TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa I
Chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa-Trường Sa qua tài liệu phương tây

Thái Văn Kiểm

Những sử liệu tây phương minh chứng chủ quyền của Việt Nam
tại quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa từ thời Pháp thuộc
Thái Văn Kiểm

I – MINH CHỨNG CỦA NGƯỜI NGOẠI QUỐC

Ngoài những tài-liệu sử địa của Việt-Nam, chúng ta còn có thể dẫn chứng nhiều tài-liệu khác của người ngoại quốc, xác nhận chủ quyền của ta trên quần-đảo Hoàng Sa, chẳng hạn như :

1.Tài-liệu của người Hòa-Lan

Căn cứ vào ký sự Batavia (Journal de Batavia) của Công ty Hòa-Lan Đông Ấn (Compagnie hollandaise des Indes orientales), ấn hành trong những năm 1631-1634-1636, chúng ta được biết một sự kiện lịch-sử liên-hệ tới quần-đảo Hoàng Sa và Xứ Đàng Trong như sau:

Ngày 20-7-1634, dưới thời Chúa Sãi Nguyễn-Phước-Nguyên (1613-1635), ba chiếc tàu Hòa-Lan tên Veenhuizen, Schagen và Grootebroek, từ Batavia (Nam-Dương) đến Touron cùng nhổ neo đi Formose (Đài-Loan).

Ngày 21 thì gặp bão ngoài khơi, nên lạc nhau. Chiếc tàu Veehuizen tới Formose ngày 2 tháng 8, chiếc Schagen ngày 10 cùng tháng. Riêng chiếc Grootebroek bị đắm gần quần đảo Pracels, ngang với bắc vĩ tuyến 17. Trong số hàng hóa trị giá 153.690 florins, thủy-thủ chỉ cứu được một số trị giá 82.995 florins, kỳ dư bị chìm đắm kể cả chiếc tàu và 9 người bị mất tích.

Số hàng hóa cứu được, họ cất dấu nơi an toàn tại đảo Pracels. Thuyền-trưởng Huijch Jansen và 12 thủy-thủ đi bằng thuyền nhỏ vào duyên hải xứ Đàng Trong. Họ hy vọng sẽ tìm được một thuyền lớn để ra cứu 50 thủy-thủ còn ở lại trên đảo. Thuyền-trưởng đem theo 5 thùng bạc và 3.570 réaux đựng trong 17 bao. Khi họ vào tới đất liền, họ không được đối đãi như ý muốn. Tất cả bạc và tiền bị tịch thâu bởi viên-chức đặc trách hải môn và thương thuyền, mà người Hòa-Lan gọi là Ongangmij.

Sau đó, họ được phép trở lại Pracels trên một chiếc tàu Nhật-Bản tên Kiko, mà họ mua đứt, để đón 50 thủy-thủ còn nơi đảo và lấy 4 thùng bạc còn lại. Tất cả đều được 3 chiếc tầu khác tên là Bommel, Goa và Zeebung (cũng bị bão mà vào núp miền duyên hải xứ Đàng Trong) chở về Batavia. Tại đây viên thuyền-trưởng Jansen làm báo trình về việc thuyền Grootebroek bị đắm tại Pracels và sự tịch thâu 23.580 réaux bởi nhà chức trách xứ Đàng Trong.

Hai năm sau, dưới thời Chúa Thượng Nguyễn-Phước-Lan (1635-1648), ngày 6 tháng 3 năm 1636, hai chiếc tầu Hòa-Lan khác tới Touron. Thương gia Abraham Duijeker tiến về Faifo để gặp quan Trấn-thủ; sau đó ông ta đi Thuận-hóa (Senoa) yết kiến Chúa Thượng, để xin giao thương, đặt thương điếm và đòi số tiền 23.580 réaux đã bị tịch thâu năm kia.

Chúa Thượng Vương tiếp đón Duijeker rất trọng hậu; nhưng Ngài truyền rằng : “Những việc khiếu nại đó đã xảy ra dưới thời Vua cha, nay Chúa không hề hay biết; vả lại viên chức thuế-quan Ongangmij (?) đã bị cách chức, tịch thu gia sản (vì tội đã ăn hối lộ tới 340.000 lượng bạc trong thời kỳ tại chức), đã bị xử trảm và phanh thây rồi”. Chúa Thượng xét rằng Ngài đã xử sự công minh lắm; nay chớ nhắc lại làm chi. Ngài cũng cam đoan từ nay pháp luật rất nghiêm minh và sẽ không bao giờ xảy ra những việc đáng tiếc như vậy nữa.

Để bù vào sự thiệt thòi đó, Chúa Thượng chấp thuận cho người Hòa-Lan được tự do giao thương với xứ Đàng Trong, và miễn cho họ sắc thuế neo bến và các tặng phẩm, (Il accordait aux Hollandais le droit de libre échange dans le pays, les exemptait pour l’avenir des droits d’ancrage et des présents usuels).

Vì lẽ đó mà từ năm 1636, một thương điếm (comptoir commercial) của người Hòa-Lan đã được thiết lập tại Hội-an (Faifo) do Abraham Duijeker làm Trưởng điếm.
(Trích trong biên-khảo “La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine” của W.J.M. Buch, đăng trong Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient, tome XXXVI, année 1936, trang 134.)

2. Jean Baptiste Chaigneau (1769-1825) đã viết trong quyển Mémoire sur la Cochinchine như sau :

Topographie: Division physique- La Cochinchine don’t le souverain porte aujourd’hui le titre d’Empereur, comprend la Cochinchine proprement dite, le Tonquin…, quelques iles habitées peu éloignées de la côte et l’archipel de Paracels, composé d’ilôts, d’écueils et de rochers inhabités. C’est seulement en 1816, que l’Empereur actuel a pris possession de cet archipel”. (Le Mémoire sur la Cochinchine de Jean Baptiste Chaigneau, publié et annoté par A. Salles, Inspecteur des Colonies en retraite, in Bulletin des Amis du Vieux Hue, No 2, Avrit-Juin 1923).

[Có nghĩa là:
Địa thế: Xứ Cochinchine, mà Quốc-Vương ngày nay đã xưng đế-hiệu, gồm có xứ Đàng Trong, Bắc Hà (Tonquin)… vài đảo gần bờ biển, có dân cư, và quần đảo Paracels, gồm có nhiều đảo và mỏm đá thiếu dân. Vào năm 1816 vị Hoàng-đế đương kim đã tiếp nhận quần đảo này.]

3. Đức Giám-mục Taberd đã viết trong quyển Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, moeurs et coutumes, xuất bản năm 1833, những dòng sau đây:

“Nous n’entrerons pas dans l’énumération des principales iles dépendantes de la Cochinchine; nous ferons seulement observer que depuis plus de 34 ans l’archipel des Paracels nommé par les Annamites Cát Vàng ou Hoàng Sa (sable jaune) véritable labryrinthe de petits ilôts de rocs et de bancs de sable justement redoutés des navigateurs a été occupé pas les Cochinchinois.

“Nous ignorons s’ils y ont fondé un établissement, mais il est certain que l’empereur Gia Long a tenu à ajouter ce singulier fleuron à sa couronne, car il jugea à propos d’en aller prendre possession en personne, et ce fut en l’année 1816 qu’il y arbore solennellement le drapeau cochinchinois”.

[Tạm dịch như sau :

“Chúng tôi không đi vào việc kê khai những hòn đảo chính yếu của xứ Cochinchine. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng từ hơn 34 năm nay, quần đảo Paracels – mà người Việt gọi là Cát Vàng (Hoàng Sa), gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát, làm cho những kẻ đi biển rất e ngại – đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong.

“Chúng tôi không rõ họ có thiết lập một cơ sở nào tại đó không; nhưng có điều chúng tôi biết chắc là Hoàng-đế Gia-Long đã chủ tâm thêm cái đóa hoa kỳ lạ đó vào vương miện của Ngài, vì vậy mà Ngài xét thấy đúng lúc phải thân chinh vượt biển để tiếp thâu quần-đảo Hoàng Sa, và chính là vào năm 1816, mà Ngài đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong”.]

Những tài-liệu quốc-sử và ngoại sử trên kia chứng minh một cách hùng hồn và bất khả kháng chủ quyền của Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

4. Hoàng Sa và Trường Sa tại Hội-nghị San Francisco.

Theo Hiệp-ước đình-chiến ký kết tại San Francisco, vào tháng 9 năm 1951, khoản 2, nước Nhật-Bản phải rút lui khỏi các nơi mà họ đã dùng vũ-lực để chiếm đóng trong thời đệ nhị thế-chiến, lẽ tất nhiên là trong đó có hai quần-đảo Paracels và Spratley.

Tại Hội-nghị San Francesco, ngày 7-9-1951, Thủ-Tướng Chính-Phủ, Trưởng Phái-đoàn Việt-Nam, đã long trọng tuyên bố trước 51 phái-đoàn ngoại-bang như sau :

“Et comme il faut franchement profiter de toutes occasion pour étouffer les germes de discorde, nous afirmons nos droits sur les iles Spratley et Paracels qui, de tout temps, ont fait partie du Viet-Nam”.

[Xin tạm dịch là: “Và vì chưng phải lợi dụng tất cả mọi trường hợp để chặn đứng những mầm xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần-đảo Trường Sa và Hoàng Sa, đã luôn luôn từ xưa thuộc lãnh-thổ Việt-Nam”.]

Lời tuyên bố đó đã được Hội-nghị San Francisco long trọng ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái-đoàn phó hội, không có một phái-đoàn nào phản đối gì cả.

II – HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA QUA THỜI PHÁP THUỘC ĐẾN NAY

1. Danh từ Paracels xuất hiện từ bao giờ.

Danh từ Pracels xuất hiện lần đầu tiên trên một bản đồ Bán đảo Đông-Dương (Carte de la Peninsule Indochinoise) do Frères Van Langren, người Hòa-Lan, ấn hành năm 1595.

Bản đồ này phác họa nhờ những tài liệu của người Bồ Đào Nha, nối gót nhà hàng hải Vasco de Gama, đã tiên phong đông du tìm kiếm xứ Ấn-Độ bằng đường biển (route maritime des Indes) bằng cách đi vòng mũi Hảo Vọng (Cape de Bonne Espérance) năm 1497. Nhiều tàu thủy Bồ Đào Nha đã tới Malacca từ năm 1509, Xiêm-La từ năm 1511, vào năm 1516 thì Fernando Perez d’Andrade đến cửa biển sông Mekong.

Theo giáo-sư Pierre Yves Manguin, danh từ Ilhas do Parcel (Pracel) do người Bồ Đào Nha đặt ra. Trong từ ngữ của họ, danh từ Parcel có nghĩa là “đá ngầm” (récif), cao tảng (haut-fond). (xem biên-khảo “Les Portuguais sur les côtes du Vietnam et du Campa”) đăng trong Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extrême Orient,année 1972, page 74).

Nhưng theo giáo-sư A. Brébion, Paracels do tên một chiếc tàu của Công-ty Hòa-Lan Đông Ấn, tên Paracelsse, bị chìm đắm tại quần đảo này hồi thế kỷ XVI. (Xem Dictionnaire de bio-bibliographie générale, ancienne et moderne, de l’Indochine Francaise,1935, Société d’Editions Géographiques, maritimes et Coloniales, 17 Rue Jacob, Paris VIè).

Riêng về danh từ Trường-Sa, chúng ta đã thấy trong Hồng Đức Bản Đồ phác họa từ đời Lê-Thánh-Tông (1470-1498), vào ngày mồng 6 tháng 4 năm Hồng Đức 21 (25 avril 1490); bản đồ có ghi nơi đất liền “Trường Sa nhất nhật trình”, tất nhiên đây không phải là quần-đảo, mà là bờ biển chạy dài từ cửa Nhật Lệ (Quảng-Bình) cho tới Phá Tam Giang (Thừa-Thiên) qua các cửa Tùng Luật và Việt Yên (Quảng-Trị). Bờ biển đầy cát trắng mênh mông, phải đi mất một ngày đường (nhất nhật trình). Trong bộ Đại Nam Nhất Thống Chí, những quyển nói về Quảng-Bình, Quảng-Trị và Thừa-Thiên đều có nói về dãy Trường Sa này, cũng có tên là Động Trường Sa, Động Bạch Sa (xưa gọi là Đại Trường Sa). Sách Ô Châu Cận Lục của Dương-Văn-An (1555) cũng có nhắc tới Trường Sa đã chỉ định dải cát trắng dài dằng dặc chạy suốt duyên hải Bình Trị Thiên.

2. Hoàng Sa dưới thời Pháp.

Dưới thời Pháp, quần đảo Paracels luôn luôn được nhà cầm quyền lưu ý tới. Từ năm 1920, Nha Thương-chánh (Douanes) đã tổ chức những cuộc tuần-du chung quanh đảo Hoàng Sa, để ngăn ngừa buôn lậu. Năm 1925, Hải-học-viện Nha-Trang có gửi một phái-đoàn bác-học, đi trên tầu De Lanessan, ra Hoàng Sa để nghiên cứu tường tận tại chỗ. Phái-đoàn nhận thấy quần-đảo này chứa đựng rất nhiều phốt-phát. Phái-đoàn cũng khảo sát nhiều bằng chứng rằng quần đảo Paracels nằm trên một cao-nguyên chìm dưới biển và dính liền với lục-địa Việt-Nam.

Nhiều công-ty Nhật-Bản đã xin phép chính quyền Pháp tại Đông-Dương, để khai thác phốt-phát và họ đã xây một con đê bằng đá phốt-phát (jetée en blocs de phosphate) và một chiếc cầu sắt dài 300 thước nơi đảo Robert, để tiện việc chuyên chở phốt-phát lên tàu thủy.

Vì có sự giao thiệp với ngoại nhân nơi đảo này, nên chi nhà cầm quyền hồi đó đã ký một nghị-định ngày 15 juin 1932, thiết lập quần-đảo Hoàng Sa thành một đại-lý hành-chánh (délégation administrative), gọi là Délégation administrative des Paracels, sáp nhập với tỉnh Thừa-Thiên. Đến năm 1939, mới chia làm hai, lấy tên là “Délégation du Croissant et dépendances” và “Délégation de l’Amphitrite et dépendances”.

Cũng vào năm đó, khi trận đệ nhị thế-chiến bùng nổ, quân-đội Thiên-Hoàng Nhật-Bản ngang nhiên chiếm đóng quần-đảo, lập tại đây một căn-cứ quân-sự, cho đến khi họ đầu hàng Đồng-Minh.

3. Trường Sa dưới thời Pháp thuộc.

Người Trung-Hoa gọi quần-đảo này là Nam Sa (Nansha), đại khái chỉ định một cách mập mờ tất cả những hòn đảo rải rác phía dưới quần-đảo Hoàng Sa.

Năm 1927, chiếc tàu De Lanessan đã tới tận nơi để khảo sát, sau khi đã khảo sát tại Paracels. Sau đó, năm 1930, chính quyền Pháp tại Đông-Dương đã chính thức cử một phái-đoàn ra cắm cờ tại quần-đảo Spratley. Phái-đoàn đi trên chiếc tàu “La Malicieuse”. Đến năm 1933, họ lại cử ba chiếc tàu khác là : Alerte, Astrobale và De Lanessan, ra tận nơi để cắm cờ trên những hòn đảo khác, rải rác chung quanh đảo chính Spratley.

Công việc thâu nhận từng hòn đảo bắt đầu từ ngày 13 tháng 4 năm 1930, với
đảo Spratley; tiếp theo là đảo Caye d’amboine thâu nhận ngày 7-4-1933, đảo Itu Aba thâu nhận ngày 14-4-1933, nhóm Hai Đảo (Groupe des deux iles) thâu nhận ngày 10-4-1933; đảo Loaita thâu nhận ngày 11-4-1933; đảo Thi Tu thâu nhận ngày 12-4-1933.

Công việc thâu nhận (prise de possession) này bao gồm tất cả những hòn đảo con con rải rác chung quanh những hòn đảo chính đã kể trên kia. Một bản thông cáo chính thức đã được đăng tải trong Công-báo Đông-Dương (Journal Officiel de l’Indochine) ngày 25 septembre 1933, trang 7784.

Quần-đảo Trường Sa đã được sáp nhập vào tỉnh Bà-Rịa (Nam-Việt) do nghị định của Toàn Quyền Đông-Dương, ký ngày 21 juillet 1933.

Chúng ta cũng nên ghi thêm rằng từ năm 1920, có nhiều công-ty Nhật-Bản đến đây khai thác phốt-phát. Thỉnh thoảng cũng có một số ngư phủ Trung-Hoa chèo ghe từ Hải-Nam, Quảng Đông tới đây để đánh cá, làm ăn trong mấy tháng rồi trở về quê quán.

Sau hết, chúng ta cũng nên ghi rằng năm 1938, Nha Khí-tượng Đông-Dương (Service Météorologique de l’Indochine) có thiết lập tại đảo Itu Aba, một cơ sở khí tượng bao trùm tất cả miền duyên hải Đông-Dương.

Trước ngày khai chiến, chính phủ Nhật-Bản đã tuyên bố ngày 30 mars 1939 rằng quần-đảo Spratley từ nay sẽ đặt dưới quyền kiểm-soát của Nhật-Bản. Viên Đại-sứ Pháp tại Đông-Kinh liền gửi thư phản kháng ngày 21 Avril 1939, và tuyên bố phủ nhận quyết-định đơn phương của chính phủ Thiên-Hoàng. Rồi chúng ta phải đợi tới ngày đình chiến, để chứng kiến việc quân-đội Nhật rút khỏi Trường Sa, cũng như do Hiệp-ước đình chiến San Francisco, chính-phủ Nhật-Bản đã long trọng từ bỏ chủ quyền của họ trên hải đảo Paracels và Spratley (1951).

Sau đó, chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đã nhiều lần xác nhận long trọng chủ-quyền của mình trên hai quần-đảo nói trên.

4. Công cuộc thực hiện chủ quyền của Việt-Nam trong thời cận đại.

a) Thời tiền chiến.

Các công tác thực hiện chủ quyền của Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa gồm có:

– Năm 1920, Quan-thuế Pháp gửi quan-thuyền đến tuần tiểu thường xuyên quần đảo Hoàng Sa.

– Từ năm 1926 đến 1933, chính phủ Pháp đã cử chiến-hạm và phái-đoàn thám sát hai quần-đảo này.

– Từ 1931 đến 1939, Pháp gửi binh-sĩ tới trú đóng tại Hoàng Sa. Năm 1947, Pháp thiết lập đài vô tuyến tại đảo Pattle để bảo đảm an-ninh thủy-vận cho vùng Nam Hải.

Về phương diện hành-chánh, trong thời kỳ đó nhà cầm quyền Pháp và Việt đã có những quyết-định như sau :

– Nghị-định số 156-SC ngày 15-6-1932 của Toàn Quyền Đông-Dương đặt quần-đảo Hoàng Sa thành đơn-vị hành-chánh sáp nhập với tỉnh Thừa-Thiên.

– Thông cáo của Bộ Ngoại-Giao Pháp về việc chiếm cứ quần-đảo Trường Sa đăng trong Công-báo của chính-phủ Pháp số 173 ngày 26-7-1933 trang 7839.

– Nghị-định số 4762 ngày 21-12-1933 của Thống-đốc Nam-Kỳ sáp nhập quần-đảo Trường Sa vào tỉnh Bà-Rịa.

– Dụ số 10 ngày 30-3-1933 năm Bảo Đại thứ 13 đặt quần đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Thừa-Thiên.

– Nghị-định số 3282 ngày 5-5-1939 của Toàn Quyền Đông Dương sửa đổi nghị-định trên và chia địa hạt trên ra làm hai nhóm : Nhóm Nguyệt Thiềm (Délégation du Croissant et dépendances) và Nhóm Tuyên Đức (Délégation de l’Amphitrite et dépendances). Trụ sở của hai vị đại-diện Pháp được đặt tại đảo San Hồ (Pattle) và đảo Phú-Lâm (Ile boisée).

b) Thời Cộng-Hòa

Dưới thời đệ nhất (1956-1963) và đệ nhị Cộng-Hòa (từ 1964…), chính phủ Việt-Nam Cộng-Hòa đã có nhiều công tác và quyết-định hành-chánh liên hệ tới Hoàng-Sa và Trường-Sa :

– Từ 1956, Hải-quân VNCH thường xuyên thám sát quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

– Từ đó một trung-đội Địa-Phương-Quân tỉnh Quảng_Nam, gồm 40 người, do 1 sĩ-quan cấp úy chỉ-huy trú đóng tại đảo Hoàng Sa.

Các văn kiện hành-chánh căn bản gồm có :

– Sắc-Lệnh số 143/NV ngày 22-10-1956, Nghị-định số 76/BNV/HC/ND ngày 20-3-1958 và Sắc-Lệnh số 34/NV ngày 29-1-1959 sáp nhập quần-đảo Trường Sa vào tỉnh Phước-Tuy (Bà-Rịa).

– Sắc-lệnh số 174/NV ngày 13-7-1961 của Tổng-Thống VNCH đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng-Nam (thay vì thuộc tỉnh Thừa-Thiên) và thành lập quần-đảo này thành xã Định-Hải, thuộc quận Hòa-Vang.

– Do Sắc-lệnh số 709/BNV/HC ngày 21-10-1969 của Thủ-Tướng Chính-phủ VNCH, xã Định-Hải được sát nhập làm một với xã Hòa-Long, cùng thuộc quận Hòa-Vang, tỉnh Quảng-Nam.

KẾT LUẬN

Căn cứ vào các dữ kiện lịch-sử và hành-chánh thượng dẫn, ta có thể khẳng định chủ-quyền bất khả xâm của Việt-Nam Cộng-Hòa trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trong cả bốn phương-diện: lịch-sử, địa-lý, pháp-lý và thực-tế.

Các Chúa và Vua nhà Nguyễn đã thiết lập với các hải đảo những liên lạc thường xuyên có tính cách hành-chánh, quân-sự và quan-thuế, chưa kể việc xây dựng quân trại, miếu vũ, mộ bia, v.v… đã trở thành những di-tích lịch-sử.

Nhìn lại quá trình lịch-sử chúng ta thấy một số sự kiện lịch-sử và địa-lý quan trọng đáng ghi nhớ là:

– Năm 1634, một chiếc tàu Hòa-Lan đã bị chìm đắm tại Hoàng-Sa (Paracels), viên Thuyền-trưởng và đoàn thủy-thủ lâm nạn đã được quan chức Quảng-Nam, dưới thời chúa Sãi, giúp đỡ cho trở về xứ Batavia.

– Năm 1702, dưới thời Chúa Minh Nguyễn-Phước-Chu, và từ đó về sau, sử sách đã nói tới Đội Hoàng Sa có nhiệm vụ tuần tiểu hải phận xứ Đàng Trong, kiểm soát các thương thuyền và đặc biệt thâu lượm được nhiều hàng hóa và kim khí, vật dụng tại quần đảo Hoàng Sa, đem về nộp cho Phủ Chúa tại Phú-Xuân.

– Năm 1802 (đầu niên hiệu Gia-Long), “cũng phỏng theo chế-độ cũ, đặt Đội Hoàng Sa” ( theo Đại Nam Nhất Thống Chí).

– Năm 1816, Vua Gia-Long thân chinh tiếp nhận quần-đảo Hoàng Sa và thượng quốc-kỳ trên đảo (theo Jean Baptiste Chaigneau và Giám-mục Taberd).

– Năm 1820 (đầu niên hiệu Minh-Mạng) “thường sai thuyền công đến nơi dò xét hải trình…” (theo Đại Nam Nhất Thống Chí).

– Năm 1835, Vua Minh-Mạng truyền lập miếu Hoàng Sa dựng bia đá và tấm bình phong.

– Năm 1951, tại Hội-nghị San Francisco, Thủ-Tướng Chính-phủ, Trưởng Phái-đoàn, đã công khai và long trọng tuyên bố chủ-quyền của Việt-Nam trên hai quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa, mà chẳng có một nước nào (trong số 51 nước tham dự hội-nghị) phản đối cả.

Như vậy là chúng ta đã hội đủ những bằng chứng cụ thể tỏ rõ rằng các quần-đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình (animus) và mình đang khai thác (corpus) các hải-sản, hải-sâm, phân chim, ốc xà-cừ, phốt-phát, đồi mồi, cát trắng, cát vàng, v.v… chứ không phải là hoang đảo (res derelicta) mặc cho ai muốn chiếm thì chiếm.

Trải mấy ngàn năm lịch-sử, tổ-tiên chúng ta đã tranh giành từng tấc đất ngọn rau trong cuộc bành-trướng lãnh-thổ khắp ba mặt: Nam tiến, Tây tiến và Đông tiến, lấy Trường Sơn, sông Cửu Long và Nam Hải làm địa bàn sinh hoạt, như muốn thi gan đấu sức với núi cao bể cả, nói lên ý-chí quật cường của một dân-tộc chưa bao giờ chịu lùi bước trước nguy nan.

Ngày nay, đương đầu với những thử thách lớn lao, chúng ta chỉ có một con đường là trường kỳ chiến-đấu trên mọi mặt: quân-sự, chính-trị, ngoại-giao, để bảo vệ chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh-thổ, lãnh-hải quốc-gia Việt-Nam.

Thái Văn Kiểm 

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa II

Tuyên Bố Của Thủ Tướng Trần Văn Hữu Ở Hòa Hội 1951

Vương Hồng Anh tổng lược – Theo VietBao 25.05.2002

Như đã trình bày, đầu tháng 9 năm 1951, 51 quốc gia đã từng góp công trong cuộc chiến đấu chống Nhật Bản trong Đệ nhị thế chiến tới tham dự Hòa hội Cựu Kim Sơn theo lời mời của chính phủ Hoa Kỳ, để thảo luận vấn đề chấm dứt chiến tranh và mở bang giao với Nhật Bản. Trong hòa hội, vấn đề chính là thảo luận bản dự thảo hòa ước do Anh Mỹ đề nghị ngày 12-7-1951. Ngày 8-9-1951, các quốc gia tham dự hội nghị, ngoại trừ Nga và một số nước đàn em, đã ký một hòa ước với Nhật Bản. Điểm đáng chú ý là cả hai phe Quốc Cộng Trung Hoa đều không được mời tham dự hòa hội.
Tại hòa hội, Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu đã đọc bản tuyên bố xác định chủ quyền đã có từ lâu đời của Quốc gia Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau đây là nội dung một số điểm chính đã được Thủ tướng Trần Văn Hữu trình bày tại Hòa hội Cựu Kim Sơn, trích trong France-Asia, số 66-67, tháng 11-12 1951, phần phiên dịch từ bản tiếng Pháp được phổ biến trong Tập san Sử Địa của Đại học Sư phạm Sài Gòn, số đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa của ấn hành năm 1974.

Tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam Trần Văn Hữu tại Hòa hội Cựu Kim Sơn.

“Thật là nghiêm trọng và cảm kích cho Việt Nam được đến San Francisco tham dự công việc của hội nghị Hòa bình với Nhật Bản. Sở dĩ chúng tôi được hiện diện tại đây là nhờ các tử sĩ của chúng tôi và lòng hy sinh vô bờ bến của dân tộc chúng tôi, dân tộc đã chịu đựng biết bao đau khổ để được sống còn và giành sự trường tồn cho một nòi giống đã có hơn 4 ngàn năm lịch sử.”
“Nếu mỗi dân tộc đã thống khổ do sự chiếm đóng của Nhật Bản, có quyền tham dự hội nghị này, như tất cả diễn giả liên tiếp hai ngày nay đã đồng thanh nhìn nhận, mặc dù thuộc ý thức hệ nào đi nữa cũng vậy, thì cái quyền Việt Nam lên tiếng về Hòa ước Hòa bình với Nhật Bản lại càng dĩ nhiên hơn lúc nào hết, vì không ai không biết rằng, trong tất cả các quốc gia Á châu, V.N là một nước chịu nhiều đau khổ nhất về tài sản cũng như về tính mạng người dân. Và tôi thiếu sót phận sự tối thiểu đối với đồng bào quá vãng nếu giờ phút này, tôi không hướng một ý nghĩ thành kính đến số một triệu dân Việt mà hoàn cảnh bi thảm của sự chiếm đóng đã đưa đến cái chết đau thương. Những hư hại vật chất mà đất nước chúng tôi gánh chịu không phải là ít và tất cả nền kinh tế của chúng tôi bị ảnh hưởng một cách trầm trọng. Cầu cống và đường sá bị cắt đứt, làng xã bị triệt hạ hoàn toàn, nhà thương và trường học bị thiệt hại, bến tàu và đường sá bị dội bom, tất cả đều phải làm lại, đều cần thiết phải làm lại, nhưng than ôi cần có nguồn tài nguyên quá cao so với khả năng hiện hữu của chúng tôi.”
“Cho nên, trong lúc khen ngợi sự rộng lượng của những tác giả dự án thỏa hiệp này, chúng tôi cũng trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu hội nghị ghi nhận.”
“Là những người Á châu, chúng tôi thành thật hân hoan trước những viễn tượng mới mẻ mở rộng ra cho một quốc gia Á Đông sau khi kết thúc thỏa hiệp hòa bình này. Chúng tôi sẽ hết sức cố gắng góp phần vào sự phục hưng của một dân tộc Á đông bình dị và cần mẫn như nước Nhật Bản đây, chúng tôi tin chắc rằng những người dân châu Á phải là những người phát khởi thịnh vượng chung của mình, họ cũng trông cậy nơi chính mình để xa lánh mọi chế độ đế quốc và trong việc thiết lập một trạng thái quốc tế mới, một sự liên đới Á châu cũng cần thiết như một sự liên đới Âu châu vậy.”
“Điều này không có ý muốn nói là sẽ có một ngày nào đó hai sự đoàn kết này sẽ chống đối lẫn nhau. Điều này chỉ muốn nói một cách giản dị là các dân tộc châu Á một khi đã được các quốc gia Tây phương hoàn thành việc giúp đỡ họ xây dựng hòa bình, tôi nói rằng một khi mà hòa bình đã vãn hồi, các dân tộc Á châu không thể sẽ là gánh nặng cho kẻ khác, mà trái lại họ phải nhớ nằm lòng là họ phải tự bảo vệ mạng sống của họ bằng những phương tiện riêng của họ. Điều đó, ít nhất cũng là tham vọng của Việt Nam và dù cho có phải chịu nhiều thăng trầm cực nhọc họ vẫn tự hào là không lúc nào để nhụt chí. Nhưng một dân tộc độc lập phải là một dân tộc tự hào và cũng bởi sự tự hào, theo chúng tôi, có cái giá, giá đó tuy không thể nào bằng sự tự hào của Nhật Bản nhưng chúng tôi tới đây để yêu cầu được chữ ký của 51 quốc gia hội viên của Hội nghị này mà tái lập lại một đời sống quốc gia xứng đáng và tự hào.”
“Tuy nhiên nếu dự thảo hiệp ước này đòi hỏi thẳng thắn cái quyền dền bồi lại tất cả những thiệt hại mà chính Nhật Bản hoặc là tác giả, hoặc ngẫu nhiên đã gây ra, những đền bù được dự liệu bằng các cung cấp dịch vụ, trong trường hợp của Việt Nam mà không được đền bồi bằng những nguyên liệu, thì chắc chắn sẽ chẳng có kết quả gì cả. Tất cả mọi thứ Việt Nam, cũng cần như Nhật Bản, một số trợ giúp quan trọng để tái tạo nền kinh tế của mình. Từ đó, nếu nhận những đền bù chánh yếu bằng những cung cấp dịch vụ thì chẳng khác nào như là đi tín nhiệm mọi thứ tiền không thể lưu hành ở xứ mình.”
“Chúng tôi vì vậy sẽ phải đòi hỏi nghiên cứu lại các phương thức bồi hoàn hữu hiệu hơn và nhất là chúng tôi phải tính, ngoại trừ những phương tiện tạm thời, tới một sự bồi thường chính thức vào cái ngày mà chúng tôi ước mong là sẽ rất gần, cái ngày mà nền kinh tế của Nhật Bản sẽ được phục hưng để họ có thể đương đầu với tất cả mọi bắt buộc.”
Đoạn kết, Thủ tướng Trần Văn Hữu tuyên bố: “Việt Nam rất là hứng khởi ký nhận trước nhất cho công cuộc tạo dựng hòa bình này. Và cũng vì vậy cần phải thành thật lợi dụng tất cả mọi cơ hội để dập tắt những mầm móng các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”

Lược ghi các phản ứng của Trung Cộng

Về phía Trung Cộng, như đã trình bày, khi thấy bị Hoa Kỳ gạt ra khỏi hòa hội, các nhà lãnh đạo Bắc Kinh đã phản ứng ngay bằng cách một mặt ra một số bản tuyên bố chính thức và một mặt khác cho đăng các bài báo để lên án Hoa Kỳ về việc không mời Trung Cộng tham dự hòa hội và để trình bầy quan điểm của Trung Cộng về một số vấn đề cần phải được thảo luận. Một trong những vấn đề này là chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lời tuyên bố đầu tiên của chính phủ Trung Cộng đã được Chu Ân Lai, lúc đó là bộ trưởng Ngoại giao, trình bày ngày 4-12-1950, trong đó Trung Cộng đã nêu ra căn bản chính để ký một hòa ước với Nhật Bản: “Bản Tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản tuyên bố Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật Bản sau khi nước này đầu hàng đã được các quốc gia trong Ủy Hội Viễn Đông thỏa thuận và thông qua ngày 19-6-1047, các văn kiện quốc tế mà Chính phủ Hoa Kỳ đã ký kết là căn bản chính cho một hòa ước với Nhật Bản”. Chu Ân Lai nói thêm: Nhân dân Trung Hoa rất ước muốn sớm có một hòa ước liên hợp với Nhật Bản cùng với các quốc gia khác trong thời kỳ Thế Chiến Thứ Hai. Nhưng căn bản của hòa ước phải hoàn toàn thích hợp với bản tuyên cáo Cairo, Thỏa ước Yalta, bản Tuyên cáo Potsdam và các chính sách căn bản đối với Nhật Bản sau khi nước này đầu hàng được quy định trong các văn kiện này. Tuy bản tuyên bố của Chu Ân Lai không đề cập đến vấn đề chủ quyền với hai quần đảo mà chỉ đề cập tới nhiều vấn đề khác, nhưng nó đã nêu ra quan điểm chính yếu của Trung Cộng.
Trong số báo tuần trước, VB đã lược trình nội dung “vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo” mà Trung Cộng chính thức đề cập trong một bản tuyên bố sau đó. Để bạn đọc tiện theo dõi, chúng tôi xin tóm lược các điểm chính đã trình bày: Khi nghiên cứu dự thảo hòa ước Cựu Kim Sơn Anh-Mỹ do Hoa Kỳ gửi cho các quốc gia được mời tham dự hòa hội, chính phủ Trung Cộng thấy điều hai của dự thảo hòa ước không quy định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Nhật Bản sẽ phải từ bỏ được trao cho quốc gia nào, nên trong bản tuyên bố ngày 15-8-1951, sau khi đề cập tới quan điểm của Trung Cộng về từng vấn đề một, Chu Ân Lai tuyên bố: “Dự thảo Hiệp ước quy định là Nhật Bản sẽ từ bỏ mọi quyền đối với đảo Nam Uy (đảo Spratly) và quần đảo Tây sa (quần đảo Paracel), nhưng lại cố ý không đề cập tới vấn đề tái lập chủ quyền trên hai quần đảo này. Thực ra, cũng như các quần đảo Nam Sa và quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây sa và quần đảo Nam Uy lúc nào cũng là lãnh thổ của Trung Quốc. Mặc dù những đảo này đã có lúc bị Nhật Bản chiếm đóng một thời gian trong trận chiến tranh xâm lăng do đế quốc Nhật Bản gây ra, sau khi Nhật Bản đầu hàng thì chính phủ Trung Hoa đã thâu hồi những hòn đảo này.”
Chu Ân Lai kết luận vấn đề này bằng cách phủ nhận giá trị bất cứ hòa ước nào ký kết với Nhật Bản mà không có sự tham dự của Trung Cộng: Chính phủ Nhân dân Trung ương của nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa một lần nữa tuyên bố: Nếu không có sự tham dự của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa trong việc chuẩn bị, soạn thảo và ký một hòa ước với Nhật Bản thì dù nội dung và kết quả một hiệp ước như vậy có như thế nào, chính phủ Nhân dân Trung ương cũng coi hòa ước ấy hoàn toàn bất hợp pháp, và vì vậy vô hiệu.”

Re: Chủ quyền Việt Nam tại Hoàng Sa-Trường Sa qua tài liệu phương tây
by TrucLe ngày 04/08/2007 lúc 01:22:24 EDT

ĐIỂM SÁCH

Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands

[Chủ Quyền trên các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Monique Chemillier-Gendreau]

LEÏLA CHOUKROUNE
(Viễn cảnh Trung Quốc số 35, tháng Năm và Sáu năm 2001, trang 74)

Trúc Lê dịch

Vào ngày 1 tháng tư năm nay, một chiếc máy bay gián điệp của Hoa Kỳ và một chiếc máy bay chiến đấu của Trung Quốc đụng nhau khoảng lối 60 dặm phía Đông Nam đảo Hải Nam. Kết quả là một phi công Trung Quốc đã tử thương và đã nhanh chóng được truy thăng thành anh hùng quốc gia, và sự giam giữ phi hành đoàn Hoa Kỳ gồm 80 người bị [Trung Quốc] bắt làm con tin và sau đó đã được phóng thích. Một hậu quả khác là sự xuất hiện một loạt bài phân tích chính trị – chiến lược đủ loại trong đó người ta đã đặc biệt nhấn mạnh đến chủ trương bành trướng khi ẩn khi hiện của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Hoa [South China Sea tức là Biển Đông], chủ trương mà đã dựa vào những mức độ thuyết phục khác nhau về tranh chấp luật pháp để chứng minh sự đúng đắn của phía này hoặc phía kia dưới ánh sáng của những lỗ hổng trong công pháp quốc tế hiện đại.

Cũng tương tự như thế, cách đặt vấn đề về sự liên hệ giữa Trung Quốc với qui tắc pháp luật, và đặc biệt hơn, với Luật Quốc Tế về Biển, là sợi chỉ xuyên suốt của cuốn sách Chủ Quyền Trên Các Quần Đảo Hoàng Sa Và Trường Sa của Monique Chemillier-Gendreau. Quyển sách này có mục đích là phân giải những căn bản pháp luật dựa lên đó những tranh chấp đối nghịch nhau về chủ quyền trên Biển Đông đã được xác lập. Tác giả dựa vào một phương thức chắc chắn là “nguyên thủy” theo nghĩa là nó đã dựa phần lớn vào sự phân tích các tài liệu văn khố Pháp. Phương thức này đã đẩy tác giả tới việc phải sử dụng ba thế kỷ của lịch sử ngoại giao để đánh giá sự đúng sai về tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của các phía, và quyền chiếm hữu của các phía trên những quần đảo tranh chấp, để từ đó đưa ra một soi sáng pháp lý về các vấn đề chủ quyền. Điều này sau đó sẽ được dùng như là căn bản cho một sự giải quyết giữa các nước với nhau, mà chắc chắn sẽ phải liên quan đến việc vẽ biên giới lãnh hải giữa các nước.

Biển Đông là một hải lộ chiến lược, một vùng giàu tài nguyên ngư sản, và đầy tiềm năng về dầu hỏa. Đó có lẽ cũng là nơi tranh chấp nhất trên quả địa cầu. Không ít hơn sáu nước ven biển (Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Phi Luật Tân, Mã Lai Á và Brunei) đã đưa ra những tuyên bố chủ quyền đối nghịch nhau trên quần đảo Trường Sa (Spratly Islands), trong khi quần đảo Hoàng Sa (Paracels) thì chỉ có tranh chấp giữa Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc chắc chắn là trọng tâm của toàn bộ sự tranh chấp này, bởi vì Bắc Kinh đã tuyên bố chủ quyền trên tuyệt đối mọi đảo, hòn, đá và bãi và ngay cả vài bãi ngầm dưới nước trong chu vi được vẽ trên bản đồ có dạng chữ U hoa [còn được gọi là bản đồ “Lưỡi Rồng”- chú thích của Trúc Lê], mà tuồng như đã Trung Quốc có ý định nghĩa như sự “nới rộng tự nhiên” ipso facto (tự dữ kiện) và ab initio (tự nguyên thủy) của lãnh thổ Trung Quốc.

Sau khi phác họa một bức tranh toàn diện về những khía cạnh địa lý, pháp luật, lịch sử của sự tranh chấp chủ quyền này, tác giả đã dành riêng hai chương để khảo cứu sự sở đắc chủ quyền của các nước tranh cãi. Trong phần này Bà đã theo phương pháp niên đại học (theo thứ tự thời gian) và đưa ra kết luận trong chương cuối, chỉ gói ghém trong vài trang được dùng như là những hướng dẫn cho một giải quyết pháp lý của tranh chấp. Như Bà đã giải thích trong phần hai của chương đầu về tính cách pháp lý của vấn đề, sự phân tích của Bà nói chung là dựa vào những lý lẽ được lấy từ ngành học mà Bà gọi là “luật liên thời” (intertemporal law). Bà định nghĩa phương cách này như là một sự so sánh “giữa những đặc điểm của hệ thống pháp lý ở những giai đoạn phát triển khác nhau của hệ thống với những sự kiện đặc biệt của tình trạng đã cấu thành cơ sở cho sự tranh chấp”. Lịch sử, lúc đó, sẽ cho phép pháp luật được cứu xét theo nguyên tắc ubi societas, ibi jus (Ở đâu có xã hội, ở đó có luật). Định đề này dẫn tới việc xem xét câu hỏi về chủ quyền trong ba viễn ảnh thời gian khác biệt nhau : viễn ảnh đầu tiên, trước thời hậu bán thế kỷ thứ 19, nghĩa là giai đọan của thời terra nullius (đất vô chủ); viễn ảnh thứ hai, vào thời kỳ trước thế kỷ thứ 18, là giai đọan của thời “khám phá” hay ít nhất là sự nhận biết các quần đảo; và cuối cùng là giai đoạn của các thế kỷ thứ 18 và 19, lúc mà một số hồ sơ khác nhau đã được đệ trình để khẳng định chủ quyền của Trung Quốc hoặc của Việt Nam. Điều đáng lưu ý là ngoài Trung Quốc và Việt Nam thì, như chúng tôi được cho biết, không còn nước nào khác đã đệ trình hồ sơ xác lập chủ quyền. Sự nghiên cứu của tác giả đã đưa tới kết luận là Việt Nam chính là quốc gia duy nhất thực sự có chủ quyền pháp lý sở hữu trên quần đảo Hoàng Sa với cơ sở vững chắc biện minh cho các tuyên bố chủ quyền của họ. Câu hỏi về việc chuyện gì đã xảy ra cho sự sở hữu chủ quyền này trong và sau giai đoạn thuộc Pháp đã được gác qua một bên trong khi chương ba xem xét tới sự xuất hiện của sự kế tục của những tuyên bố chủ quyền mới. Phần trả lời sơ lược cho câu hỏi này đã được tác giả trình bày trong chương chót, ở đấy tác giả cũng đưa ra một số kế luận.

Hình như Monique Chemillier-Gendreau đã cho rằng đối với quần đảo Hoàng Sa thì Việt Nam có chủ quyền nhất, khi Bà đề cập tới chủ quyền đó như là “quyền sở hữu cổ xưa và có căn cứ vững vàng”, và sự không thể nào chuyển đổi việc xâm chiếm quần đảo của Trung Quốc thành ra quyền pháp lý dựa vào luật pháp quốc tế cáo buộc Trung Quốc đã sử dụng võ lực và Hà Nội đã phản kháng sự xâm chiếm này. Tuy nhiên, tình trạng của quần đảo Trường Sa có vẻ phức tạp hơn, và ở đây tác giả đã phủ nhận trường hợp của Trung Quốc : “Thực dễ thấy rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Trường Sa hoàn toàn không có cơ sở pháp lý mà chỉ là một khía cạnh của chủ trương bành trướng lãnh hải” (trang 139). Bà đã nêu ra khả năng của một hoà giải pháp lý nếu như những thương thuyết ngoại giao bị thất bại. Song các hoạt động của luật pháp quốc tế (nguyên tắc tình nguyện dựa vào giải quyết pháp luật và cách giải quyết bằng tương nhượng qua Toà Án Quốc Tế (ICJ) Hague) kết hợp với sự miễn cưởng của các quốc gia liên hệ khi dựa vào cách hòa giải này, đã không cho phép ta nghiêm túc cứu xét giải pháp này. Thật khó mà tưởng tượng Bắc Kinh sẽ chịu quay về với giải pháp qua Toà Án Quốc Tế Về Luật Biển (ITLOS), hoặc ngay cả qua Toà Án Quốc Tế Hague (ICJ), trong trường hợp phải giải quyết vất đề biên giới lãnh hải, khi mà họ chưa bao giờ tỏ ra bất cứ ưa thích nào đối với các cơ quan pháp luật này, mặc dầu trong số thành viên của ICJ có một chánh án người Trung Quốc (1).

Chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là bản dịch ra tiếng Anh của một công trình tiếng Pháp do nhà xuất bản Harmattan ấn hành trước tiên vào năm 1996, nhưng nó vẫn còn chưa được cập nhật hóa, ngoại trừ một vài bổ túc trong phần thư tịch. Điều này ít nhất cũng làm giảm bớt khả năng soi sáng hiện trạng của vấn đề [vì mất thời gian tính – Trúc Lê]. Chẳng hạn như, trong phần dẫn nhập có viết là Trung Quốc đã ký Công Ước Liên Hiệp Quốc Về Luật Biển (UNCLOS) được chấp thuận tại Vịnh Montego ngày 10 tháng 12 năm 1982, sau những cuộc thương thuyết kéo dài tới 9 năm, mặc dầu Trung Quốc vẫn chưa phê chuẩn công ước. Tuy nhiên, 2 năm sau khi UNCLOS trở nên có hiệu lực, thì vào năm 1996, Trung Quốc đã chịu phê chuẩn công ước này. Hơn nữa, tuyên bố sau đây của Trung Quốc vào thời điểm họ phê chuẩn công ước thì thực sự rất quan thiết, bởi vì họ nói : “Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền của Trung Quốc trên tất cả mọi quần đảo và đảo liệt kê trong Điều 2 của Luật của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về lãnh hải và vùng tiếp cận, ban hành ngày 25 tháng 2 năm 1992” (2). Tuyên bố đơn giản này của Trung Quốc đã cho ta biết rằng tất cả những gì ta cần hiểu là sự bất khả xảy ra của việc Bắc Kinh từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của họ, dưới ánh sáng của quan điểm của chính họ về luật quốc tế và về sự liên hệ giữa luật này với luật quốc gia của nước Cộng Hòa Nhân Dân này. Quan điểm có tính tuyệt đối và ngoan cố này của Bắc Kinh đã đưa đến quan niệm tổng quát của họ về những quyền có lợi cho họ đối với các luật pháp quốc tế. Luật quốc tế được chấp nhận nhưng lại được giải thích theo chiều hướng có lợi cho họ mà thôi. Trong những trường hợp như về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nguyên tắc liên hệ đến vùng biển xung quanh các quần đảo này đã được áp dụng để biện minh cho sự nới rộng vùng biển được xem như là lãnh hải thuộc vùng đặc quyền kinh tế.

Niên đại học của Bà [Chemillier-Gendreau] về những rối loạn trong phần đất này của thế giới ngừng lại vào thời điểm 9 tháng hai năm 1995. Nhưng điều đó có nghĩa là bỏ qua nhiều biến cố đối diện với các quốc gia trong khu vực trong các năm 1999 và 2000 : tỷ dụ việc lính Việt Nam bảo vệ Trường Sa đã giết một ngư phủ Phi Luật Tân vào tháng Giêng năm 1999, cái chết của một ngư phủ Trung Quốc vài tháng sau đó trong một cuộc đụng độ giữa Trung Quốc và Phi Luật Tân, các mối căng thẳng lớn giữ các nước hội viên của ASEAN với nhau, sự nới rộng hiện diện của Trung Quốc trên Đảo ngầm Scarborough, cái chết của một ngư phủ Trung Quốc khác khi lính cảnh sát biển của Phi Luật Tân bắn vào tháng 5 năm 2000, và trên hết là sự công bố bản Qui Tắc Ứng Xử vào tháng 11 năm 1999 do Phi Luật Tân và Việt Nam khởi xướng, nhưng đã bị Trung Quốc bác bỏ với lý do là họ chỉ thương thuyết tay đôi mà thôi. Sau cùng, xin có vài chữ để nói về việc tác giả đã sử dụng quá đáng phần phụ lục, dày tới 110 trang trong số 143 trang của tác phẩm. Mặc dầu việc sưu tập vài văn kiện cổ hơn là thích đáng, nhưng ngay cả khi chấp nhận rằng phương pháp của Bà là dựa trên cơ sở về sự nghiên cứu các tài liệu văn khố Pháp, liệu có quả thực cần thiết để kèm vào đấy một số bản đồ không đọc rõ được, ngay cả nguồn gốc của chúng cũng không được cho biết, hoặc là kèm vào lá thư 9 trang đề ngày 28 tháng 8, 1788 của Bá tước Kergariou Locmaria, thuyền trưởng của chiếc thuyền Le Calypso ?

Tuy nhiên chính cái phương pháp tổng quát của tác giả mới là điều thật sự cần xét lại. Thay vì “Chủ Quyền trên các Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, nhan đề của cuốn sách nên viết là “Lịch Sử về Chủ Quyền trên các Quần Đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Một sự ghi chép về các cuộc tranh chấp chủ quyền, tuy thế, không đưa đến một giải pháp toàn bộ cho các vấn đề. Đồng ý là thực hữu ích để đặt các biến cố lại trong bối cảnh quá trình hình thành lịch sử của chúng, và bày tỏ sự công bình [thiện cảm] với những lý lẽ của Việt Nam như là kẻ kế thừa của Pháp sau khi chế độ thực dân bị hủy bỏ, nhưng ta không thể dừng lại ở đấy, khi mà hiện nay sự tranh chấp đã liên quan tới sáu quốc gia ở Đông Nam Á. Chỉ dựa vào những nguyên lý vĩ đại về quyền tự trị của các dân tộc [bị đô hộ] và quyền [của họ] được giải phóng khỏi chế độ thực dân, tự nó không còn đương nhiên đủ [để kết luận]. Vì những quần đảo này và phần nổi trên mặt nước của chúng phần lớn đều không có người ở, thế thì những dân tộc nào là dân tộc được đề cập tới đây ? Liệu Trung Quốc được coi như là một nước thực dân (3) ? Một số đoạn trong cuốn sách này tuồng như vang vọng lại những lời tuyên bố của tác giả mà nhiều người đã biết khi bà ủng hộ các nước ở Nam Bán Cầu, và những giải thích của bà về luật quốc tế mà mục đích là để lột trần huyền thoại của luật này, và chứng tỏ các giới hạn của nó hoặc ngay cả tính chất gian tà của nó như là một công cụ của các thế lực phương Tây (4). Sự tìm kiếm của tác giả cho những nguyên tắc đích thực về pháp luật quốc tế là một điều đáng ca ngợi, nhưng chắc hẳn là ta không cần thiết phải hoàn toàn loại bỏ các thực tế địa lý chiến lược hiện nay và những tương quan quyền lực đang uốn nắn các mục tiêu quốc gia hiện nay ? Dù thế, ta cũng cần chia xẻ với ý kiến của tác giả khi bà kết luận bằng cách kêu gọi [các phe] thương thảo với thiện chí, để đưa đến sự giải quyết cho một vấn đề mà cho đến nay vẫn còn chưa được giải quyết, một vấn đề tiềm ẩn nhiều liên lụy đáng ngại cho nền hòa bình và an ninh châu Á.

Jonathan Hall dịch từ nguyên bản tiếng Pháp.

1. Shi Juyong là một chánh án từ ngày 6 tháng 3 năm 1994, và là phó chủ tịch của ICJ từ ngày 7 tháng 3 năm 2000. Ông cũng là Chủ tịch của Ủy Ban Luật Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc (1990).
2. Tuyên bố của Bắc Kinh như sau : “1. Tuân theo các điều luật của Công ước về Luật Biển của Liên Hiếp Quốc, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc được hưởng chủ quyền và quyền tài phán trên vùng Đặc Quyền Kinh Tế rộng 200 hải lý và trên thềm lục địa. 2. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, qua tham khảo, sẽ phân định biên giới thuộc quyền tài phán của mỗi bên với các quốc gia có bờ biển đối diện hay kế cận Trung Quốc trên cơ sở của luật quốc tế và tuân theo nguyên tắc bình đẳng. 3. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định chủ quyền trên tất cả mọi đảo và quần đảo liệt kê trong Điều 2 của văn bản về Luật của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về lãnh hải và vùng tiếp cận như đã được công bố vào ngày 25 tháng 3 năm 1992. 4. Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc tái khẳng định rằng những qui định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển liên hệ đến quyền thông quá vô tư trên lãnh hải sẽ không ngăn ngăn cấm quyền của quốc gia có bờ biển được đòi hỏi, theo đúng các qui tắc và pháp luật của nước đó, rằng một nước ngoài phải xin phép và được chấp thuận trước hoặc phải thông báo cho nước có bờ biển biết trước ngày mà các tàu chiến của nước này đi ngang qua lãnh hải của nước có bờ biển”.
3. Đối với danh xưng này, thực là thú vị khi ta lật đến Đoạn 3 của Điều 121 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, nói về qui chế đảo : “Các mõm đá không có đủ điều kiện cho con người sinh sống hoặc không có các sinh hoạt kinh tế của chính nó thì sẽ không có vùng Đặc Quyền Kinh Tế hay thềm lục địa”.
4. Monique Chemillier-Gendreau, Humanité et Souveraineté, essai sur la fonction du droit international [Nhân Loại và Chủ Quyền, luận bàn về sự hoạt động của luật quốc tế], Paris, La Découverte, 1995, 382 pp
————————————–
Sau đây là bản tiếng Anh:

BOOK REVIEWS
Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands

LEÏLA CHOUKROUNE
Perspectives chinoises n° 35, May- June 2001, page n°74

On April 1st this year, a US spy plane and a Chinese fighter aircraft collided about sixty-five miles southeast of Hainan Island. The consequences were the death of the Chinese pilot who was rapidly promoted to the rank of national hero, and the arrest of the eighty American crew members who were taken hostage and then released. Another result was a whole range of political-*****-strategic analyses, which stressed Peking’s intermittent expansionism into the South China Sea, and which relied with varying degrees of persuasiveness on legal argumentation to show the rightness of one side or the other in the light of the gaps in contemporary international law.
The same way of posing the problem of China’s relationship with the rule of law, and more specifically with the International Law of the Sea, runs through Monique Chemillier-Gendreau’s book, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. This sets out to tackle the legal questions underlying the conflicting claims of sovereignty in the South China Sea. The author adopts an approach that is certainly “original” in the sense that it is largely based on an analysis of French archives. This plunge into three centuries of diplomatic history is intended to assess the validity of the territorial claims of each of the parties, and their right to occupy the disputed archipelagos, in order to offer a legal clarification of the issues of sovereignty. This could then serve as the basis for a mutual settlement that would necessarily involve drawing up maritime frontiers.
The South China Sea is a strategic sea lane, and an abundant source of fisheries, and potentially of oil. It is also probably the most disputed area on the planet. No less than six coastal states (China, Taiwan, Vietnam, the Philippines, Malaysia and Brunei) have lodged rival claims to the Spratly Islands, whereas the Paracels are mainly contested by China and Vietnam. But the People’s Republic of China is certainly at the heart of the whole conflict, since Peking claims sovereignty over absolutely all islands, islets, rocks, sand banks, and even some underwater shoals, within the perimeter drawn on the map in the famous capital U shape, which seems intended to define ipso facto and ab initio the “natural extension” of the territory of China.
After giving an overall picture of the geographical, legal and historical aspects of this conflict over sovereignty, the author devotes two chapters to the examination of the respective entitlements. Here she follows a chronological approach, and concludes with a final chapter, amounting to just a few pages, which formulates guidelines for a legal settlement. As she explains in the second part of her first chapter on the legal nature of the problem, her analysis as a whole is based on arguments derived from what she calls “intertemporal law”. She defines this approach as a comparison “of the particulars of the legal system at the different periods of its development with the specific facts of the situation which constitute the basis of the dispute”. History, then, allows the law to be envisaged according to the principle of ubi societas, ibi jus. This postulate leads to an examination of the question of sovereignty within three separate temporal perspectives: the first, prior to the second half of the nineteenth century, that is to say, the time of terra nullius; the second, prior to the eighteenth century, which was the time of the “discovery” or at least the identification of the archipelagos; and finally, the eighteenth and nineteenth centuries, when numerous do*****ents were produced to affirm the sovereignty of either Vietnam or China. There are noticeably few cases of claims from third states which, so we are told, simply did not exist. Her study of the question leads to the conclusion that Vietnam was the only holder of a legally founded title, justifying its claim to sovereignty over the Paracels. The question of what happened to this entitlement during and after the colonial period is sort of put on hold while the third chapter looks at the appearance of a succession of new claims. A sketchy answer to the question is given in the final chapter where the author draws some conclusions.
It would seem that Monique Chemillier-Gendreau considers that Vietnam has the strongest claim in the case of the Paracels, as she refers to “ancient and well-founded rights”, and to the impossibility of transforming the fact of Chinese occupation into a legal right on account of the condemnation of China’s use of force by international law and Hanoi’s protestations against that occupation. However, the Spratly Islands situation seems more complicated, and here, the author dismisses the Chinese case: “It is easy to see that the Chinese claims to the Spratlys has no legal basis and is just one aspect of a maritime expansion policy” (p. 139). She invokes the possibility of a legal settlement if the various diplomatic negotiations should fail. But the workings of international law (the principle of voluntary legal recourse and of compromise settlements through the International Court of Justice (ICJ) in the Hague), combined with the reluctance of states to resort to such settlements, do not allow such a proposed solution to be seriously considered. It is difficult to imagine Peking turning to the International Tribunal for the Law of the Sea (ITLOS), or even the ICJ, in a case concerning the settlement of maritime frontiers, when it has never shown any particular interest in such legal bodies, even though the ICJ membership includes a Chinese judge (1).
Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands is the translation into English of a work first published in French by Harmattan in 1996, but it has not been updated, except for a few bibliographical references. This, at the very least, detracts from its capacity to throw light on the current state of play. For example, the introduction states that China signed the United Nations Convention on the Law of the Sea (UNCLOS) adopted at Montego Bay on December 10th 1982, after nine years of negotiations, although it has not yet ratified it. However Peking did in fact ratify it, in 1996, two years after UNCLOS came into effect. Moreover, China’s declaration at the time of this ratification is of considerable relevance, because it runs: “The People’s Republic of China reaffirms its sovereignty over all its archipelagos and islands as listed in Article 2 of the Law of The People’s Republic of China on the territorial sea and the contiguous zone, which was promulgated on 25 February 1992” (2). This simple declaration tells us all we need to know about the impossibility of Peking abandoning its claims, in the light of its own conception of international law and the relationship between that law and the national law of the People’s Republic. Peking’s absolutist and intransigent view of state sovereignty gives rise to a general conception of rights that are beneficial to China in the name of international law. The latter concept is accepted, but only to be reinterpreted in China’s favour. In such cases as the Paracels and the Spratly Islands, the principle dealing with waters surrounding archipelagos is applied to justify the extension of areas defined as territorial waters exclusive economic zones.
Her chronology of the disturbances in this part of the world ends at February 9th 1995. But this means passing over the many incidents confronting the states in the region in 1999 and 2000: viz. the killing of a Filipino fisherman in January 1999 by Vietnamese troops occupying the Spratly Islands, the death of a Chinese fisherman a few months later in a confrontation between China and the Philippines, the heightened tensions among ASEAN members themselves, the extension of the Chinese presence towards the Scarborough Shoal, the death of another Chinese fisherman after shots were fired by the Philippine marine police in May 2000, and above all the publication in November 1999 of a code of conduct on the initiative of the Philippines and Vietnam, which was rejected by China on the grounds of a desire to resolve issues bilaterally. Finally, a few words should be said about the author’s heavy use of annexes, amounting to 110 pages against 143 pages of text. Although her collation of some of the older do*****ents is pertinent, given that her approach is based on a study of French archives, was it really necessary to include a number of illegible maps, the source of which is not even given, or a handwritten nine-page letter dated August 28th 1788 by Count Kergariou Locmaria, captain of the frigate Le Calypso?
But it is the author’s general approach that is really what is open to question here. Instead of Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands, the title of the book should have been A History of Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. A historical account of this conflict over sovereignty, however, does not provide an overall solution to the problems. It is admittedly useful to put the events back into their historical context, and to do justice to the arguments of Vietnam as the successor to France after decolonisation, but one cannot stop there, now that the dispute involves six different South-East Asian states. To invoke the grand principles of the right of peoples to self-determination and freedom from colonialism is no longer self-evidently sufficient. Since these islands and outcrops are largely uninhabited, which peoples are being referred to here? Should China be considered the colonial power (3)? Certain passages of this book seem to echo her well-known pronouncements in support of southern hemisphere countries, and her interpretations of international law that aim at demystifying it, showing its limitations or even its perverse nature as an instrument of Western power (4). Her quest for truly international principles of law is praiseworthy, but surely it is not necessary to completely ignore modern geostrategic realities and the power relations conditioning current national objectives? Nonetheless, one can only share the author’s opinion when she concludes by calling for negotiations in good faith, leading to the settlement of a question that is still unresolved, and that contains worrying implications for peace and security in Asia.

Translated from the French original by Jonathan Hall

1. Shi Juyong has been a judge since February 6th 1994, and vice-president of the ICJ since February 7th 2000. He has also been President of the International Law Commission of the United Nations (1990).
2. Peking’s declaration was as follows: “1. In accordance with the provisions of the United Nations Convention on the Law of the Sea, the People’s Republic of China shall enjoy sovereign rights and jurisdiction over an exclusive economic zone of 200 nautical miles and the continental shelf. 2. The People’s Republic of China will effect, through consultations, the delimitation of the boundary of the maritime jurisdiction with the States with coasts opposite or adjacent to China respectively on the basis of international law and in accordance with the principle of equitability. 3. The People’s Republic of China reaffirms its sovereignty over all its archipelagos and islands as listed in Article 2 of the Law of the People’s Republic of China on the territorial sea and the contiguous zone, which was promulgated on 25 February 1992. 4. The People’s Republic of China reaffirms that the provisions of the United Nations Convention on the Law of the Sea concerning innocent passage through the territorial sea shall not prejudice the right of a coastal State to request, in accordance with its laws and regulations, a foreign State to obtain advance approval from or give prior notification to the coastal State for the passage of its warships through the territorial sea of the coastal State”.
3. It is interesting in this regard to turn to paragraph 3 of Article 121 of the United Nations Convention on the Law of the Sea, which deals with the governance of islands: “Rocks which cannot sustain human habitation or economic life of their own shall have no exclusive economic zone or continental shelf”.
4. Monique Chemillier-Gendreau, Humanité et Souveraineté, essai sur la fonction du droit international, Paris, La Découverte, 1995, 382 pp

————————————————————————

Bản gốc bằng tiếng Pháp :

LECTURE CRITIQUE

Monique Chemillier-Gendreau, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands

LEÏLA CHOUKROUNE
Perspectives chinoises n° 64, mars – avril 2001, page n°75

Chủ quyền VN tại Hoàng Sa và Trường Sa III
Le 1er avril 2001 un avion espion américain et un chasseur chinois entraient en collision à une centaine de kilomètres au sud-est de l’île de Hainan. S’en suivit le décès du pilote chinois bientôt élevé au rang de héros national, la prise en otage des vingt-quatre membres d’équipage américains puis leur libération et toute une série d’analyses politico-stratégiques soulignant les velléités expansionnistes de Pékin en mer de Chine du sud et s’appuyant avec plus ou moins de succès sur un argumentaire juridique cherchant à démonter le bon droit de l’une ou l’autre partie à la lumière des apories du droit international moderne…
C’est également cette problématique du rapport de la Chine au droit et plus précisément au droit de la mer que l’on retrouve en filigrane dans l’ouvrage de Monique Chemillier-Gendreau. Sovereignty over the Paracels and Spratly Islands se propose en effet de traiter des questions juridiques inhérentes aux conflits de souveraineté en mer de Chine du sud à partir d’une approche « originale » puisque fondée en majeure partie sur l’analyse des archives françaises. Cette immersion dans trois siècles d’histoire diplomatique vise à évaluer la validité des titres territoriaux de chacune des parties et l’effectivité de leur occupation des archipels revendiqués afin de proposer un éclairage juridique sur la question de la souveraineté comme préalable à un règlement du différend qui passerait nécessairement par une délimitation des frontières maritimes.
Voie de navigation stratégique riche en ressources halieutiques et potentiellement en hydrocarbures, la mer de Chine du sud est sans doute la région la plus controversée de la planète : pas moins de six Etats côtiers (Chine, Taiwan, Vietnam, Philippines, Malaisie et Brunei) ont formulés des revendications concurrentes sur les îles Spratly alors que les Paracel sont essentiellement disputées par la Chine et le Vietnam. Mais c’est bien la République populaire de Chine qui se trouve au cœur du conflit puisque Pékin revendique sa souveraineté sur l’ensemble des îles, îlots, rocs, rochers, bancs de sables voire même sur certains hauts fonds immergés dispersés dans un périmètre délimité par une fameuse courbe en forme de U qui semble vouloir définir ipso facto et ab initio le « prolongement naturel » du territoire chinois.
Après avoir dressé le panorama général de ce conflit de souverainetés en termes géographiques, juridiques et historiques, Monique Chemillier-Gendreau consacre deux autres chapitres à l’étude des titres territoriaux selon une approche chronologique, puis un dernier chapitre, quelques pages en réalité, à la formulation de pistes pour un règlement juridique. L’ensemble de l’analyse est fondée, comme on nous l’explique dans la seconde partie du premier chapitre consacrée à la nature juridique du problème, sur les apports du « droit intertemporel » qui consiste pour l’auteur à « comparer les particularités du système légal aux différentes périodes de son développement avec les spécificités factuelles de la situation qui constituent la base du différend ». L’histoire permettrait donc de mettre le droit en perspective en fonction du principe ubi societas, ibi jus. Ce postulat conduit à un examen en trois temps de la question de la souveraineté : avant la fin de la dernière moitié du XIXe siècle c’est-à-dire à l’époque de la doctrine de la terra nullius, avant le XVIIIe siècle à la période de la « découverte » ou tout au moins de l’identification des archipels et enfin au XVIIIe et XIXe siècles au moment de la production de nombreux do*****ents affirmant la souveraineté du Vietnam ou de la Chine (on notera à cet égard qu’il est fait bien peu de cas des revendications des Etats tiers dont on nous dit qu’elles étaient tout simplement inexistantes). Cette étude aboutit à une conclusion selon laquelle le Vietnam était le seul Etat détenteur d’un titre et pouvant donc revendiquer sa souveraineté sur les Paracel. Reste à savoir ce que devient ce titre pendant et après l’époque coloniale. Si le troisième chapitre fait état de l’apparition progressive de nouvelles revendications, on trouve la réponse à cette question dans le dernier chapitre qui fournit quelques éléments de conclusion. Tout laisserait à penser, selon l’auteur, que les revendications vietnamiennes seraient les plus justifiées dans le cas des Paracel (« droits anciens et bien fondés » et impossible transformation de l ‘occupation chinoise en titre en raison de la condamnation de l’usage de la force par le droit international et des protestations de Hanoi à l’encontre de cette occupation), alors que la situation des Spratly demeurerait plus confuse bien que l’argument chinois ait été écarté : « Il est facile de voir que les revendications chinoises sur les Spratly n’ont aucune base juridique et ne constituent que l’un des aspects d’une politique maritime expansionniste » (p. 139). La possibilité d’un règlement judiciaire est par ailleurs évoquée en cas d’échec des négociations diplomatiques bilatérales et multilatérales. Or, les spécificités du fonctionnement de la justice internationale (principe d’une juridiction facultative et saisine par voie de compromis de la Cour internationale de justice de La Haye) tout autant que les réticences des Etats à recourir à ce mode de règlement ne permettent pas d’envisager sérieusement le succès d’une telle solution. On imagine en effet assez mal Pékin avoir recours au Tribunal International du droit de la mer ou même à l’Organe judiciaire principal des Nations Unies dans le cadre de la délimitation de ses frontières maritimes alors qu’elle n’a jamais manifesté d’intérêt particulier pour cette juridiction bien qu’elle possède un juge((1).
Traduction d’un texte publié en français aux éditions de l’Harmattan en 1996, Sovereignty over Paracel and Spratly Islands n’a absolument pas été actualisé à l’exception peut-être de quelques références bibliographiques, ce qui est pour le moins dommageable pour la compréhension des enjeux actuels du problème. Ainsi on peut par exemple lire en introduction que la Chine a signé la Convention des Nations Unies sur le droit de la mer adoptée à Montego Bay le 10 décembre 1982 après neuf ans de négociations mais qu’elle ne l’a jusqu’à ce jour pas ratifiée. Or Pékin a bien ratifié cette convention en 1996 soit deux ans après son entrée ne vigueur. La déclaration formulée par la Chine au moment de cette ratification n’est d’ailleurs pas sans intérêt puisqu’elle rappelle que : « La République populaire de Chine réaffirme sa souveraineté sur tous les archipels et les îles énumérés à l’article 2 de la Loi de la République populaire de Chine sur la mer territoriale et sur la zone contiguë promulguée le 25 février 1992 »((2). Tout est dit en effet dans cette simple phrase sur l’impossibilité pour Pékin de renoncer à ses revendications en fonction de sa conception du droit international et du rapport de celui-ci au droit interne de la République populaire de Chine. D’une vision absolutiste et intransigeante de la souveraineté de l’Etat découle une conception extensive des droits dont pourrait bénéficier la Chine au nom d’un droit international que l’on accepte mais que l’on réinterprète en sa faveur en appliquant par exemple aux îles Paracel et Spartly le principe des eaux archipélagiques afin de repousser des limites de la mer territoriale ou de la zone économique exclusive.
La chronologie des évènements qui ont agité cette région du monde s’arrête quant à elle au 9 février 1995. C’est donc faire abstraction de la multiplication des incidents auxquels ont du faire face les Etats de la région en 1999 et 2000 : mort d’un pécheur philippin tué par les troupes vietnamiennes occupant les Spratly en janvier 1999 et décès d’un pécheur chinois dans un incident opposant la Chine et les Philippines quelques mois plus tard, escalade des tensions entre les membres de l’ASEAN eux-mêmes, extension de la présence chinoise en direction des Scarborough Shoal, nouveau décès d’un pêcheur chinois à la suite de tirs de la police maritime philippine en mai 2000 et surtout publication d’un code de conduite pour la mer de Chine du sud en novembre 1999 à l’initiative des Philippines et du Vietnam, code de conduite rejeté par la Chine au nom de la volonté de traiter ces questions de manière bilatérale. Quelques mots enfin sur les abondantes annexes (110 pages d’annexes pour 143 pages de texte). S’il était intéressant de rassembler quelques do*****ents anciens puisque la démarche de l’auteur était fondée sur une étude des archives françaises, était-il bien nécessaire de faire figurer un certain nombre de cartes illisibles et dont la source n’est même pas mentionnée ou encore une lettre manuscrite de neuf pages rédigée le 28 août 1788 par le comte de Kergariou Locmaria, capitaine de la Frégate Le Calypso ?
Mais c’est la démarche même de l’auteur qui est ici en question.
Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands aurait en effet du s’appeler An History of Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands. Faire une lecture historiciste de ce conflit de souveraineté ne résout pas tout. Il est certes utile de replacer les évènements dans leur contexte historique et de rendre d’une certaine manière justice à la thèse du Vietnam en tant qu’Etat successeur de la France au lendemain de la décolonisation, mais on ne peut s’arrêter là aujourd’hui alors que ce différend met en scène six Etats du sud-est asiatique. Evoquer le droit des peuples à disposer d’eux-mêmes et les grands principes du droit de la décolonisation ne va pas non plus de soi. De quels peuples parle t-on alors que ces îles et îlots sont pour la plupart inhabités ? Qui serait l’Etat colonisateur, la Chine (3) ? Certains passages de l’ouvrage de Monique Chemillier-Gendreau semblent faire échos à son discours bien connu en faveur des pays du Sud, à sa lecture du droit international qui vise à le démythifier et à souligner ses limites, voire son caractère pervers ou son instrumentalisation par l’Occident((4). Cette quête d’un droit véritablement universel est louable mais faut-il pour autant ignorer les réalités géostratégiques actuelles, les aspirations des Etats en terme de puissance en s’enfermant dans l’Histoire ? On ne peut néanmoins que partager l’avis de l’auteur quand elle conclut en faveur d’un règlement négocié et de bonne foi de cette question toujours en suspens et porteuse d’inquiétantes interrogations pour la paix et la sécurité en Asie.

1. Shi Jiuyong, juge depuis le 6 février 1994, est en effet vice-président de la Cour internationale de justice depuis le 7 février 2000. Il a également été président de la commission des Nations Unies pour le droit international (1990).
2. Pékin avait fait la déclaration suivante : «1. Conformément aux dispositions (de ladite Convention), la République populaire de Chine aura des droits souverains et juridiction sur une zone économique exclusive de 200 milles marins et sur le plateau continental. 2. La République populaire de Chine procédera à des consultations avec les Etats dont les côtes sont adjacentes aux siennes ou leur font face afin de délimiter, sur la base du droit international et conformément au principe de l’équité, les zones sur lesquelles s’exerce respectivement leur juridiction maritime.
3. La République populaire de Chine réaffirme sa souveraineté sur tous les archipels et les îles énumérés à l’article 2 de la Loi de la République populaire de Chine sur la mer territoriale et sur la zone contiguë, promulguée le 25 février 1992.
4. La République populaire de Chine réaffirme que les dispositions (de ladite Convention) relatives au passage inoffensif dans la mer territoriale ne porteront pas atteinte au droit de l’Etat côtier de demander, conformément à ses lois et règlements, à un Etat étranger qu’il obtienne de l’Etat côtier une autorisation préalable aux fins du passage de ses navires de guerre dans la mer territoriale de l’Etat côtier ou qu’il donne audit Etat côtier notification préalable du passage en question.
3. Il est intéressant à ce titre de relire le paragraphe 3 de l’article 121 de la Convention des Nations Unies sur le droit de la mer qui concerne le régime des îles : « Les rochers qui ne se prêtent pas à l’habitation humaine ou à une vie économique propre, n’ont pas de zone économique exclusive ni de plateau continental ».
4. Monique Chemillier-Gendreau, Humanité et souveraineté, essai sur la fonction du droit international, Paris, la Découverte, 1995, 382 pp.

————————————————-
(Source: http://66.102.7.104/search?q=cache:ZBOokHU7-MsJ:www.cefc.com.hk/uk/pc/articles/art_ligne.php%3Fnum_art_ligne%3D3511+Paracels+Islands&hl=en)
http://fr.blog.360.yahoo.com/blog-J1rBZgM5dKeJMsFcByvjDeBOoEn4TTHR?p=31

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: