TiengNoi TuDo Cua NguoiDan VietNam Vi CongLy, VenToanDatTo

Vì công lý hòa bình, Vi vẹn toàn đất tổ

Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam (Ngô Nhân Dụng)

Posted by tieng_dan on February 9, 2008

“… Nước mắt, máu và mồ hôi của người Việt Nam đã thấm trên các hòn đảo này từ nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể để mất các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa...”
Viện Viễn Ðông Bác Cổ của Pháp mới thực hiện một đĩa CD-Rom chụp hình toàn bộ các số Tập san Sử Ðịa, một tạp chí xuất bản ở Sài Gòn từ năm 1969 đến năm 1975. Ðĩa này ra đời với sự hợp tác của Tòa Ðại Sứ Pháp ở Hà Nội và Hội Sử Học Việt Nam. Số sau cùng của Tập san Sử Ðịa đề ngày 1 tháng 3 năm 1975 gồm những bài nghiên cứu đặc biệt về Hoàng Sa và Trường Sa. Ðây là một nỗ lực của tư nhân ở miền Nam Việt Nam, của các sinh viên và giáo sư môn Sử; cho thấy trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa một xã hội công dân năng động đã thành hình. Khi được tự do, người dân tự động làm những việc công ích không chờ đợi guồng máy chính quyền cho phép.

Người chủ trương tạp chí này từ lúc là sinh viên mới ra trường Ðại Học Sư Phạm Sài Gòn, Tiến sĩ Nguyễn Nhã kể lại ông nảy ra ý định làm một số báo đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa một năm trước đó. Trong lúc ông Nhã và các bạn đồng môn đến chúc Tết thầy đầu năm 1974, Giáo sư Nguyễn Ðăng Thục, thì nghe tin radio loan báo quân Trung Cộng đã tấn công hải quân Việt Nam Cộng Hòa và chiếm một hòn đảo quan trọng trong quần đảo Hoàng Sa. Trận hải chiến này đã được nhiều cựu chiến sĩ Cộng Hòa thuật lại, quân ta thua vì cô thế nhưng đã để lại những tấm gương dũng cảm đáng nhớ muôn đời. (Quý vị độc giả có thể tìm đọc các bài của các tác giả Vũ Hữu San, Trần Ðỗ Cẩm, và Hà Văn Ngạc về trận hải chiến Hoàng Sa, trên mạng lưới).

Thác Bản Giốc là của Việt Nam

Trong Tập san Sử Ðịa số 29 kể trên, các học giả đã nêu lên rất nhiều bằng chứng cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa là những quần đảo thuộc chủ quyền của nước Việt Nam từ lâu đời. Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa trong thời chiến tranh Việt Nam, sau đó lại tiếp tục chiếm nhiều đảo trong vùng Trường Sa. Những hành động có tính cách hung hăng, ngạo mạn, khinh thường luật pháp quốc tế của Trung Cộng là họ đã phát triển các phi trường, các khu du lịch ở Hoàng Sa. Và gần đây nhất, Trung Cộng cho Hạm Ðội Nam Hải tập trận ở vùng biển Hoàng Sa. Ðồng thời Bắc Kinh lập ra một huyện mới thuộc tỉnh Hải Nam, lấy tên là Tam Sa, trong đó có hai vùng của nước ta là Hoàng Sa (Trung Cộng gọi là quần đảo Tây Sa) và Trường Sa (họ gọi là quần đảo Nam Sa) cùng với quần đảo Trung Sa ở gần Phi Luật Tân.

Người Việt Nam không thể nhắm mắt trước những hành động có tính cách xâm lược rõ rệt này. Chúng ta đã mất Ải Nam Quan, mất thác Bản Giốc và nhiều vùng đất biên giới trên đất liền sau khi bị quân Trung Cộng chiếm từ năm 1979, nay lại tình trạng mất thêm các vùng quần đảo lại được Trung Quốc chính thức hóa trước con mắt thế giới. Trước nỗi phẫn nộ của đồng bào trong nước, nhất là giới thanh niên, chính quyền Hà Nội cũng phải lên tiếng phản đối.

Nhưng giọng nói của phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Hà Nội rất dè dặt. Cộng Sản Việt Nam gửi thư cho “Quốc Vụ Viện” Trung Quốc nhưng không dám phản đối thẳng chính phủ và đảng Cộng Sản Trung Quốc mà lại nhấn mạnh rằng hai hành động tập trận và lập huyện Nam Sa là “không phù hợp với nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước.” Ý nói, đây chỉ là hành động sai lầm của cấp dưới! Nhưng “nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao” như thế nào? Cộng Sản Việt Nam khó nói ra, vì bất cứ lúc nào Trung Cộng cũng có thể trưng ra bằng cớ là giới lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam đã từng đồng ý hoàn toàn với chính sách của Trung Quốc! Nghĩa là, nếu căn cứ vào “nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai nước” thì Trung Cộng có thể nói rằng nhận thức chung đó là “Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn đồng ý với các quyết định về hải phận của Trung Quốc.” Ðiều này đã được ghi trên giấy trắng mực đen.

Hữn Nghị Quan (Ải Nam Quan) phải nằm
ở địa đầu Việt Nam

Từ năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã công bố lập trường là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng Tám năm đó, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã được gửi ra trấn giữ Hoàng Sa, nơi có đài khí tượng của Việt Nam được thiết lập từ thời Pháp thuộc vẫn được duy trì thường xuyên. Năm 1957, quân đội Việt Nam Cộng Hòa đã được gửi tới đóng trên nhiều hòn đảo trong vùng Trường Sa. Trong thời gian mấy năm đó, các nước trong vùng đều tuyên bố xác nhận chủ quyền trên hải phận những hòn đảo trong hai vùng này, trong đó có chính quyền Trung Cộng và chính phủ Trung Hoa Quốc Gia ở Ðài Loan.

Trong hoàn cảnh tranh chấp đó, Cộng Sản Việt Nam đã đứng về phía Trung Cộng. Một lá thư do Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng ký ngày 14 tháng 9 năm 1958 viết: “Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, quyết định về hải phận Trung Quốc.” Lá thư do một ông thủ tướng ký, nhưng gọi Tổng Lý (tức thủ tướng) Chu Ân Lai là “Ðồng Chí Tổng Lý.” Hai chữ đồng chí nêu lên mối liên quan ý thức hệ giữa hai đảng Cộng Sản, trong mặt trận vô sản quốc tế chống tư bản.

Với bản văn trên, ông Phạm Văn Ðồng đã ký giấy nhường tất cả vùng biển chung quanh các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Cộng Sản Trung Quốc. Nhưng ông Phạm Văn Ðồng không phải là người quyết định, chính sách của Cộng Sản Việt Nam lúc đó là do Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Bộ Chính Trị quyết định. Cho nên Ðảng Cộng Sản Việt Nam phải chịu trách nhiệm về lá thư này. Ðiều nguy hiểm nhất trong lá thư này là ông Phạm Văn Ðồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó nghĩ tới quyền lợi tổ quốc thì họ phải xác định rõ hơn, nói rõ họ đồng ý những điểm nào và không đồng ý với điểm nào, trong bản tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh.

Công hàm của Thủ tướng Bắc Việt gửi Tổng lý Trung Quốc
ngày 14/9/1958, ngầm công nhận chủ quyền TQ tại Hoàng Sa!

Trong bất cứ cuộc tranh chấp lãnh thổ và hải phận nào, một quốc gia bị xâm phạm có thể dùng quân đội chiếm lại những vùng đã bị nước khác chiếm đóng. Nhưng khi biết mình thế yếu, thì quốc gia bị thiệt thòi phải thưa kiện nước xâm lăng trước tòa án quốc tế. Trước tòa án, chúng ta phải dẫn chứng những bằng cớ trong lịch sử cho thấy vùng đất và vùng biển đã từng thuộc nước mình từ nhiều thế kỷ. Về mặt này thì Việt Nam có rất nhiều bằng cớ vững chắc, bắt đầu với những tài liệu ghi trong Tập san Sử Ðịa năm 1975. Lê Quý Ðôn từ thế kỷ 18 đã xác nhận Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Quảng Ngãi. Các nhà nghiên cứu Việt Nam sau này còn tìm ra nhiều bằng cớ khác. Tại thư viện Anh Quốc còn giữ những bản đồ của người Trung Quốc từ đời Thanh, công nhận các quần đảo Ðại Trường Sa và Tiểu Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam. Một giáo sư sử học khác đã tìm thấy ở văn khố nước Úc những tài liệu sách lịch sử địa lý của Trung Quốc chứng tỏ họ chỉ mới nói đến các quần đảo này từ đầu thế kỷ 20. Các ông Nguyễn Nhã và Dương Trung Quốc đã tìm đến đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré) chiêm ngưỡng đền thờ những người “Lính Hoàng Sa” được lập ra từ thế kỷ 19. Nơi đây, những người lính Việt Nam được “tế sống” trước khi lên đường ra biển tới Hoàng Sa, vì biết chắc không có ngày về. Trên hòn đảo này còn đền thờ họ Phạm, thờ vị tổ Phạm Quang Ảnh, đội trưởng Ðội Hoàng Sa dưới thời vua Gia Long, năm 1815. Ðền thờ có câu đối: “Trung can huyền nhật nguyệt – Nghĩa khí quán càn khôn!”

Nước mắt, máu và mồ hôi của người Việt Nam đã thấm trên các hòn đảo này từ nhiều thế kỷ. Chúng ta không thể để mất các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Dù không đủ quân lực đánh đuổi quân xâm lăng ra khỏi phần đất do tổ tiên để lại, nước Việt Nam phải nêu vấn đề này trên công luận bằng cách kiện chính quyền Trung Cộng ra trước Tòa Án Quốc Tế.

Nếu muốn các bằng cớ của nước ta vững chắc trước dư luận quốc tế, chính phủ Hà Nội phải chính thức gửi một lá thư khác phủ nhận lá thư do ông Phạm Văn Ðồng gửi ông Chu Ân Lai ngày 14 tháng 9 năm 1958. Nếu không thì khi ra trước dư luận cũng như trước tòa án quốc tế, Cộng Sản Trung Quốc có thể trưng bằng cớ là Cộng Sản Việt Nam đã tán thành các “quyết định về hải phận Trung Quốc” từ nửa thế kỷ nay rồi! Không thể nói chung chung về “nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp” để che lấp những lỗi lầm quá khứ và sự hèn nhát bây giờ mãi được. Nếu đảng Cộng Sản không can đảm rút lại lá thư đó, thì người Việt Nam ở trong nước và ngoài nước phải lên tiếng phủ nhận. Người Việt Nam phải tự động gây nên phong trào này, các công dân có quyền và có bổn phận làm những việc công ích, không chờ đợi guồng máy chính quyền mớm lời cho phép. Giống như các sinh viên và giáo sư sử học ở miền Nam đã làm khi xuất bản Tập san Sử Ðịa mà Giáo Sư Phan Huy Lê ca ngợi là “tính khoa học và tính dân tộc là đặc điểm bao trùm tập san.”

Ngô Nhân Dụng
Nguồn: Người Việt, ngày 07/12/2007

————————————————————————————

Re: Hoàng Sa và Trường Sa thuộc Việt Nam (Ngô Nhân Dụng)

“Ðiều nguy hiểm nhất trong lá thư này là ông Phạm Văn Ðồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó. Nếu như đảng Cộng Sản Việt Nam lúc đó nghĩ tới quyền lợi tổ quốc thì họ phải xác định rõ hơn, nói rõ họ đồng ý những điểm nào và không đồng ý với điểm nào, trong bản tuyên bố của chính quyền Bắc Kinh.” (trích lời tác giả Ngô Nhân Dụng)

Tôi xin mạo muội không đồng ý với ông Ngô Nhân Dụng về đoạn trích dẫn trên đây rằng trong công hàm của Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi ông Chu ân Lai ngày 14/9/1958 ông Đồng đã viết rất đại cương, “tán thành” những “quyết định về hải phận Trung Quốc” mà họ đã nêu lên trong bản tuyên bố 10 ngày trước đó.
Sự thật là theo các báo chí quốc tế đã tường trình (và chưa hề nghe đảng CSVN hoặc chính phủ nước CHXHCN Việt Nam phản đối) thì những “quyết định về hải phận Trung Quốc” ngày 4/9/1958 là rất rõ ràng, có kèm theo bản đồ 9 gạch, còn gọi là bản đồ “Lưỡi Rồng Trung Quốc” đã được gửi cho chính phủ VNDCCH của ông Hồ để yêu cầu phía VN cho biết ý kiến. Công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tức là 10 ngày sau) đã trả lời cho quyết định của Trung Quốc về hải phận của họ rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thừa nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Quốc về lãnh hải ngày 4/9/1958”.
Thí dụ như trong bài “Paracels Islands Dispute” đăng trên Báo Kinh Tế Viễn Đông, Far Eastern Economic Review, ngày 10/03/1994, tác giả Frank Ching đã viết như sau:
“On September 4, 1958, the Chinese Government proclaimed the breadth of its territorial sea to be twelve nautical miles which applied to to all territories of the PRC, “including … the Dongsha Islands, the Xisha Islands, the Zhongsha Islands, the Nansha Islands…” Ten days later, Pham Van Dong stated in his note to Zhou Enlai that “the Government of the Democratic Republic of Vietnam recognizes and supports the declaration of the Government of the People’s Republic of China on China’s territorial sea made on September 4, 1958.””
[Xin dịch như sau : Vào ngày 4 tháng 9 năm 1958, chính phủ Trung Quốc ra tuyên bố về bề rộng của lãnh hải Trung Quốc là 12 hải lý và áp dụng cho tất cả các lãnh thổ của CHND Trung Quốc, “kể cả…quần đảo Dongsha, quần đảo Xisha (tức Hoàng Sa), quần đảo Zhungsha, quần đảo Nansha (tức Trường Sa),…”. Mười ngày sau, Phạm Văn Đồng, trong một công hàm gởi Thủ Tướng Chu Ân Lai, viết rằng “chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thừa nhận và ủng hộ tuyên bố của chính phủ nước CHND Trung Quốc về lãnh hải ngày 4/9/1958”].
Như thế rõ ràng là chính phủ VNDCCH của ông Hồ đã thừa nhận với Trung Quốc rằng cả Hoàng Sa lẫn Trường Sa (và toàn bộ khu Biển Đông trên Bản Đồ Lưỡi Rồng do TQ ấn hành năm 1958 và tái bản mấy lần sau đó) đều thuộc lãnh thổ TQ. Đó là lý do tại sao TQ luôn luôn khẳng định là tất cả mọi hoạt động của TQ (như tuyên bố thành lập cơ quan hành chính cấp thành phố, thao dượt quân sự, tổ chức các tour du lịch, thăm dò khai thác kinh tế, v.v…) trên Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn không ra khỏi phạm vi lãnh thổ của chúng tôi”.
Theo tôi, cách tốt nhất đứng về khía cạnh công pháp quốc tế để vô hiệu hóa khẳng định của TQ rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về TQ, là chính phủ nước CHXHCN Việt Nam công khai tuyên bố với toàn thế giới phủ nhận giá trị pháp lý của công hàm 1958 của PVĐ với lý do rằng nước VNDCCH hoàn toàn không có chủ quyền pháp lý trên phần lãnh thổ và lãnh hải VN từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, do đó công hàm ngày 14/9/1958 của Thủ tướng PVĐ gửi TQ “tán thành” với TQ về các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn vô giá trị, vì chủ quyền pháp lý vào lúc đó trên các quần đảo này thuộc về nước VHCH sau khi VN bị chia đôi thành hai nước theo sau Hiệp định Genève năm 1954. Thực tế là như vậy. Và số nước trên thế giới công nhận tư cách pháp lý của VNCH đông gấp hai số nước công nhận VNDCCH. Đây cũng chính là ý kiến đã được nữ giáo sư luật người Pháp là Monique Chevalier nêu ra khi bênh vực cho chủ quyền của VN trên Hoàng Sa và Trường Sa và bác bỏ hoàn toàn các lý lẽ của TQ về chủ quyền của họ trên hai quần đảo này.

Trân kính,
Trúc Lê
(TLuan)

 

Leave a Reply

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: