thượng lưu các sông Zhe Dong, Ha Luo luo Ba, …, Jin Thui đổ vào lãnh thổ Trung Quốc, hướng chung Đông Bắc chuyển Đông Nam rồi chuyển Đông Bắc, qua các điểm có độ cao (3) 1690, 1975, 1902,…., 1800 đến điểm có độ cao 1519, sau đó theo sống núi, hướng chung là hướng Đông đến chỏm núi không tên (4), rồi theo sống núi nhỏ, hướng Đông đến giới điểm số 4….”

Sau đây là nhận xét về đoạn trên:

(1) Trên thực tế, không thể có trường hợp sống núi nằm ngay bờ sông.

(2) Không thể có trường hợp một độ cao 1933 rồi nhảy ngay xuống “đường phân thủy giữa các nhánh” của vài chục con suối của cả hai nước. Theo sự diễn tả, cho dù có sự hy hữu như thế, thì đó là một đỉnh núi trơ trọi xuất phát các khe nước nguồn gốc của các nhánh, và thường thì ngọn núi cao như thế phải có tên và chung quanh là bình nguyên cả. Điều này không thể có với rặng núi Hoàng Liên Sơn trùng điệp từ bao đời của đất nước VN.

(3) Các hướng đi Đông Bắc, Đông Nam, rồi Đông Bắc qua vài chục cao điểm trước khi đến giới điểm 4, mà chẳng có khoảng cách gì cả, thì làm sao mà 2 toán Việt và Trung có thể vẽ được một đường biên giới với độ chính xác là chỉ cách biệt nhau có 227 km2 mà thôi?

(4) Chỏm núi không tên và cũng không có cao độ thì làm sao mà kiếm được trên bản đồ hay đất liền? Sự diễn tả đó thật là vô ích khi cho vào bản văn của Hiệp Ước.

Tóm lại một bản văn có thể được dùng để vẽ đường biên giới trên một bản đồ mới nếu: (a) bản văn có ghi hệ thống tọa độ, hướng đi và khoảng cách giữa các giới điểm, (b) sự diễn tả đó là sự thật căn cứ trên bản đồ, và (c) có hiện hữu của các bản đồ ghi các cao độ và tên các địa danh trong bản văn mà hai quốc gia đã dùng. Ngược lại, vì thiếu các chi tiết cần thiết nên đường biên giới Việt Trung không thể được vẽ ra để kiểm chứng thực hư ra sao. Hiện nay nhà nước CSVN vẫn triệt để che dấu các bản đồ, mặc dù bản văn ghi rõ:

“Bộ bản đồ nói trên đính kèm Hiệp-ước này là bộ phận cấu thành không thể tách rời của Hiệp-ước.”

Vậy thì vì lý do gì mà bản đồ bị dấu kín? Rồi đây những bản đồ ấy sẽ được đưa lên internet hay được phát hiện ở đâu đó hay chăng?

2- Sự thật đằng sau hai bài phỏng vấn ông Lê Công Phụng.

Trong bài phỏng vấn, ông Phụng cho biết biên bản dựa theo Hiệp Định Pháp-Thanh 1887. Đó là một tiết lộ lý thú. Sau đây là một số phân tích dựa trên bản văn và lời tuyên bố của ông Phụng cũng như của Trung Quốc:

- Thứ nhất, để buộc Việt Nam thuận theo một hiệp ước mới, Trung Quốc đã bác bỏ HĐ 1887 với lý do rằng nhà Thanh lúc bấy giờ (hậu bán thế kỷ 19) quá yếu nên đã chịu ký hiệp định bất bình đẳng, nhường nhiều đất đai cho Pháp, kẻ nhân danh là “chính phủ bảo hộ” của Việt Nam. Tại sao hiện nay TQ đang ở thế thượng phong đối với VN về mọi mặt, mà lại chịu chấp nhận trở lại HĐ 1887?

- Thứ hai, bao năm trường từ 1954 đến nay, Trung Quốc đã tiến hành các cuộc xâm lấn công khai nước VN cũng như các quốc gia láng giềng, áp dụng những thủ đoạn giành giật lén lút, và theo đuổi các cuộc thương lượng dai dẳng. Tại sao đã tốn bao công lao như thế mà rốt cuộc Bắc Kinh lại chấp nhận được lợi có 1 km2 như ông Lê Công Phụng tuyên bố? Hiển nhiên sự nhượng bộ của CSVN phải lớn hơn 1 km2 ấy rất nhiều mới mong thỏa mãn được tham vọng của Bắc Kinh. Ông Phụng có thể tự lừa dối mình, điều đó chẳng nói làm chi, nhưng với sự dối gạt quốc dân và miệt thị những người quan tâm đến sự tồn vong của đất nước VN bằng thái độ hiềm thù, ông Phụng có xứng đáng là viên chức cao cấp ngành ngoại giao của một quốc gia hay chăng?

- Thứ ba, trong cuộc xâm lấn bờ cõi VN của Trung Quốc qua các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn và Lao Cai vào năm 1979, một số cột mốc đã bị quân lính TQ dời chỗ. Sau 3 tuần lễ chiếm đóng các tỉnh trên, TQ rút về, dọc đường họ đã rải 2 triệu quả mìn trên hàng ngàn km2 dọc theo biên giới phía bên VN. Các bãi mìn đã ngăn chặn sự truy kích của quân đội chính quy CSVN được điều động từ chiến trường Campuchia về đồng thời sau này ngăn chặn cuộc hồi hương của thổ dân bản xứ về lại đất đai của họ. Năm 1993, sau khi VN hứa chịu thần phục “Bắc Triều”, TQ bắt đầu gỡ mìn đồng thời lại cung cấp ngay đất ấy cho dân TQ vô gia cư đến lập nghiệp nơi đất mới. Điều này đã được gián tiếp xác nhận bởi chính ông Lê Công Phụng khi ông cho biết “một số mốc bị xê dịch”, “thường xuyên xảy ra tranh chấp trên toàn tuyến biên giới”, và “một số khu vực dân Trung Quốc cư trú quá đường biên giới, ở một số khu vực khác dân ta cư trú quá đường biên giới thì hai bên nhất trí duy trì cuộc sống ổn định của dân cư.” Đọc câu sau cùng, ta có thể loại bỏ chuyện phi lý là “dân ta cư trú quá đường biên giới”, vì không có tin tức nào cho thấy VN xâm lấn biên thùy TQ, và dân nước yếu không thể làm điều này đối với nước mạnh hơn; như vậy, đủ thấy CSVN đã nhượng bộ để yên cho dân TQ chiếm đóng lãnh thổ VN hàng trăm km2, trước khi có đàm phán để xin lại một phần lãnh thổ đã bị cưỡng chiếm.

- Thứ tư, hãy đọc lời tuyên bố của ông Phụng như sau:

“Ngay từ những năm 50 của thế kỷ trước, ta và Trung Quốc đã nhận thức rõ yêu cầu khách quan của việc chuẩn xác lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước. Từ giữa những năm 70, hai bên cũng đã tiến hành đàm phán về vấn đề biên giới, lãnh thổ, song chưa đi tới thỏa thuận.” [6].

Căn cứ vào lời tuyên bố đó, cùng đối chiếu với các dữ kiện khác sẽ đề cập đến sau, thì ta có thể phỏng lượng là: Một phần lớn Ải Nam Quan đã mất vào cuối thập niên 1950, cùng lúc với văn thư sang nhượng Biển Đông của ông Phạm Văn Đồng, để từ đó Mao Trạch Đông cho xây cất tòa nhà mới Mục Nam Quan trong nội địa Việt Nam, với thỏa thuận ngầm giữa hai bên. Phần còn lại từ Mục Nam Quan đến biên giới mới hiện nay trên lưu vực sông Kỳ Cũng có lẽ đã được nhượng bộ vào giữa thập niên 70 như là một hành động trả nợ chiến tranh. Bởi vì nếu hai bên tranh nhau từng cây số vuông như ông Phụng kể, thì không thể có chuyện TQ viện trợ hàng tỷ cơ giới súng đạn cho VN, cả thế giới đều biết, mà không hề có tài liệu nào cho thấy VN đã trả món nợ ấy. Đã thế, sau khi Hiệp Ước 1999 được ký kết, lập tức có tin Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam 300 triệu Mỹ Kim để xây cất các dự án thủy điện lực trên các cao nguyên bắc phần, và sau khi Hiệp Ước 2000 về vịnh Bắc Việt được ký kết, lại có tin Trung Quốc viện trợ thêm 200 triệu nữa.

- Thứ năm, sau khi đã được nhượng bộ hàng trăm km2 từ giữa hai thập niên 50 và 70, bao gồm cả Ải Nam Quan, thác Bản Giốc, TQ vẫn còn đòi thêm đất đai VN với một dụng ý thâm độc khác nữa mà nhà nước CSVN cho đến nay vẫn không biết, hay biết mà đành chịu trận. Sự đòi hỏi này đã gây ra cuộc tranh chấp kéo dài từ năm 1993 đến 1999 mới tạm giải quyết xong. Chúng ta sẽ thấy sự thật được hé lộ trong phần nhận xét thứ tám, và sẽ kiểm chứng sự thật này khi toàn bộ bản đồ mới được phổ biến.

- Thứ sáu, qua việc đối chiếu các bản đồ Việt Nam từ trước đến nay như bản đồ Nha Địa Dư VNCH, bản đồ 1964, bản đồ sau năm 1975, bản đồ 1999, và bản đồ 2002, người viết không thể chấp nhận lời tuyên bố của ông Lê Công Phụng về việc phái đoàn Phân Định Biên Giới của ông chỉ nhượng bộ cho Trung Quốc 114 km2 chứ đừng nói là 1 km2! Chỉ nói riêng về hai vùng ải Nam Quan tỉnh Lạng Sơn và thác Bản Giốc tỉnh Cao Bằng thôi thì cũng thấy các con số thỏa nhượng đó quá thấp.

Căn cứ vào các bản đồ trước và sau 1964, đường biên giới tại vùng ải Nam Quan bị lùi về phía nam khoảng 5 km. Sau đó lại đối chiếu với bản đồ sau năm 1975, trước cuộc xâm lấn của TQ năm 1979, thì thấy biên giới lùi thêm về phía nam 3 km nữa đến gần ngoại ô thị trấn Đồng Đăng, tổng cộng là 8 km. Với một đường dài dọc biên giới là 22 km, VN đã mất khoảng 176 km2 trước khi hiệp ước được ký kết. Nguyên ủy của sự mất mát này sẽ được trình bày cặn kẽ hơn trong phần nghiên cứu về Ải Nam Quan ở cuối bài.

Vị trí của thác Bản Giốc vốn nằm sâu trong địa phận Việt Nam, cách biên giới nguyên thủy khoảng 3.5 km theo bản đồ 1950 của Nha Địa Dư. Chính nhà nước Miền Bắc Việt Nam trong thời đất nước còn chia đôi, đã từng phát hành tem thư thác Bản Giốc để tán dương một thắng cảnh của đất Việt (hình 5). Sách “Nước Tôi Dân Tôi” cũng đề cập đến thác Bản Giốc là một phần của tỉnh Cao Bằng, cách quận Trùng Khánh 23 km [7]. Ngoài ra, tài liệu du lịch của VN cũng quảng cáo Thác Bản Giốc là trung tâm du lịch của Việt Nam, có thể được tìm thấy trên web site với dòng quảng cáo như sau:

http://goasia.about.com/gi/dynamic/offsite.htm?site=http://home.vnn.vn/english/map/
“Ban Gioc Fall: Travelling 20 km from the district town of Trung Khanh you arrive at Dam Thuy commune. From a distance you can hear the number of water falling and see mist shrouding part of mountain and Qui Son river near by the Vietnamese-Chinese border. This is the Ban Gioc fall some 30m high. At the foot of Ban Gioc is a large river of smooth, clear water. On the banks of the river are lust green pastures dotted by wild flowers. Ban Gioc looks best during the rainy season from June to October. Inside the fall live well known delicious fish called tram huong.”

Hình 5 – Tem thác Bản Giốc của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa

“Near by the Vietnamese-Chinese border” nghĩa là nằm gần biên giới Việt Trung, không thể nào “ở giữa biên giới” được! Thế mà theo sự xác nhận của ông Lê Công Phụng, thì biên giới mới nằm chính giữa dòng thác mặc dù cột mốc thì nằm phía nam dòng thác. Nghĩa là ông Phụng đã có công đòi lại được một nửa thác Bản Giốc! Sự thật, căn cứ trên sự biến đổi đường dài khoảng 16km, thì phần đất đã bị mất là 56 km2. Nguyên nhân là do lính TQ đã dời cột mốc từ biên giới cũ mang xuống để ở mé bờ phía Việt Nam rồi khi triệt thoái đã rải mìn ở nam ngạn sông Quý Sơn, khiến cho người Việt không thể về lại quê quán cũ. Năm 1993, sau khi gỡ mìn thì TQ nhất định dành chiếm độc quyền cả Thác Bản Giốc, nhưng cuối cùng trước sự đòi hỏi của thổ dân về chủ quyền của VN trước chiến tranh 1979, Bắc Kinh đành tạm thời chịu nhượng bộ phần nào, chỉ lấy một nửa thác để khai thác chung cùng với phần đất phía bắc mà thôi. Hiện nay, hình ảnh của thác Bản Giốc đã bắt đầu xuất hiện trong các băng video và các bức tranh thắng cảnh của Tàu.

- Thứ bảy, bao nhiêu đất đai VN đã bị mất vào tay Trung Quốc trước và sau Hiệp Ước 1999? Tổng cộng lại, trong khoảng đường biên giới dài gần 100 km từ Nam Quan đến Bản Giốc, ít nhất có 232 km2 đã bị dâng nhượng cho TQ trước khi có hiệp ước 1999. Đó là chưa kể sự mất mát nằm trong các vùng bị TQ rải mìn thuộc vùng Lao Cay, lưu vực Sông Hồng Hà và vùng Lai Châu ba biên giới Việt-Trung-Lào, dẫn xuống vùng Điện Biên Phủ dọc biên giới Lào. Nếu tính đường biên giới gần 1500 km mà ông Phụng cho biết là “thường xuyên xảy ra tranh chấp trên toàn tuyến biên giới”, thì chắc chắn nhà nước CSVN đã nhượng cho TQ nhiều hơn 720 km2, chứ đừng nói là 114km2, hay phi lý hơn, chỉ1km2 mà thôi. Con số 720 km2 là do một đại biểu nào đó trong Quốc Hội đã lén tiết lộ cho các ông Đỗ Việt Sơn và Lê Chí Quang, để họ lên tiếng báo động với toàn dân trong và ngoài nước vào năm 2001. Cho đến bây giờ, hầu như người ta lãng quên vị đại biểu Quốc Hội đã tiết lộ các dữ kiện này. Nhân vật bí ẩn này là ai?

- Thứ tám, vì hiện nay chưa phối kiểm được mức độ khả tín và chính xác của bản đồ năm 2002 mà người Viết mới nhận được, người viết quyết định tạm thời chưa phổ biến xuất xứ của bản đồ và toàn bộ bản đồ mới. Riêng bản đồ liên hệ đến ải Nam Quan thì sẽ được trình bày ở phần sau cùng của bài này, với một dè dặt cần thiết. Tuy nhiên, cho dù chưa có bản đồ mới để đối chiếu với bản đồ cũ, người ta vẫn có thể thấy hai sự kiện sau đây:

(a) Căn cứ trên các bản đồ địa lý cũ có các đường vòng cao độ, hầu hết núi non Bắc Phần đều có đỉnh núi nằm trong nội địa Việt Nam dọc theo các tỉnh biên giới. Về phía đông bắc sông Hồng sang đến Móng Cái, các rặng núi nằm theo hình cánh quạt, trung tâm là ngọn Tam Đảo thuộc phía bắc tỉnh Vĩnh Yên. Các dòng suối giữa hai núi chạy hướng bắc xuống nam. Phía tây Nam sông Hồng đến biên giới Lào Việt là rặng Hoàng Liên Sơn cao ngất trùng điệp chạy theo hướng tây bắc – đông nam. Thế nhưng “biên bản” Hiệp Ước 1999 lại diễn tả rằng đường biên giới mới chạy theo “sống núi” hoặc theo giữa dòng. Như vậy thì chúng ta có thể ước lượng được một cách tổng quát là Việt Nam đã mất khá nhiều phần núi ở phía bắc, nhất là vùng phía Tây Bắc Việt Nam vùng Hoàng Liên Sơn và vùng châu thổ sông Hồng Hà.

(b) Theo biên giới cũ, đất Việt Nam gồm cả một số sông suối chảy về hướng đông bắc rồi qua địa phận Trung Quốc và đổ vào lưu vực sông Bằng Giang ở Long Châu, chứ không chỉ là các sông suối chẩy về hướng đông nam vào lưu vực sông Hồng Hà. Thế nhưng theo sự diễn tả các đường biên giới dựa theo sống núi và giữa dòng sông, thì hầu hết, nếu không nói là tất cả, các vùng thượng lưu và nguồn sông suối chảy về phía bắc đã thuộc về sự kiểm soát của Trung Quốc.

Hai sự kiện nêu ra là dấu hiệu của một âm mưu cực kỳ thâm độc của Trung Quốc liên hệ đến an ninh cả toàn vùng bán đảo Đông Dương. Người viết sẽ trở lại vấn nạn này trong một dịp khác khi thu thập đủ tài liệu cần thiết.

 

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: